Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội - một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay

 

TCCS - “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những âm mưu thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn, nhất là thủ đoạn mới của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

“Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian qua. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách hiện nay. Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động sử dụng những thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm hiểm hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng, của quân đội là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; triệt để “khoét sâu” vào những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước để phủ nhận những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới ở nước ta; lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của quân đội vào Đảng; kêu gọi “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”(?!)...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua những "diễn đàn dân chủ"; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội...

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, truyền bá lối sống thực dụng, buông thả, thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, của quân đội, nhằm thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm “nhạt dần” bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, tạo “mảnh đất màu mỡ” cho tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Nguy hiểm hơn, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những bài viết, clip với cường độ, tần suất ngày càng tăng nhằm thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn, kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Họ lợi dụng quân đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, chia rẽ quân đội với nhân dân, với Đảng, nhằm chia rẽ tinh thần đoàn kết “quân với dân như cá với nước”, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, bôi xấu hình ảnh và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”…

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng, do vậy bản chất giai cấp của Nhà nước như thế nào thì bản chất giai cấp của quân đội cũng như thế; không có quân đội siêu giai cấp, đứng ngoài giai cấp, trung lập về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta không được một phút lơ là, chủ quan, bởi trên thực tế, các thế lực thù địch đã từng thực hiện thành công “phi chính trị hóa” đối với quân đội Liên Xô, quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ XX; và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.

Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong những năm qua luôn được coi trọng. Trong lực lượng quân đội, ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ được giáo dục tinh thần cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội. Song, thực tế vẫn còn những hạn chế, có mặt chưa theo kịp với diễn biến của tình hình thực tiễn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ hiểu chưa sâu sắc và chưa đầy đủ về âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Do vậy, còn có những biểu hiện thiếu cảnh giác, bị động, lúng túng khi phải đối mặt với những tình huống khó khăn, phức tạp, nhất là đấu tranh trực diện với những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội đã làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, ở những mức độ nhất định xuất hiện tư tưởng, tâm lý dao động về chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở trong giai đoạn cách mạng mới. Bởi vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch luôn là nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả.

Để làm vô hiệu hóa và đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mọi sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta. Trong khi đó, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp. Do vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là giải pháp có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Theo đó, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với cơ quan, đơn vị.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thăm khu trưng bày sản phẩm của Đoàn Thanh niên các quân, binh chủng, nhà trường trong toàn quân tại Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 - 2027_Ảnh: TTXVN

Tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trọng tâm là thực hiện tốt các quy định của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương gắn với thực hiện sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa”. Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ cao, phẩm chất và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong những năm tới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng các tổ chức trong đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, thiếu gắn kết việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

Hai là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội; tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ.

Đây là giải pháp quan trọng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội. Bởi, sự giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập của những luồng tư tưởng phi vô sản, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nhất thiết phải lấy chính trị của Đảng làm gốc, làm cốt; phải mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, thực hiện mục tiêu cao cả là chiến đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Theo đó, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời với việc coi trọng giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ về chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, nhất là âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó có hiệu quả trước sự chống phá của các thế lực thù địch với các thủ đoạn và tính chất khác nhau. Hình thức, phương pháp giáo dục cần được tiến hành phù hợp, linh hoạt, sáng tạo; trong đó, hết sức coi trọng các hình thức, như: Huấn luyện chính trị, giáo dục thông qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, thông qua phong trào hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các hoạt động khác của công tác tư tưởng, văn hoá...

Ba là, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng quản lý chặt chẽ mọi mặt của các tổ chức, từng con người và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị hằng ngày, hằng giờ của từng cán bộ, chiến sĩ; từ đó kịp thời phát hiện, có những biện pháp ngăn chặn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không tạo những sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá. Muốn vậy, phải thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong từng cơ quan, đơn vị. Cần quản lý về lịch sử chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ của mọi quân nhân. Thực hiện tốt chế độ phân công, phân cấp quản lý; phát huy vai trò của cấp ủy, hệ thống chỉ huy các cấp; tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ; thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức trong đơn vị; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý hành chính theo điều lệnh quân đội; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh trong quân đội là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch nói riêng. Trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, văn nghệ, đọc báo, nghe đài, hội thao, hội thi, nhất là trong các ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm tạo ra đời sống tinh thần phong phú, vui tươi, lành mạnh, đồng thời góp phần phòng ngừa, đẩy lùi sự xâm nhập của các loại ấn phẩm độc hại. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương pháp, tác phong công tác, triệt để khắc phục lối quản lý hành chính đơn thuần, áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu trách nhiệm trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị, không tạo ra “khoảng trống” để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các hoạt động chống phá. Cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ_Nguồn: dangcongsan.vn

Bốn là, tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Đây là giải pháp mang tính thời sự cấp bách hiện nay, bởi đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận cam go, quyết liệt hiện nay. Trong cuộc đấu tranh này, phải tổ chức thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội cách mạng; vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những luận điệu “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”,... của các thế lực thù địch. Đồng thời, tiếp tục khẳng định, quân đội ta ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc đã làm nên truyền thống tốt đẹp “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Thời gian tới, mặc dù tình hình chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt chống phá, nhưng quân đội ta vẫn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, kiên định và tuyệt đối trung thành với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để tổ chức đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, phải chú trọng hơn nữa nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện truyền thông xã hội cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong định hướng nhận diện và đấu tranh kịp thời, có trọng tâm với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy vai trò cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin và định hướng đấu tranh kịp thời, có trọng tâm. Phát huy sâu, rộng vai trò của lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị toàn quân tham gia đấu tranh vạch trần bản chất phản động trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa, nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa, nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới, còn có ý kiến khác nhau từ thực tiễn tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội./.

 

Giá trị bền vững và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

 

(LLCT) - Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, phát triển đã gần 172 năm với bao thăng trầm của lịch sử nhưng vẫn mang trong lòng nó những giá trị bền vững không thể bác bỏ là: Phát triển; Chủ nghĩa nhân đạo triệt để; Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư, hình thái kinh tế - xã hội, CNXH. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới thành công.


1. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin

Kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin dè bỉu rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một học thuyết khoa học mà là một giáo điều giống như kinh thánh mà những người cộng sản phải học thuộc lòng vận dụng ở mọi nơi. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể phát triển, sẽ đi vào ngõ cụt. Điều này hoàn toàn không có căn cứ. Chúng ta đều biết, ngay khi C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, các kẻ thù tư tưởng của các ông cũng đã nói như vậy. Ngay từ năm 1887, trong một bức thư gửi một nữ sĩ người Mỹ bà Phlo-ren-xơ Ken-li-vi-sne-vét-xcai-a, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(1). V.I.Lênin sau này cũng không ít lần nhắc nhở những người cộng sản Nga rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”(2). Chính vì vậy mà V.I.Lênin đã bổ sung nhiều luận điểm lý luận so với thời đại của C.Mác, Ph.Ăngghen. Hồ Chí Minh rất nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(3); “Học để mà làm”(4). Đồng thời, Hồ Chí Minh đã bổ sung nhiều luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp tình hình thực tiễn Việt Nam, chẳng hạn như: cách mạng ở thuộc địa có thể nổ ra trước cách mạng ở chính quốc; đảng cộng sản không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động mà còn đại biểu cho lợi ích của cả dân tộc; thực hiện liên minh công - nông - trí ở Việt Nam,v.v.. Những đảng cộng sản chân chính đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp điều kiện thực tiễn của mỗi nước. Điều đó chứng tỏ phát triển là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển. Nhờ phát triển mà chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại, chính sự tồn tại lại đòi hỏi chủ nghĩa Mác - Lênin phải được phát triển.

Cùng với phát triển thì chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa nhân đạo triệt để nhất. Bởi lẽ, sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng do nhu cầu giải phóng con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Ngoài mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người đàn áp người, chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

 Phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử cũng là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi lẽ, nhân loại đã tìm ra rất nhiều phương pháp nghiên cứu mới nhưng chưa có phương pháp nào thay thế được phương pháp biện chứng duy vật mà chỉ có làm giàu thêm cho phương pháp biện chứng duy vật mà thôi. Còn với quan niệm duy vật về lịch sử thì đúng như Ph.Ănghen đã khẳng định, giống như Đác-uyn đã phát hiện ra quy luật của thế giới hữu cơ, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người(6). Còn V.I.Lênin thì khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”(7). Chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác về bản chất cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội. Trong xã hội thì các quy luật chỉ có thể nảy sinh, tồn tại, vận động thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người. Do vậy, bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người có thể tác động làm cho quy luật nhanh hoặc chậm diễn ra hơn. Đó chính là tính xu hướng thể hiện đặc thù của quy luật xã hội và quan niệm duy vật về lịch sử bao quát được đặc thù này. Cũng vì vậy mà quan niệm duy vật về lịch sử mang giá trị bền vững.

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, internet vạn vật, dữ liệu lớn (Big data), các nhà sản xuất đã sử dụng nhiều robot, dây chuyền tự động hóa nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng suất lao động. Lợi dụng tình hình này nhiều ý kiến cho rằng, học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác cũng như học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin không còn đúng nữa. Tuy nhiên, chúng ta đều rõ nếu không có người công nhân chế tạo, lập trình, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa robot, dây chuyền tự động hóa thì robot, dây chuyền tự động hóa chỉ là đống sắt vụn vô tri, vô giác. Trong mối quan hệ giữa người lao động và máy móc (trong đó có robot, dây chuyền tự động) thì người lao động mà ở đây là người công nhân vẫn đóng vai trò quyết định. Đúng là giai cấp công nhân có sự biến đổi về mặt cơ cấu như công nhân “cổ xanh”, công nhân “cổ cồn”, công nhân “cổ vàng” nhưng họ đều là công nhân, đều là người lao động và thiếu họ thì nền sản xuất hiện đại không thể tồn tại. Do vậy, cái mà tạo ra giá trị thặng dư vẫn là sức lao động sống của người công nhân. Điều này vẫn giữ nguyên giá trị từ những cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn như trên đã nêu. Hơn nữa, xét về mặt kinh tế, người công nhân hiện đại vẫn là người sản xuất chính ra của cải vật chất của xã hội hiện đại. Xét về mặt chính trị, tư tưởng thì chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới là người có thể đoàn kết với nông dân, những người lao động khác và dẫn dắt họ xây dựng được xã hội mà ở đó có công bằng, tự do, bác ái, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Xét về mặt văn hóa, đạo đức, chỉ có giai cấp công nhân hiện đại mới xây dựng được các giá trị văn hóa, đạo đức mới như công bằng, chân, thiện, mỹ, bình đẳng, tôn trọng,v.v.. Do vậy, giai cấp công nhân hiện đại vẫn đóng vai trò sứ mệnh lịch sử toàn thế giới lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bóc lột, áp bức, nô dịch con người. Đúng như C.Mác nói: “trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ sẽ giành được cả thế giới”(8).

Lịch sử vận động, phát triển của nhân loại đã chứng minh, sự phát triển của lịch sử xã hội loài người không theo kiểu duy nhất “kinh tế quyết định”; không theo kiểu “phương Tây là trung tâm”; cũng không theo kiểu “làn sóng thứ ba”. Mặc dù, sự phát triển của các quốc gia, dân tộc là hết sức đa dạng, phong phú nhưng vẫn theo quy luật thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao một cách lịch sử - tự nhiên. Bởi lẽ, những nguyên nhân dẫn tới những sự thay thế này là do những mâu thuẫn bên trong lòng của mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,... Những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ tạo cho sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội mới. Quá trình này diễn ra không phụ thuộc vào ý chí, mong muốn của con người. Do vậy, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(9). Cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn đều chứng tỏ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị.

Mặc dù CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, nhưng như vậy không có nghĩa là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH sụp đổ. Không thể đồng nhất sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH. Đây là sự sụp đổ của một mô hình CNXH giáo điều, cứng nhắc, bảo thủ, không đổi mới; sự sụp đổ của nhận thức sai lầm, giáo điều về CNXH. Hơn nữa, sự tồn tại, đổi mới, mở cửa, phát triển của CNXH ở Cu Ba, Lào, Việt Nam, v.v.. cũng chứng tỏ CNXH với tư cách là một lý tưởng, một chế độ chính trị, một phong trào hiện thực vẫn tồn tại và phát triển. Do vậy, có thể khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vẫn là một giá trị bền vững.

2. Ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ.

Thời đại ngày nay đang có nhiều biến đổi ngày càng khó lường, nhiều học thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng tìm cách len lỏi vào phong trào công nhân, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho giai cấp công nhân hiện đại và nhân loại tiến bộ. Với lý luận hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, với phương pháp biện chứng duy vật và quan niệm duy vật về lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn trang bị cho giai cấp công nhân hiện đại cách tiếp cận khoa học, khách quan về thế giới đương đại cũng như con đường giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân. Trên cơ sở tiếp cận khách quan, khoa học, giai cấp công nhân với phương pháp luận khoa học biện chứng sẽ nhận thức rõ quy luận vận động của lịch sử loài người. Trên cơ sở đó, tin tưởng vào tương lai của nhân loại một cách có căn cứ. Dù thế giới có đổi thay, dù khoa học công nghệ có biến đổi nhanh, khó lường, dù chủ nghĩa đế quốc không từ thủ đoạn nào chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, giai cấp công nhân hiện đại vẫn tin vào chính chủ nghĩa Mác - Lênin, tin vào tương lai tươi sáng của nhân loại, tin vào con đường giải phóng mình và giải phóng nhân loại tiến bộ.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học duy nhất đáp ứng yêu cầu giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức.

Thực tế gần 172 năm phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và gần 103 năm phát triển của CNXH hiện thực đã chứng tỏ, cho đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng nhiệm vụ lịch sử giải phóng triệt để con người mà chưa học thuyết nào có thể thay thế được. Đã xuất hiện nhiều lý thuyết, nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều học thuyết đặt ra nhiệm vụ giải phóng con người, nhưng về cơ bản đều là những học thuyết, trào lưu không đáp ứng yêu cầu giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân một cách triệt để, khoa học, thực tiễn. Chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ mục đích ra đời đã vì sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân với những con đường, biện pháp, cách thức khoa học, thực tiễn mới đủ cơ sở để giải phóng giai cấp công nhân. Một số tôn giáo cũng muốn giải phóng con người nhưng phải sau khi chết mới được giải phóng thực sự. Chủ nghĩa Mác - Lênin hướng vào giải phóng con người hiện thực và đền bù cho con người hiện thực đang sống, đang hoạt động thực tiễn. Mọi lập luận, lý giải của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ nhằm phục vụ cho việc giải phóng con người, trước hết là giải phóng giai cấp công nhân khỏi mọi hình thức nô lệ, áp bức, bóc lột, nô dịch. Vậy mục đích này có gì sai với mưu cầu, ước vọng, hoài bão của loài người chân chính? Phải chăng nó sai ở chỗ nó muốn đạp đổ mọi hình thức người áp bức người, người nô dịch người, người đàn áp người. Khi ấy nó động chạm vào lợi ích của những kẻ đi nô dịch, thống trị, áp bức, đàn áp. Chính vì vậy, mà các giai cấp thống trị, nô dịch, đàn áp, áp bức tìm mọi cách chống phá, xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết muốn lật đổ sự thống trị của các giai cấp thống trị này?! Có thể nói, sự chống phá quyết liệt của những kẻ thống trị đối với chủ nghĩa Mác - Lênin phần nào cũng nói lên tính khoa học, nhân văn, cách mạng của chính chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học trang bị cho ta phương pháp luận nhận thức đúng đắn xu thế của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Với phương pháp biện chứng, thế giới quan duy vật, lý luận hình thái kinh tế-xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rằng từ trong lòng của chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ nảy sinh những điều kiện, tiền đề về khoa học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực cho sự ra đời của một xã hội mới tốt đẹp hơn - đó là CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Các nước tư bản hiện đại có sự tăng trưởng kinh tế và có sự phát triển về nhiều mặt. Những thành tựu này chính là thành tựu của nhân loại tồn tại dưới chủ nghĩa tư bản. Đây không phải là thành tựu của riêng chủ nghĩa tư bản. Hơn nữa, đúng như một nhận định của một giáo sư người Anh: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(10). Chủ nghĩa tư bản ngày nay đạt nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học-công nghệ, giáo dục nhưng chủ nghĩa tư bản không bao giờ giải quyết được một cách triệt để những vấn đề bất công xã hội, đói nghèo của một bộ phận dân cư, kiểm soát vũ khí, hủy hoại môi trường tự nhiên,v.v.. Bởi do lợi ích của giai cấp thống trị không cho phép họ giải quyết một cách triệt để những vấn đề này.

Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản trong lựa chọn con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ cuối 1845 đầu 1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một ý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”(11). Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho những người cộng sản lựa chọn, tìm tòi con đường xây dựng CNXH trên đất nước của mình. Những con đường, biện pháp ấy phải được tìm thấy từ trong thực tiễn mỗi quốc gia, dân tộc, chứ không thể tìm từ một ý tưởng nào đó rồi bắt hiện thực khuôn theo. Chính phương pháp luận này là do chủ nghĩa Mác - Lênin mang lại. Do vậy, với phương pháp luận này những người cộng sản chân chính sẽ vận dụng sáng tạo, thành công những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nhận thức mô hình và con đường xây dựng CNXH trên quê hương của mình.

Chủ nghĩa Mác - Lênin trang bị cho những người cộng sản Việt Nam phương pháp luận khoa học để thực hiện đổi mới thành công.

Nhờ vận dụng đúng đắn thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút kinh nghiệm từ cải tổ của Liên Xô, quán triệt tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được mô hình CNXH Việt Nam với tám đặc trưng bản chất; tám phương hướng xây dựng CNXH và chín mối quan hệ lớn cần giải quyết. Đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vứng trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết tốt nhiều vấn đề thực tiễn nảy sinh như xóa thế bao vây cấm vận, mở rộng đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân có điều kiện; chú trọng xây dựng đảng về đạo đức; phát triển kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN,v.v.. Nhờ vậy, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đạt nhiều thành tựu rất đỗi tự hào. Những thành tựu này có nhiều nguyên nhân, trong có có nguyên nhân Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên quyết trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn nảy sinh.

Như vậy, có thể khẳng định, thực tiễn có nhiều đổi thay, khoa học, công nghệ có nhiều đột phá, phong trào cách mạng có nhiều biến động nhưng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị. Có thể có những luận điểm riêng biệt nào đó do thực tiễn đổi thay phải được bổ sung, phát triển nhưng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng bền vững. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho chúng ta nhận thức và giải quyết những vấn đề thực tiễn của thế giới đương đại; xây dựng CNXH và thực hiện sự nghiệp đổi mới vì CNXH.

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

Bảo vệ giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”

 

 

Giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” là sự kết tinh những giá trị văn hóa – chính trị – đạo đức của thời đại, là sự tiếp nối truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nét đặc trưng của giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thể hiện ở sự tận trung với Đảng, với nước, trọn hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

NHẬN DIỆN CÁC CHIÊU TRÒ “NHÂN DANH NHÂN DÂN” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

 


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã núp dưới chiêu bài “nhân danh nhân dân” để thực hiện các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm những quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, hòng chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Hành vi “nhân danh nhân dân” của họ có một số biểu hiện:

HỌC TẬP SUỐT ĐỜI LÀ CHÌA KHÓA ĐỂ VIỆT NAM TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, để Việt Nam phát triển bền vững trong thời đại tri thức, toàn dân cần học tập suốt đời và cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Tổng Bí thư Tô Lâm vừa có bài viết Học tập suốt đời, nhấn mạnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu, nhu cầu, nhiệm vụ, suy nghĩ và hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là cán bộ, đảng viên. "Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng", Tổng Bí thư viết.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, nhu cầu, nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả. Việt Nam đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất.

Những tấm gương tự học tiêu biểu, từ nông dân, người lao động đến cán bộ, giáo viên, đã chứng minh sự sáng tạo và đóng góp không ngừng cho cộng đồng. Nhiều người đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa ra nhiều sáng kiến có giá trị thực tiễn cao. Có người ở tuổi "thất thập cổ lai hy" nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo. Những điều này đã góp phần đưa đất nước "đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới".

Tuy nhiên, Tổng Bí thư chỉ ra việc thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số hạn chế. Việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn.

Tổng Bí thư cho rằng còn tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, hoặc chạy theo việc học chỉ để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến. Một bộ phận không có khái niệm học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với "guồng quay" hối hả của nhịp sống "vũ bão" thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Cần cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh

Người đứng đầu Đảng nhấn mạnh đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để "sánh vai" với thế giới. Do đó, cán bộ cần có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt là trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh; hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ông nói cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm. Những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và 65% công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới.

"Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung. Tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại", Tổng Bí thư viết.

Ông cho rằng học tập suốt đời giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại. Đây cũng là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững.

Tổng Bí thư nhấn mạnh chỉ khi thực sự đẩy mạnh học tập suốt đời thì đất nước mới có nhân lực đủ tri thức và bản lĩnh để giải quyết những thách thức cấp bách, những vấn đề mới mẻ; gỡ bỏ những rào cản trong cơ chế, chính sách, loại bỏ sự hình thức trong tự phê bình; chấm dứt tình trạng trì trệ, lúng túng trong công việc. Học tập suốt đời giúp đất nước có đội ngũ cán bộ dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân.

Ban hành quy định sàng lọc cán bộ

Theo Tổng Bí thư, học tập suốt đời giúp người dân nâng cao nhận thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm chủ cuộc sống, phát triển bản thân, gìn giữ văn hóa dân tộc và nuôi dưỡng khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh.

Ông đề nghị mỗi công dân không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp. Mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào "học tập số", phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng.

Tổng Bí thư cho biết Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng "vượt rào" đột phá vì lợi ích chung.

Hệ thống giáo dục cũng tiếp tục được hoàn thiện theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Đảng, Nhà nước sẽ có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Theo Tổng Bí thư, trong thời đại hiện nay, tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững. Đây cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân.

Vì vậy, "chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, thì đất nước mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng".

 

Cảnh giác trước những luận điệu giả danh phản biện xã hội

 

Phản biện xã hội là một hình thức thể hiện tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến

một cách có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ và ý thức trách

nhiệm của công dân. Ở Việt Nam, phản biện xã hội ngày càng được mở rộng

nhằm thúc đẩy việc xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hóa đời

sống xã hội, cũng như phát huy trí tuệ cộng đồng. Tuy nhiên một số tổ chức, cá

nhân đã và đang lợi dụng quyền này để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước

gây bức xúc dư luận, đòi hỏi cần phải kịp thời vạch trần và lên án.

THỦ ĐOẠN PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

 Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là nguyên tắc cơ bản, là nguồn gốc quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội trong mọi thời kỳ cách mạng. Đây là vấn đề có tính quy luật khách quan, một trong những nguyên tắc xây dựng quân đội ta hiện nay và đồng thời là bài học kinh nghiệm rút ra từ cách mạng Việt Nam và thế giới.

Hiện nay cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đang diễn ra hết sức phức tạp. Trước sự diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, vấn đề khủng bố, li khai xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo. Tình hình trong nước kẻ thù đang lợi dụng những vấn đề nhạy cảm để chống phá như gây kích động mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây mâu thuẫn giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.... Đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, mặt trái kinh tế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó là sau khi CNXH ở Liên xô, Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Nhất là âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi là trọng điểm chống phá nhằm xóa bỏ chế độ XHCN; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN; với chiêu bài tự do hóa chính trị, tự do hóa kinh tế, đòi đa nguyên, đa Đảng và đặc biệt là nhằm “Phi chính trị hóa Quân đội”.

“Phi chính trị hóa Quân đội” là một trong những thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Thực chất của nó là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng đối với Quân đội, làm biến chất Quân đội, hay nói cách khác là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, là cơ sở tiền đề để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Thật vậy, mỗi khi Việt Nam diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội Đảng, chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, sửa đổi Hiến pháp, ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và quân đội…, bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau, không ít cá nhân, tổ chức thù địch lại hợp xướng “bài ca muôn thuở” - đồng loạt tung ra những luận điệu cũ rích đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đòi “phi chính trị hóa” quân đội... Các thế lực thù địch xảo biện và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh đạo quân đội là do nhu cầu lịch sử của công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và thống nhất đất nước hơn 50 năm, Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” và không cần sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, hiện nay, quyền lãnh đạo đất nước cần phải chia sẻ cho các lực lượng khác bằng cách thực hiện đa đảng hoặc trao cho cái gọi là “lực lượng dân chủ cấp tiến”; rằng, quân đội phải “trung lập”, quân đội phải “đứng ngoài chính trị”.

Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Không chỉ những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới lại càng trở nên bức thiết. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới, cần nắm vững và thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ.

Hai là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đủ năng lực lãnh đạo toàn diện, có sức chiến đấu cao.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội theo hướng tổng hợp, phù hợp với yêu cầu mới.

Bốn là, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với lực lượng vũ trang, chính sách hậu phương quân đội.

Năm là, tăng cường mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, kiên quyết vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch.

Là người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng quân đội có sức mạnh vô địch là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng về mọi mặt đối Quân đội nhân dân Việt Nam; bảo đảm cho quân đội thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là một nguyên tắc căn bản, là nguồn gốc chủ yếu, quyết định mọi thắng lợi và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, đó là nguyên tắc bất di, bất dịch. Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, Đảng định ra cơ chế lãnh đạo cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Cơ chế lãnh đạo là một bộ phận của phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, có vai trò đặc biệt quan trọng bảo đảm cho Quân độ ta luôn mang bản chất giai cấp; trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Hiện nay chúng ta đang xây dựng quân đội theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản trong cơ chế 51 của Bộ chính trị đã đề ra./.

 

NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN “CHỦ NGHĨA CƠ HỘI” HIỆN NAY

Chủ nghĩa cơ hội thời kỳ nào cũng có, nhưng thường xuất hiện công khai và phát triển vào lúc cách mạng gặp khó khăn; khi các quan hệ xã hội có những biến đổi mang tính bước ngoặt. Gần đây, trong các văn kiện của Đảng nhắc nhiều tới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, tư tưởng cơ hội, các phần tử cơ hội chính trị... Điều đó chứng tỏ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở nước ta hiện nay là nhiệm vụ rất quan trọng. Điều đó đặt ra cho chúng ta cần nhận diện “Chủ nghĩa cơ hội” để có ứng xử cho phù hợp.

Khi con người phân chia giai cấp, sẽ có mộ bộ phận cơ hội để mang lại lợi ích cho cá nhân. “Chủ nghĩa cơ hội” đã xuất hiện từ khi lịch sử loài người phân chia giai cấp. Biểu hiện nổi bật của những người theo chủ nghĩa cơ hội đó là thường có lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu kiên định, bản lĩnh chính trị yếu kém, có tư tưởng chung chung né tránh trước những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra của đất nước. V. I. Lênin cho rằng, chủ nghĩa cơ hội quốc tế được biểu hiện dưới nhiều màu sắc, nhiều dạng, nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc điểm của từng quốc gia dân tộc, nhưng chúng giống hệt nhau về nội dung, bản chất chính trị - xã hội, đó là: tính không kiên quyết, tính vô nguyên tắc, tính không rõ ràng, lờ mờ, quanh co. Sở dĩ có hiện tượng những người mác-xít, những người hoạt động trong đảng công nhân rơi vào chủ nghĩa cơ hội là do họ có sự do dự, thiếu kiên định, dao động và lừng chừng về chính trị. Chính vì vậy, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế” .

Biểu hiện của những kẻ mang chủ nghĩa cơ hội trong những năm qua ở nước ta, đó là:

Thứ nhất, coi trọng lợi ích các nhân, bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân; tìm mọi cách để vun vén và hợp lý hóa lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc.

Thứ hai, say mê quyền lực, địa vị, coi đó như một thứ có thể trao đổi, mua bán để tiến thân. Từ đó mà tì cách để luồn lách, nịnh bợ để lấy lòng cấp trên, để tranh thủ ủng hộ của mọi người mỗi khi cần.

Thứ ba, kéo bè, kết cánh, lôi kéo trên dưới, trong ngoài; tìm mọi cách để hợp lý hóa việc “chạy chức”, “chạy danh”, “chạy chỗ”, “chạy bằng cấp” và khi bị phát hiện thì tìm cách giải thích để không bị xử lý.

Thứ tư, lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người cùng lợi ích vào nắm những chức vụ trong cơ quan, mà không chịu chọn những người có đủ đức, tài. Chủ nghĩa cơ hội để lại nhiều hệ lụy trong quá trình công tác.

Để chống lại chủ nghĩa cơ hội có hiệu quả cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị các cấp cần tiếp tục tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức rõ bản chất, những biểu hiện cụ thể của những người có khuynh hướng “chủ nghĩa cơ hội”.

Hai là, nâng cao phê bình, tự phê bình trong nội bộ các tổ chức đảng, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân để giáo dục, rèn luyện, quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, luôn trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; luôn luôn cảnh giác trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch; bản thân không bị suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động ngăn ngừa để không vi phạm những biểu hiện cơ hội chính trị.

Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tiến hành chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những người có biểu hiện cơ hội chính trị; không để những người này “chui sâu”, “leo cao” vào trong bộ máy của Đảng, chính quyền các cấp./.

  

BẰNG CHỨNG SINH ĐỘNG PHỦ NHẬN SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH “ĐẢNG KHÔNG VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN”

 Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986.

Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH.

 

Văn hoá ứng xử khi va chạm giao thông


 

Va chạm giao thông là điều không ai mong muốn song có thể xảy ra với

bất kỳ ai trên đường. Tuy nhiên, điều đáng nói là cách ứng xử giữa những người

tham gia giao thông với nhau khi xảy ra những tình huống như vậy để không

dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.

VƯƠN MÌNH BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Gần đây các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” để xuyên tạc và “định hướng dư luận” là đã đến lúc phải xóa bỏ “điểm nghẽn” của điểm nghẽn đó. Chúng ta cũng cần khẳng lại một sự thật chắc chắn rằng, “điểm nghẽn của điểm nghẽn” ở Việt Nam không phải là Đảng Cộng sản, bởi “mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản” đã được ghi rõ trong Điều lệ Đảng.

KIÊN ĐỊNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Gần 95 năm về trước, ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng ta đã khẳng định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Theo đó cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền (giành độc lập dân tộc; mang lại ruộng đất cho dân cày) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) (xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản). Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH - Ý Đảng và khát vọng của lòng Dân gặp nhau đã bồi tụ nên nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945).

Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; bằng công tác cán bộ và hoạt động của các tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo đúng tinh thần “các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Hiến pháp năm 2013 quy định. Cho nên, cũng không có cái gọi là Đảng “tự đặt mình lên trên Hiến pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc để chống phá Đảng và chế độ...

VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI ĐỂ GIỮ VỮNG MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đảng ta vừa khẳng định đi lên CNXH là xu thế không thể đảo ngược (mặc dù tình hình khu vực, thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến hết sức phức tạp) và cơ chế hoạt động chính trị luôn được củng cố, giữ vững là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”, vừa tiến hành đổi mới tư duy trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật từ Đại hội VI (12/1986). Việc đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý của nhà nước; cơ chế nhân dân làm chủ không chỉ giữ vững sự ổn định về chính trị, mà còn góp phần để đất nước đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội và tiếp tục tiến những bước hết sức ngoạn mục.

Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, Việt Nam tiếp tục đổi mới trong bối cảnh thế giới đang nhiều thay đổi có tính thời đại và đất nước cũng đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng một nước Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc, song đó không phải là “con đường toàn trị”, “tiếp tục chính sách đàn áp các tiếng nói bất đồng” như các thế lực thù địch bôi đen. Mà đó là nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam... chứ không chấp nhận dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập, tổ chức xã hội dân sự và càng không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

 

TĂNG CƯỜNG AN NINH CỦA VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 Bước vào kỷ nguyên mới đòi hỏi phải phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, đồng bộ mọi mặt của đời sống xã hội và phải vươn lên trên tất cả các lĩnh vực; trong đó, việc tăng cường an ninh, đối ngoại cần được đặc biệt quan tâm vì là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tăng cường an ninh là làm cho lực lượng an ninh mạnh thêm để bảo đảm sự ổn định, bình an của xã hội, của đất nước. Các nhiệm vụ và nội dung chính của tăng cường an ninh là:

Thứ nhất, tăng cường an ninh về chính trị.

Đây là điều cốt yếu, xuyên suốt của an ninh đất nước, an ninh chế độ. Trọng tâm trong tăng cường an ninh chính trị là bảo vệ vai trò, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; là bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an toàn xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Đấu tranh có hiệu quả và vô hiệu hóa mọi hoạt động thâm nhập, khủng bố, phá hoại của các tổ chức phản động, âm mưu can thiệp lật đổ từ bên ngoài; ngăn chặn không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh xử lý các âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường đấu tranh có hiệu quả đối với các luận điệu sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên các phương tiện truyền thông xã hội. Quản lý một cách hiệu quả các hoạt động văn hóa, tư tưởng, chống các biểu hiện lệch lạc. Tuyên truyền, định hướng cho quần chúng nhân dân về các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngăn chặn và xử lý kịp thời các đối tượng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bảo đảm an sinh, an toàn tuyệt đối các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các mục tiêu trọng tâm, các hoạt động đối ngoại, các sự kiện trọng đại của đất nước, bảo đảm Việt Nam là một điểm đến an toàn cho bạn bè quốc tế, là đất nước thanh bình.

Thứ hai, tăng cường an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh mạng, an ninh con người, ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh phi truyền thống, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Kịp thời phát hiện và xử lý các nguy cơ đe dọa đối với nền kinh tế đất nước; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng và công cuộc đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế; điều tra khám phá kịp thời và xử lý nghiêm minh các tội phạm về tham nhũng, thu hồi tài sản cho Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng. Thể hiện vai trò xung kích trong bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng, bảo đảm an toàn hệ thống thông tin quốc gia. Tăng cường bảo đảm an ninh con người, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của an ninh trong tình hình mới. Chủ động nắm bắt và ứng phó kịp thời với các yếu tố an ninh phi truyền thống, bảo đảm sự bình yên, ổn định của đất nước.

Thứ ba, tăng cường tiềm lực an ninh với việc củng cố vững chắc nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân, xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

Nền an ninh nhân dân được tăng cường, chăm lo, xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, hội tụ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân, niềm tin chính trị, ý thức trách nhiệm công dân của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Xây dựng nền an ninh nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường xây dựng lực lượng công an nhân dân theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Bộ Công an tiếp tục tiên phong trong việc sắp xếp bộ máy tổ chức tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả với phương châm “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, bảo vệ vững chắc nền an ninh đất nước, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, lãnh thổ, an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh con người.

 

CHỐNG “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ VỀ CHÍNH TRỊ” TRONG ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO CÁC CÔNG TY, XÍ NGHIỆP


 

Khi nói về mối quan hệ giữa những người cộng sản với toàn thể những người vô sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào”. Đó là chân lý hiển nhiên, là lẽ bình thường mà những người cộng sản chân chính cách mạng phải hiểu và vận dụng. Nhưng trên thực tế, ngay từ thời C.Mác đã có những “lý luận gia” và không ít những nhà hoạt động chính trị thờ ơ với các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản. Họ coi các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản như là một sự vụn vặt, thấp kém, trái với nguyên tắc và mục đích tối cao, cuối cùng của đảng cộng sản. Họ cho rằng mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước, vì vậy “Giai cấp công nhân không cần phải tự tổ chức thành chính đảng; giai công nhân không được viện bất cứ lý do gì để làm chính trị, vì tiến hành đấu tranh chống nhà nước tức là thừa nhận nhà nước và như vậy là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu! Công nhân không nên tiến hành bãi công, vì phí sức mình để giành cho được tăng lương hoặc để ngăn chặn hạ lương có nghĩa là thừa nhận chế độ làm thuê, như thế là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu của việc giải phóng giai cấp công nhân...”. C.Mác gọi đó là “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”.

TĂNG CƯỜNG ĐỐI NGOẠI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Tăng cường đối ngoại là làm cho toàn hệ thống đối ngoại, ngoại giao được mạnh thêm để tăng cường quan hệ với các nước trên thế giới một cách có hiệu quả, bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tăng cường đối ngoại thể hiện trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, phát huy và tăng cường vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định : “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(2). Tiên phong thể hiện trước hết trong việc không ngừng đổi mới tư duy về đối ngoại, trong nhận thức về thế giới, định vị đất nước, quan hệ đối tác - đối tượng, mạnh dạn tìm ra hướng đi mới, cách làm mới, mở rộng lĩnh vực mới để đáp ứng yêu cầu của đất nước; tiên phong trong công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại. Tiên phong trong những nhiệm vụ quan trọng, như bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; trong việc kiến tạo để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài.

Thứ hai, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Trong cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại mang bản sắc “cây tre Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đất nước ta đã xây dựng một nền ngoại giao độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam... Vững ở gốc là nguyên tắc vì lợi ích quốc gia - dân tộc để phục vụ đường lối độc lập, tự chủ, lấy thực lực là gốc, lấy đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để tạo thế, lập thời, lấy phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng soi đường, chỉ lối... Chắc ở thân là những phương thức tạo nên sức mạnh; trong đó, sức mạnh đại đoàn kết là nhân tố sống còn; đại đoàn kết trong nước là căn bản, đoàn kết quốc tế là nhân tố bổ trợ hết sức quan trọng... Uyển chuyển ở cành là phong cách, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đặc biệt là trong những tình huống khó khăn, phức tạp... Đó là cách ứng xử “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “biết dừng, biết tiến” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Thứ ba, tăng cường tiềm lực về chính trị.

Đối ngoại, ngoại giao là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị nên phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế; trong đó, sức mạnh dân tộc thể hiện ở sức mạnh tập thể cả vật chất và tinh thần. Đối ngoại, ngoại giao dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sự đoàn kết của cả hệ thống chính trị tạo nên một cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Tăng cường tiềm lực đối ngoại, ngoại giao cũng là tăng cường trang - thiết bị tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới. Chủ trương xây dựng tổ chức, bộ máy và đào tạo cán bộ cả về trình độ năng lực, nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống; nâng cao trình độ dự báo đúng tình hình và tham mưu xác đáng phục vụ nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh.

Để thực hiện tiếp những nhiệm vụ quan trọng nêu trên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cần có cách làm và bước đi đúng đắn trên cơ sở “biết mình, biết người”, “trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu”, nhận rõ cơ hội và thời cơ, thách thức và nguy cơ; xây dựng và thực hiện các chính sách tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại đúng đắn, bảo đảm cho đất nước ổn định, thích nghi và phát triển trong thế giới đầy biến động hiện nay. Việc đầu tiên là phải biết mình, biết người. Biết mình là nhận rõ vị trí, vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế, tiềm năng và tiềm lực của đất nước, nắm chắc tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước đang ở mức nào và khả năng mọi mặt để tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại cao nhất, trung bình và thấp nhất có thể. Biết người chính là biết các đối tác, đối tượng có quan hệ với ta, vai trò, vị thế của các đối tác, đối tượng và sự tác động tổng hợp các yếu tố thuận và không thuận đối với nước ta.

Vấn đề cơ hội và thời cơ, thách thức và nguy cơ cũng cần nhìn nhận thấu đáo. Cơ hội là những điều kiện thuận lợi, những hoàn cảnh tốt đẹp từ trong nước và nước ngoài. Còn thời cơ được coi như đỉnh điểm của cơ hội, là tình huống đặc biệt thuận lợi, thậm chí có một không hai, tạo điều kiện cho việc hoạch định và thực hiện chính sách nhanh chóng, đạt hiệu quả về mặt thời gian; thời cơ diễn ra rất ngắn, rất nhanh so với cơ hội.

Cặp đôi tương ứng với cơ hội và thời cơ là thách thức và nguy cơ. Thách thức là tình huống gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, trắc trở, gian nan, thử thách bản lĩnh, ý chí của con người. Còn nguy cơ là biểu hiện cao nhất của thách thức, là tình thế đặc biệt nguy hiểm, cực kỳ cấp bách, nếu không biết cách xử lý tốt, ứng phó kịp thời thì sẽ gặp tai họa.

Phương pháp khoa học và kinh nghiệm máu thịt của ông cha ta là bài học quý giá để chúng ta nắm chắc phương pháp và cách thức xử lý để đưa ra các chính sách tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại chính xác, hiệu quả, bảo đảm cho đất nước bình an, hài hòa, vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

 

LÝ TƯỞNG, NIỀM TIN CỦA THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

 Lý tưởng xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bước vào công cuộc đổi mới, trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, lý tưởng cách mạng của thanh niên là tiếp tục phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong xã hội và trong mỗi người, niềm tin không bỗng nhiên mà có, nó phải được hình thành và vun đắp lâu dài trên nền tảng giá trị và lợi ích, bằng sự chân thành, nhân ái, sẻ chia và minh bạch trong cộng đồng. Nếu không có niềm tin sâu sắc và cháy bỏng: niềm tin vào lý tưởng chân chính của dân tộc, niềm tin vào lý tưởng và sự lãnh đạo của Đảng, niềm tin vào chiến thắng của cách mạng... thì những thế hệ thanh niên Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống đế quốc xâm lược là Pháp và Mỹ, sẽ không thể thực hiện được lý tưởng cao đẹp ấy.

Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự hưởng ứng vào niềm tin đó của thanh niên ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc để hình thành nên và thúc đẩy niềm tin của nhân dân với Đảng, của Đảng với nhân dân.

Vì vậy, niềm tin của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, vẫn tiếp nối ngọn lửa từ thế hệ cha anh, là niềm tin cách mạng, niềm tin vào sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Niềm tin cách mạng là sự hòa quyện giữa nhận thức lý tưởng với tình cảm và ý chí, trở thành động lực tinh thần giúp thanh niên vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức phấn đấu theo con đường, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Dưới bất cứ hình thức nào thì lý tưởng, niềm tin của thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay cũng phải xuất phát từ lý tưởng, niềm tin của Đảng. Tuổi trẻ phải ra sức học tập, lao động, rèn luyện để ngày càng tiến bộ, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững các thành quả cách mạng, thực hiện được mục tiêu cao cả: xây dựng Tổ quốc ta ngày càng giàu mạnh, đất nước ta ngày càng hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

 

NHẬN THỨC RÕ VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở nước ta hiện nay. Các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện “diễn biến hoà bình”, theo các hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, Dùng hệ thống truyền thông, tin học toàn cầu tác động liên tục, bền bỉ vào các nước xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc hệ tư tưởng, phủ nhận những thành tựu, cường điệu những khuyến điểm, tuyên truyền những giá trị của chủ nghĩa tư bản. Từ đó, đầu độc về tư tưởng, làm đảo lộn nhiều tư duy, khái niệm làm chuyển hoá dần tư tưởng của nhân dân nhất là giới trẻ và cả tư tưởng của một bộ phận lãnh đạo.

Thứ hai, Xây dựng, tiếp tay cho các lực lượng phản động, liên lạc với bọn phản động đội lốt tôn giáo, dân tộc…những phần tử bất mãn, đầu cơ chính trị, cài cắm gián điệp, nội gián…để hình thành lực lượng chống đối từ bên trong.

Thứ ba, Dùng đầu tư, viện trợ kinh tế và sử dụng ưu thế về khoa học và công nghệ tiến hành thay đổi nền kinh tế, gây sức ép đẩy nhanh quá trình tự do hoá, tư nhân hoá kinh tế, thông qua kinh tế để chuyển hoá chính trị. Dùng hệ thống tài chính, tiền tệ mạnh xâm nhập vào trong nước, làm công cụ khống chế, cải tổ hệ thống tài chính tiền tệ theo hướng tư bản chủ nghĩa.

Thứ tư, Tác động trực tiếp vào lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa, ủng hộ những con người cụ thể, có khả năng hợp tác với phương Tây. Trên hướng này, chủ nghĩa đế quốc lợi dụng triệt để những mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo các nước, phân hoá, cô lập những người tốt, khuyến khích, ủng hộ những người có quan điểm hữu khuynh, có xu hướng cấp tiến, theo hướng dân chủ đa nguyên chính trị và kinh tế thị trường dựa trên cơ sở tư nhân hoá.

Tóm lại, chiến lược “diễn biến hoà bình” là sử dụng tổng hợp các biện pháp tư tưởng, tổ chức, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao và hoạt động ngầm để tấn công chủ nghĩa xã hội trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp tư tưởng, kinh tế, ngoại giao, được đặc biệt coi trọng như là công cụ để “mở cửa" đi vào trong nước, kích động các nhân tố bên trong nổi dậy thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Đây là những thủ đoạn vô cùng xảo quyệt và hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch hiện nay. Nếu các nước xã hội chủ nghĩa lơ là cảnh giác và không đánh bại âm mưu và hoạt động của chúng thì có khả năng tan rã Đảng Cộng sản, làm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI ĐẢNG

 Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị gia tăng các hoạt động tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá. Đáng lưu ý một số đối tượng mang danh “nhân sĩ, trí thức” đã lợi dụng danh nghĩa “Đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước” để đưa ra cái gọi là “Bức tâm thư, góp ý với lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam về việc chuẩn bị Đại hội XIV”. Theo đó, họ hô hào “Kỷ nguyên mới phải là kỷ nguyên dân chủ cho dân tộc Việt Nam vươn mình”, kêu gọi Đảng, Nhà nước Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng… Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm mà chúng ta phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh.

Lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIV của Đảng, một trong những nội dung công việc hệ trọng. Do đó, chúng ta không thể để những quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc tác động, chi phối, đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội. Một trong những yêu cầu đặt ra là cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác để đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị...

Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay”, mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin sai trái, xấu, độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta... Chúng cho rằng, đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý có trách nhiệm và tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm.

Mục tiêu của những giọng điệu trên vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá ấy.

 

“VÙNG CẤM” – GIỮ VỮNG KỶ CƯƠNG, CỦNG CỐ NIỀM TIN

 

Chống tham nhũng là cuộc chiến cam go, thậm chí có cả hy sinh. Tham những làm xói mòn niềm tin quần chúng, kể cả đảng viên “gạo cội” cũng có lúc dao động. Còn với kẻ thù thì đây là cơ hội để chống phá nhưng với bản lĩnh và quyết tâm của Đảng, cuộc chiến này sẽ thắng!

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


           Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị đang ngày càng lợi dung không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch với mục đích nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta, làm mất lòng tin của quần chúng Nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu sai trái thù địch trên không gian mạng vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt với trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhiệm vụ này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta


Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhờ vậy, trí tuệ của Đảng và đảng viên được phát huy, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được giữ vững, bảo đảm cho Đảng ta luôn là một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 

 

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm đảm bảo cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã ra nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Như vậy Đảng ta khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Do đó tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay: