Thứ Ba, 4 tháng 3, 2025

Cảnh giác với luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch về công tác cán bộ

 Cảnh giác với luận điệu xảo trá của các thế lực thù địch về công tác cán bộ

Dễ dàng nhận thấy hiện nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá cách mạng Việt Nam bằng nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau. Từ ngụy tạo hoặc nhân danh chiêu bài đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền đến mượn cớ bảo vệ môi trường… để kích động các thành phần bất hảo có tư tưởng cực đoan nhằm tập hợp lực lượng, lập các hội, nhóm chống đối. Với chiêu bài lu loa rằng Việt Nam vi phạm dân chủ, vi phạm nhân quyền trong bình đẳng giới. Vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ; hay xuyên tạc dưới chế độ “đảng trị”, phụ nữ Việt Nam đang có bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, bất bình đẳng về thu nhập và vị trí việc làm. Cụ thể: Ngày 01/11/2024, trên trang mạng của tổ chức khủng bố “Việt Tân” tán phát bài “ chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, với nội dung nói xấu, xuyên tạc. bài viết cho rằng tỷ lệ nữ giới trrong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước vẫn còn rất ít, con đường dẫn tới quyền lực cho phụ nữ thường là đi qua Quốc hội, có những vị trí không mấy quan trọng trong chính trị Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng còn kích động, tuyên truyền với luận điệu: Đảng phải vượt lên trên tính hình thức về đại diện nữ ngay trong các cơ quan đưa ra quyết định cao nhất.
Phải nói rằng, bằng luận điệu xảo trá, các thế lực thù địch, phản động đang âm mưu làm cho một bộ phận nhân dân hiểu sai về chính sách bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, là chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Bộ máy nhà nước. Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên thế giới nhằm hướng đến một xã hội tiến bộ, bình đẳng và phát triển bền vững, Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Nam - Nữ bình quyền là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Điều này được ghi nhận trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng” năm 1930. Để thể hiện rõ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đó Đảng ta đa có nhiều chính sách, quy định nhằm tạo điều kiện và cơ hội để đội ngũ cán bộ nữ nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt, đáp ứng tiêu chuẩn của từng vị trí công tác, nhạy bén, năng động, sáng tạo, từng bước vươn lên, phát huy trí tuệ và sức lao động của bản thân; đồng thời là công cụ để tăng cường sự tham gia của cán bộ nữ, phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, tham gia các cơ quan dân cử. Từ đó, vai trò, vị thế của cán bộ nữ được nâng lên và có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của ngành, cơ quan, đơn vị và của cả nước. Rectangle: Rounded Corners: Phụ nữ Bình Phước trông bình đẳng giới. Hiện nay, trên toàn quốc, tỷ lệ nữ sinh viên trong các trường đại học cao hơn nam giới; tỉ lệ nữ có trình độ thạc sĩ chiếm 40%, tỉ lệ nữ có trình độ tiến sĩ cũng tăng lên. Số giáo sư, phó giáo sư là nữ tăng lên hàng năm. Số giảng viên nữ trong các trường đại học, cao đẳng chiếm gần 50%. Tỷ lệ cán bộ nữ được quy hoạch vào các chức danh quản lý, lãnh đạo và cấp ủy các cấp đã tăng lên. Năng lực của cán bộ nữ được nâng lên rõ rệt, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác và chuẩn hóa theo chức danh.
Khẳng định rằng, ở Việt Nam công tác cán bộ luôn được tiến hành đúng quy trình và không có sự phân biệt Nam - Nữ, như Hiến pháp 2013 khẳng định “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Việt Nam là một trong số các quốc gia có khung pháp luật và chính sách khá toàn diện, đầy đủ để thúc đẩy bình đẳng giới. Những luận điệu xuyên tạc chống phá của kẻ thù là hoàn toàn vô căn cứ và phản khoa học, chúng ta cần phải cẩn trọng trước những âm mưu thâm hiểm, những luận điệu xuyên tạc đó. Không để kẻ thù lợi dụng kẻ hỡ để xuyên tạc chống phá, chi rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, và lợi dụng vào đó để thức đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Có thể là hình ảnh về điện thoại và văn bản cho biết 'MẠNG PHÁN ĐỘNG bôi xâu xuyên tạc suy diễn kích động mhiên'
Thích
Bình luận
Gửi
Chia sẻ

Không thể phủ nhận bình đẳng giới ở Việt Nam

 Không thể phủ nhận bình đẳng giới ở Việt Nam

Trong những ngày qua, trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA) tán phát bài “Chính trường Việt Nam ít chỗ cho phụ nữ”, nội dung xuyên tạc cho rằng tỷ lệ nữ giới trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước vẫn còn rất ít, con đường dẫn tới quyền lực cho phụ nữ thường là đi qua Quốc hội, có những vị trí không mấy quan trọng trong chính trị Việt Nam; kích động, tuyên truyền với luận điệu: Đảng phải vượt lên lên tính hình thức về đại diện nữ ngay trong các cơ quan đưa ra quyết định cao nhất. Đây là âm mưu thủ đoạn hết sức thâm độc và nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
Thực tế chúng ta đều biết rõ rằng, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 29/7/1980 và được phê chuẩn vào ngày 27/11/1981. Vì vậy, ở Việt Nam sẽ không có chuyện “quyền chính trị của phụ nữ tham gia chính trường có sự phân biệt”. Đồng thời, cho đến nay Việt Nam là một trong số các quốc gia có khung pháp lý và hệ thống chính sách khá toàn diện, đầy đủ để thúc đẩy bình đẳng giới. Ngay từ Hiến pháp năm 1946 đã nêu hai quyền cơ bản và khái quát của công dân Việt Nam là “tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”; “tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật”. Trong Hiến pháp năm 2013 cũng nêu rõ, công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Bên cạnh đó, các quyền cơ bản của phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới cũng được đề cập đến trong các văn bản luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Pháp lệnh Dân số, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới…
Mặt khác, chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực với 7 mực tiêu cụ thể. Trong đó, mục tiêu 1 là tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Phấn đấu cán bộ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35 - 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới. Kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI (2002-2007), phụ nữ chiếm 27,31% trong tổng số đại biểu; khóa XII (2007-2011) tỷ lệ này là 25,76%; khóa XIII (2011-2016): 24.40%. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ XIII, cán bộ nữ tham gia cấp ủy cả 3 cấp đều tăng về số lượng và chất lượng. Cụ thể, ở cấp cơ sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 21% (tăng 2%) so với nhiệm kỳ trước. Đối với cấp trên cơ sở đạt 17%, cũng tăng 2%. Đối với các Đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16% và tăng 3% so với nhiệm kỳ trước. Có hơn 4.200 cán bộ nữ được lựa chọn, giới thiệu và bầu giữ chức vụ cán bộ chủ chốt trong Đảng và chính quyền ở cả 3 cấp… Đây là tỷ lệ tương đối cao qua các kỳ bầu cử Quốc hội và đã đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước có tỷ lệ nữ đại biểu trong cơ quan lập pháp cao nhất châu Á và cũng như trên thế giới (trên 25%). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nước ta cao hơn hẳn so với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và nhiều nước trong khu vực. Theo Liên minh các nghị viện thế giới, Việt Nam đứng thứ 37 trong tổng số 188 nước trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp. Số liệu của trang tin Nhóm Nữ nghị sỹ Việt Nam (thuộc Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội) cho thấy, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội ở nước ta liên tục tăng lên trong thời gian qua và duy trì ở mức cao. Từ năm 1999 đến nay, Việt Nam luôn có nữ Phó Chủ tịch nước. Tỷ lệ phụ nữ là bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng cũng tăng lên. Tại các cấp địa phương, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Nhân dân cũng tăng lên và nhiều nơi có nữ chủ tịch. Chính phủ cũng có các cơ quan chuyên trách chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho phụ nữ như Vụ Bình đẳng giới (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), Vụ Gia đình (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Vụ Sức khoẻ bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế),... Đặc biệt là Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập từ năm 1985 có cơ cấu tổ chức từ trung ương đến địa phương, có chức năng, nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên ngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ.
Như vậy, trên thực tiễn trên cho thấy, quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam được bảo đảm tốt, tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy, chính quyền không chỉ cao hơn các quốc gia trong khu vực châu Á, mà còn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ chung của toàn cầu. Việc các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc cho rằng Việt Nam vi phạm quyền chính trị của phụ nữ là thái độ thiếu khách quan nhằm mục đích chống phá, phủ nhận các thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong quá trình thực hiện bình đẳng giới, trong đó có bình đẳng trên lĩnh vực chính trị. Tất nhiên, chúng ta cũng không tự mãn mà cần tiếp tục phấn đấu để sớm nâng cao hơn nữa tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy, chính quyền các cấp, nhằm rút ngắn hơn nữa khoảng cách và tiến tới nam nữ bình quyền trên mọi lĩnh vực.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'PHỤ NỮ VÀ NAM GIỚI ĐỀU BÌNH ĐẲNG THAM GIA VÀ QUYẾT ĐỊNH MỌI CÔNG VIỆC TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI. LUẬT ĐẢNG GIỜI BÌNH'
Tất cả cảm xúc:
1

LẠI MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV

 LẠI MỘT ÂM MƯU THÂM ĐỘC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đang ra sức chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Càng gần đến thời điểm tổ chức Đại hội XIV của Đảng, sự chống phá đó của chúng càng quyết liệt hơn. Trong đó, đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” là luận điệu tuyên truyền cực kỳ thâm độc, nguy hiểm. Vì thế, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ trên là việc làm cần thiết, quan trọng. Mục tiêu xuyên suốt, không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nếu như trước kia, chúng thường sử dụng các tổ chức đối lập, đấu tranh nghị viện,… để từng bước làm tan rã thể chế chính trị ở các quốc gia đối lập; thì nay, trong bối cảnh quốc tế mới, hình thức, phương pháp, thủ đoạn chống phá còn đa dạng, tinh vi và thâm độc hơn. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, trong đó ra sức tuyên truyền kích động đòi “kiến nghị khẩn cấp về cải cách thể chế” ở Việt Nam, theo hướng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Chúng ngụy biện rằng, chỉ có thực hiện “đa đảng đối lập” mới có dân chủ thật sự, còn nếu một đảng thì tất yếu sẽ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán trong quá trình lãnh đạo đất nước, dân tộc. Thật là hết sức kệch cỡm, lố bịch! Đó là chưa nói tới việc chúng cố tình quên hoặc lờ đi lịch sử cách mạng Việt Nam đã từng tồn tại nhiều đảng, nhưng rồi đều tự rút sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân, dân tộc thừa nhận, giao phó quyền lãnh đạo đất nước. Không phụ lại sự ủy thác và tin cậy đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Thực tiễn lịch sử đó là không thể phủ nhận. Vậy mà các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị vẫn ra rả luận điệu kích động đòi phải “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” - thật trơ trẽn, nực cười. Thực chất của cái gọi là “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” không gì khác hơn là mưu toan nhằm từng bước hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng ta, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Âm mưu, thủ đoạn đó của chúng gần đây có phần tiến hóa hơn, hình thức cũng đa dạng hơn và tính chất cũng thâm độc hơn. Chúng thường lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của ta trong quá trình đổi mới đất nước để khoét sâu, thổi phồng, theo kiểu biến cái nhỏ thành cái lớn, cá biệt thành phổ biến, hiện tượng thành bản chất, từ đó quy kết thô thiển rằng: Đảng ta yếu kém, không đủ sức lãnh đạo đất nước. Cũng từ đó làm chệch hướng, lái sự nghiệp cách mạng nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đáng chú ý là, chúng “luồn lách” vào từng vấn đề, từng khuyết điểm nhỏ nhất của sự nghiệp đổi mới để chống phá, nhất là những vấn đề nhạy cảm, như: quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; thậm chí cố tình lý giải sai lệch bản chất của những vấn đề trên để thực hiện mưu đồ đen tối. Chúng cho rằng: “quá trình đổi mới ở Việt Nam hiện nay đã xây dựng một xã hội mà vỏ ngoài là chủ nghĩa xã hội, nhưng bên trong là chủ nghĩa tư bản”.
Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã quyết định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đến nay Đảng ta tiếp tục khẳng định mục tiêu của đổi mới là xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được xây dựng có hiệu quả hơn, thiết thực hơn trên thực tế; trong đó, phải kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, xây dựng Đảng là khâu then chốt, v.v. Trước yêu cầu, điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững quy luật vận động khách quan của xã hội để có quyết sách phù hợp, giải quyết đúng đắn, hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong đó, cần đặt đúng vị trí đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế; tiếp tục tận dụng thời cơ do hội nhập mang lại để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Đồng thời, có biện pháp, cách làm, bước đi đồng bộ, phù hợp để tháo gỡ những bất cập về tổ chức bộ máy, thể chế, cơ chế, chính sách. Như vậy sẽ không vô tình tạo ra kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng quá trình đổi mới đất nước để tuyên truyền kích động đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam”.
Lẽ đương nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng, Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Trong đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất ngang tầm nhiệm vụ là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp đổi mới. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực xã hội và nhà nước thuộc về nhân dân. Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đồng thời là vấn đề cấp thiết, yếu tố trực tiếp làm thất bại luận điệu đòi “cải cách thể chế chính trị ở Việt Nam” của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'ひ TIẾN TỚIĐAI ĐAI IOI ĐÂNG TOÀN QUỐC TỚI lân lân.thứ thứ XIV'
Tất cả cảm xúc:
1