Thứ Ba, 3 tháng 6, 2025

 

VAI TRÒ CỦA PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Ngày nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng, tác động đến hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, những nguy cơ, thách thức đã dự báo, không những chưa được khắc phục mà còn phức tạp hơn…đặt ra những yêu cầu cao về nhận thức lý luận và phát huy vai trò của lý luận trong thời kỳ mới cho cán bộ, đảng trong thời kỳ mới. Vì vậy, tiến hành tốt tự phê bình và phê bình, không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên trong tự học, tự rèn. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất để sửa chữa khuyết điểm và trị các căn bệnh. Người viết: " Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên"[1]. Theo Người, phê bình và tự phê bình có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh nội lực của cán bộ, nâng cao ý thức trách nhiệm, tích cực phấn đấu, học tập nâng cao trình độ lý luận, tạo ra khả năng thống nhất cao giữa lý luận và thực tiễn. Người nói, qua phê bình và tự phê bình thì khuyết điểm sẽ hết dần, ưu điểm từng bước thêm lên, nhờ đó mà người cán bộ trưởng thành lên mãi. Cũng thông qua tự phê bình và phê bình sẽ kịp thời ngăn chặn những biểu hiện kém lý luận, khinh lý luận, lý luận suông. Với nhãn quan khoa học, sâu sắc của mình, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy những căn bệnh: lười biếng, kiêu ngạo, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ có trong đội ngũ cán bộ và đi đến kết luận đây là những thứ bệnh rất nguy hiểm. Nếu để những căn bệnh này trỗi dậy thì đó là một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn tới kìm hãm việc phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.5, tr.307

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUNG ƯƠNG BAN HÀNH QUY ĐỊNH MỚI VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG!

     Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 294-QĐ/TW ngày 26/5/2025 về thi hành Điều lệ Đảng. Quy định có nhiều điểm mới, đáng chú ý là thí điểm Đại hội chi bộ 5 năm một lần.

Bên cạnh một số quy định về tuổi đời và trình độ học vấn của người vào Đảng; về quyền của đảng viên; giới thiệu và kết nạp người vào Đảng; thời hạn tổ chức lễ kết nạp đảng viên, xét công nhận đảng viên chính thức, tính tuổi đảng của đảng viên; đảng tịch của đảng viên,... cơ bản được giữ nguyên như trong Quy định 232 ngày 20/1/2025, Quy định 294 mở rộng, bổ sung nhiều nội dung mới.

Trong phần hệ thống tổ chức Đảng, Quy định 294 nêu hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm cấp xã (xã, phường, đặc khu); cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp Trung ương. Đây là hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng có chức năng lãnh đạo toàn diện ở mỗi cấp và của toàn Đảng. So với Quy định 232, hệ thống tổ chức của Đảng không còn cấp huyện.

Quy định 294 cũng đề cập việc thí điểm tổ chức các đảng bộ xã, phường trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy là đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng. Cấp ủy tỉnh, thành phố quyết định tổ chức đảng ở đặc khu là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng hoặc là tổ chức cơ sở đảng sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Ban Tổ chức Trung ương.

Một điểm đáng chú ý nữa là quy định về nhiệm kỳ chi bộ. Quy định 294 nêu thí điểm đại hội chi bộ 5 năm một lần. Hiện nay, đối với chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở đang thực hiện đại hội 5 năm 2 lần.

Chi bộ có 9 đảng viên chính thức trở lên bầu chi ủy; chi bộ đông đảng viên bầu không quá 7 chi ủy viên. Chi bộ trực tiếp bầu chi ủy trước, sau đó bầu bí thư, bầu một phó bí thư trong số chi ủy viên. Chi bộ có dưới 9 đảng viên chính thức bầu bí thư, nếu cần bầu một phó bí thư.

Trường hợp chi bộ bầu đến lần thứ ba mà không có đồng chí nào đủ số phiếu trúng cử bí thư chi bộ thì cấp ủy cấp trên căn cứ vào tình hình cụ thể của chi bộ để chỉ định một đồng chí trong số chi ủy viên hoặc đảng viên (nơi không có chi ủy) làm bí thư để điều hành hoạt động của chi bộ.

Khi thật cần thiết, cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định bí thư, phó bí thư, chi ủy viên.

Về phân cấp việc giới thiệu cán bộ để bầu hoặc bổ nhiệm vào cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội, Quy định số 294 nêu:

Ở Trung ương:

- Ban Chấp hành Trung ương Đảng giới thiệu 3 chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội bầu; tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước và các thành viên Chính phủ.

- Bộ Chính trị giới thiệu các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị quản lý để Chính phủ trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.

- Ban Bí thư giới thiệu các chức danh thuộc diện Ban Bí thư quản lý để Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm; Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.

 Ở địa phương:

- Ban chấp hành đảng bộ các cấp giới thiệu chức danh chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân để hội đồng nhân dân bầu (hoặc cấp có thẩm quyền quyết định); tham gia ý kiến về nhân sự phó chủ tịch hội đồng nhân dân, phó chủ tịch ủy ban nhân dân trước khi ban thường vụ cấp ủy quyết định giới thiệu để hội đồng nhân dân bầu (hoặc cấp có thẩm quyền quyết định).

- Ban thường vụ cấp ủy các cấp giới thiệu các chức danh thuộc diện ban thường vụ quản lý để ủy ban nhân dân các cấp xem xét, bổ nhiệm; hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.

Về việc lập cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy, Quy định 294 nêu cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc và đơn vị sự nghiệp: Văn phòng, Ban Tổ chức, cơ quan Ủy ban Kiểm tra, Ban Tuyên giáo và Dân vận, Ban Nội chính; Trường Chính trị và cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình của đảng bộ tỉnh, thành phố.

Quy định 294 còn quy định cụ thể về Đảng ủy quân khu, Đảng ủy Quân sự địa phương. Quan hệ giữa Đảng ủy Công an Trung ương với Tỉnh ủy, Thành ủy; cơ quan đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong Công an nhân dân. Nhiệm vụ tham mưu của Đảng ủy Công an đối với cấp ủy địa phương cùng cấp; việc phân công đồng chí phó bí thư cấp ủy địa phương phụ trách đảng ủy công an cùng cấp.

Quy định 294-QĐ/TW có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỢP TÁC TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ỨNG PHÓ CÁC SỰ CỐ HÓA HỌC, SINH HỌC, PHÓNG XẠ VÀ HẠT NHÂN (CBRN)!

     Trong khuôn khổ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại Hà Nội, Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET) và Cục Kiểm tra hiện trường và Tăng cường năng lực, Cơ quan Giảm thiểu đe dọa quốc phòng Hoa Kỳ (DTRA) đã long trọng tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hành chính về hợp tác tăng cường năng lực ứng phó các sự cố hóa học, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CBRN).

Tham dự chương trình có: Đại tá Nguyễn Đình Hiền, Tư lệnh Binh chủng Hóa học kiêm Tổng giám đốc Trung tâm hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET) cùng các đại biểu đại diện cho các cơ quan, phòng ban chức năng của NACCET; phía Hoa Kỳ có bà Laura J Gross Cục trưởng Cục Kiểm tra hiện trường và tăng cường năng lực, DTRA, Đại tá Thomas Bouchillon Tùy viên Quốc phòng, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng các chuyên viên đến từ văn phòng ODC và DTRA của Hoa Kỳ.

Thỏa thuận hành chính về hợp tác tăng cường năng lực ứng phó các sự cố CBRN đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa hai bên, đặt nền tảng cho việc triển khai các chương trình hỗ trợ thiết thực và lâu dài nhằm nâng cao năng lực quốc gia trong phòng ngừa, phát hiện và ứng phó với những nguy cơ về các sự cố về CBRN.

Phát biểu tại buổi lễ, đại diện hai bên bày tỏ sự tin tưởng vào triển vọng hợp tác lâu dài. Các bên cùng khẳng định rằng, trong bối cảnh các nguy cơ sự cố liên quan đến CBRN không thể dự đoán trước, việc chủ động tăng cường năng lực ứng phó là yếu tố quan trọng để góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo an toàn cho nhân dân, cũng như đóng góp vào hòa bình và ổn định trong khu vực.

Lễ ký kết không chỉ thể hiện quyết tâm của hai bên trong việc cùng nhau đối phó với các rủi ro mà do sự cố CBRN, đồng thời còn khẳng định cam kết chung trong việc bảo vệ con người, môi trường sống và ổn định khu vực. Đây cũng là một trong những bước đi cụ thể trong chiến lược hợp tác ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, đồng thời góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại và tăng cường khả năng phục hồi của Việt Nam trước các sự cố thảm họa (nếu có)./.




Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỄ ĐÓN TRỌNG THỂ ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN TÂN CƯƠNG THĂM CHÍNH THỨC CAMPUCHIA!

     Triển khai Kế hoạch hợp tác năm 2025 giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Campuchia, đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, thăm chính thức Campuchia từ ngày 3 đến 6-6.

Tham gia đoàn có Thiếu tướng Nguyễn Bá Lực, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam.

Chiều 3-6, tại trụ sở Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia, Đại tướng Vong Pisen, Tổng tư lệnh Quân đội Hoàng gia Campuchia chủ trì lễ đón trọng thể Đại tướng Nguyễn Tân Cương và đoàn. Ngay sau lễ đón, hai bên đã tiến hành hội đàm./.


Môi trường ST 

TỈNH TÁO TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG!

     Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch.

1. Những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, khó lường và lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động cố tình bịa đặt, tung tin xuyên tạc sai sự thật về sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: “Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay chỉ còn là hình thức, là vỏ bọc bên ngoài”.

Nguy hiểm hơn, trước thềm đại hội đảng các cấp hay vào mỗi thời điểm có quyết định nhân sự quan trọng của Đảng, Nhà nước, họ lại tung tin thất thiệt, quy chụp nhận định không khách quan về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng hòng gây tâm lý bất ổn, hoang mang trong xã hội. Họ rêu rao rằng, thực chất của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy chính trị ở Việt Nam là quá trình “đấu đá nội bộ”, “giành giật quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế giữa các phe phái”; còn việc miễn nhiệm, thôi chức của một số cán bộ lãnh đạo cấp cao chỉ là “bình phong” của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm che giấu những rạn nứt trong nội bộ Đảng.

Những luận điệu đó là bịa đặt với ý đồ chính trị hắc ám nhằm gây phân rã tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng như gây sự hoài nghi, mâu thuẫn giữa Đảng với nhân dân, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

2. Quá trình ra đời, xây dựng, phát triển, trưởng thành của Đảng ta cũng như thực tiễn lãnh đạo cách mạng 95 năm qua đã chỉ ra, đoàn kết thống nhất là gốc rễ cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kế thừa các giá trị tốt đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc, quán triệt và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Người khẳng định: Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.

Đoàn kết, thống nhất là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động quan trọng hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bất cứ một tổ chức nào, đoàn kết thống nhất đều là nền tảng, cội nguồn sức mạnh của tổ chức đó. Học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng đã chỉ rõ đoàn kết, thống nhất là một nguyên lý, nguyên tắc xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với dân tộc, hòa mình cùng dân tộc, lớn lên và trưởng thành trong dân tộc. Tập hợp trong hàng ngũ của Đảng là những người xuất thân từ nhiều thành phần, giai cấp và tầng lớp xã hội, trong đó chủ yếu là công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, nhưng tất cả đều có chung một lý tưởng, mục tiêu và lợi ích. Lý tưởng đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Mục tiêu đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lợi ích đó là phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, ngoài ra Đảng ta không có lợi ích nào khác. Chính lý tưởng chung, mục tiêu chung và lợi ích chung là cơ sở của sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vào những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, dù tình hình phong trào cộng sản thế giới có sự biến động, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì, kiên định giữ vững nguyên tắc đoàn kết thống nhất, coi đây là vấn đề sống còn của cách mạng, của chế độ; là cơ sở, nền tảng, là hạt nhân để đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và là điều kiện để đoàn kết toàn dân, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đảng ta luôn thấu suốt đoàn kết thống nhất là một nguyên tắc cơ bản có vị trí quan trọng hàng đầu trong tổ chức và hoạt động của Đảng; đồng thời, coi sự chia rẽ trong nội bộ Đảng là tội ác, là kẻ thù lớn nhất đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng.

3. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng ta nhiều lần khẳng định, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không phải “ngày một, ngày hai” mà đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, quyết tâm của Đảng, Nhà nước, nhân dân cũng như bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta thời gian qua đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền “tự soi, tự sửa”, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đây cũng là cơ sở để giúp các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế cho thấy, dù phải xử lý kỷ luật một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, pháp luật, nhưng truyền thống và tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng ta vẫn luôn bảo đảm, giữ vững. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ” như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”.

Trên cơ sở ban hành Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 của Bộ Chính trị “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”, Đảng đã có những điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện các quy định về miễn nhiệm và từ chức. Quy định này góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng về vấn đề miễn nhiệm, từ chức thành các quy định cụ thể; đồng thời là cơ sở để thực hiện văn hóa ứng xử trong miễn nhiệm, từ chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phù hợp với mong muốn, kỳ vọng chính đáng của nhân dân.

Việc cho thôi chức đối với một số cán bộ lãnh đạo cấp cao thời gian qua là bước tiến rất lớn, góp phần để phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra” trong công tác cán bộ được triển khai sâu rộng, đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến địa phương; để xu hướng đó trở thành một việc làm bình thường trong quá trình “xây” kết hợp với “chống”, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Mặt khác, khi cán bộ có hạn chế, khuyết điểm và thấy năng lực công tác của mình không còn phù hợp với vị trí công tác đảm nhiệm thì cán bộ mạnh dạn, tự nguyện từ chức cũng là việc bình thường, hợp lý, hợp pháp, hợp lòng người. Chính vì vậy, những luận điệu xuyên tạc về vấn đề này hòng phủ nhận nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng càng chứng tỏ ý đồ hắc ám của những kẻ chống phá.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn kiên trì, kiên định với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc đoàn kết thống nhất. Hiện nay, để thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta và tổ chức đảng các cấp luôn thấu suốt phương châm nhất quán là: “Tiền hô hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, “trên dưới đồng lòng”, “dọc ngang thông suốt”. Đó chính là một trong những cơ sở, động lực để góp phần thực hiện hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, qua đó tạo ra luồng sinh khí mới trong đời sống tinh thần xã hội để huy động, nhân lên sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Trải qua 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, Đảng ta luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ gìn và phát huy nguồn sức mạnh vô địch của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là tiền đề ánh sáng để Đảng thực hiện sứ mệnh soi đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đồng thời, đó cũng là cơ sở bác bỏ hoàn toàn mọi ý đồ, mưu toan xuyên tạc, phủ nhận tinh thần đoàn kết thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬT ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH PHÒNG THỦ BIỂN, ĐẢO TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV!

         Trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong đó, các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc chủ trương, chính sách quốc phòng, an ninh (QPAN), nhất là công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo và chính sách phòng thủ biển, đảo!

Vì sao các thế lực thù địch nhắm vào chính sách phòng thủ biển, đảo?

Biển, đảo gắn với chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng, là “huyết mạch” kinh tế-QPAN của đất nước. Các vấn đề liên quan đến biển, đảo luôn thu hút sự quan tâm sâu sắc của nhân dân, gắn liền với lòng yêu nước, tự hào dân tộc và tâm lý bảo vệ chủ quyền. Vì thế, chỉ cần tung ra vài tin giả, xuyên tạc, hoặc bình luận sai lệch, các thế lực thù địch dễ dàng đánh vào cảm xúc của quần chúng, khơi gợi tâm lý hoài nghi, phẫn nộ, thậm chí kích động hành động cực đoan.

Chính sách QPAN là lĩnh vực khó tiếp cận, dễ xuyên tạc. Đây là lĩnh vực liên quan đến chiến lược, kỹ thuật, quan hệ quốc tế phức tạp, không phải ai cũng có đầy đủ thông tin để hiểu sâu. Một số người dân dễ bị dẫn dắt bởi các “chuyên gia mạng”, kênh YouTube trá hình, đưa ra phân tích sai lệch nhưng lại tỏ ra có “chuyên môn”, tạo ra hiệu ứng tin giả lan truyền.

Luận điệu xuyên tạc, âm mưu thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt

Các thế lực phản động sử dụng thông tin sai lệch, tài liệu giả mạo, hoặc trích dẫn một cách có chọn lọc các sự kiện lịch sử để phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vu cáo Việt Nam “gây căng thẳng khu vực”: Mỗi khi Việt Nam tổ chức diễn tập phòng thủ, tăng cường lực lượng hoặc thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền trên biển, các đối tượng phản động thường vu khống ta là “khiêu khích”, “hiếu chiến”, trong khi thực tế đó là quyền chính đáng của một quốc gia có chủ quyền.

Để tấn công vào lòng dân, vào niềm tin chính trị, các thế lực phản động thường tập trung bóp méo bản chất chính sách quốc phòng tự vệ. Việt Nam theo đuổi đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ, không tham gia liên minh quân sự, không chạy đua vũ trang. Tuy nhiên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng Việt Nam “không đủ sức bảo vệ chủ quyền”, từ đó kích động tâm lý bất mãn, yêu cầu thay đổi chính sách, thậm chí cổ xúy tư tưởng bài ngoại, đối đầu cực đoan. Một số cá nhân tự xưng “yêu nước” nhưng thực chất lợi dụng lòng yêu nước để kích động chống đối, cổ xúy việc giải quyết tranh chấp bằng đối đầu quân sự, đi ngược đường lối đối ngoại hòa bình của Việt Nam.

Việt Nam duy trì hợp tác quốc phòng với nhiều nước trên tinh thần bình đẳng, cùng có lợi. Tuy nhiên, những thông tin xuyên tạc thường bóp méo các chuyến thăm, hợp tác quốc phòng thành “liên minh quân sự ngầm”, vu cáo Việt Nam “phụ thuộc nước ngoài”, “đánh đổi chủ quyền lấy viện trợ”. Một số trang mạng giả danh “chuyên gia quân sự” đưa ra các “kịch bản chiến tranh”, gieo rắc tâm lý lo ngại, mất phương hướng về chính sách quốc phòng. Lợi dụng các sự kiện quốc tế để vu cáo Việt Nam “đi đêm” hoặc “im lặng” trước các hành vi xâm phạm chủ quyền của nước khác, gieo rắc mâu thuẫn nội bộ và làm suy yếu lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch

Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, thế trận biển, đảo vững chắc trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Hòa bình, tự vệ, không liên minh quân sự. Từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu nhưng không tách rời khỏi nghĩa vụ quốc tế và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách QPAN "4 không" này không chỉ thể hiện lập trường độc lập, tự chủ của Việt Nam mà còn phản ánh tư duy chiến lược tỉnh táo, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm vừa giữ vững chủ quyền, vừa đóng góp vào hòa bình, ổn định chung.

Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo dựa trên đầy đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý vững chắc và phù hợp với UNCLOS 1982. Tất cả hoạt động bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và duy trì trật tự, an ninh trên biển của Việt Nam đều tuân thủ nghiêm các quy định quốc tế, không gây hấn, không xâm phạm chủ quyền các nước khác. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế biển, khai thác tài nguyên, cũng như huấn luyện, diễn tập quân sự trong phạm vi chủ quyền đều nằm trong khuôn khổ hợp pháp và minh bạch, được thông tin công khai. Điều này cho thấy Việt Nam không hề “mập mờ” hay “thiếu minh bạch” như các thế lực phản động xuyên tạc. Thực tế, Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, đàm phán song phương và đa phương, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Việt Nam hiểu rõ rằng, hòa bình chỉ bền vững khi có sức mạnh bảo vệ, do đó, việc củng cố tiềm lực quốc phòng là tất yếu, nhưng không phải để gây chiến, mà để phòng ngừa xâm lược và bảo vệ lợi ích quốc gia. LLVT nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng... làm nhiệm vụ trên biển luôn duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, làm chủ tình hình, xử lý linh hoạt, đúng mực trong mọi tình huống. Việc xây dựng các lực lượng này không nhằm chạy đua vũ trang mà để mỗi tấc đất, tấc biển của Tổ quốc đều được gìn giữ bởi chính con em nhân dân. Chủ trương kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với đối ngoại cũng là điểm sáng trong chính sách của Việt Nam. Đây là chiến lược bền vững, giúp đất nước phát triển mạnh mẽ từ bên trong, đồng thời nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ mang tính chất nội bộ mà còn đóng vai trò tích cực trong khu vực và thế giới. Việt Nam là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, hòa bình, thịnh vượng. Việt Nam nhiều lần lên tiếng phản đối hành vi vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, nhưng luôn theo hướng kiềm chế, thiện chí và cầu thị, vì hòa bình và thượng tôn pháp luật, được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế ghi nhận. Việt Nam cũng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, gửi lực lượng đến nhiều điểm nóng như Nam Sudan, Trung Phi... cho thấy hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao đối với dân tộc và cộng đồng quốc tế. Đó là chính sách đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch, thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình nhưng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, độc lập dân tộc. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo chính sách này không làm thay đổi được bản chất đúng đắn, mà ngược lại càng cho thấy sự bất lực của chúng trước một Việt Nam ngày càng ổn định, vững mạnh và có uy tín trong khu vực cũng như trên thế giới.

Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái

Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức chính trị và khả năng “đề kháng tư tưởng” của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Theo đó, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, dễ hiểu và thường xuyên về các chủ trương, chính sách quốc phòng, đặc biệt là chiến lược quốc phòng “4 không” của Việt Nam. Giúp người dân hiểu rõ bản chất hòa bình, chính nghĩa, tự vệ của quốc phòng Việt Nam, từ đó tự tin, vững vàng trước các thông tin bịa đặt. Trang bị kiến thức pháp lý quốc tế về chủ quyền biển, đảo để làm cơ sở phản bác các quan điểm sai lệch về quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế.

Chủ động phản bác, ngăn chặn thông tin sai trái ngay từ khi mới xuất hiện trên không gian mạng. Thiết lập và vận hành hiệu quả các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Sử dụng tiếng nói của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cựu chiến binh, người từng công tác trong LLVT để phản bác bằng lý lẽ khoa học, dẫn chứng thực tế, góp phần tạo niềm tin vững chắc trong dư luận. Khuyến khích người dân tham gia “làm sạch” không gian mạng, thông qua việc báo cáo tin giả, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng và chủ động chia sẻ những nội dung tích cực, truyền cảm hứng về tình yêu biển, đảo và trách nhiệm công dân.

Tăng cường giáo dục lý luận chính trị-pháp luật trong toàn xã hội; đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo, nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá vào chương trình học phổ thông, đại học và các lớp bồi dưỡng chính trị, giúp hình thành tư duy độc lập, phản biện lành mạnh. Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị chuyên đề trong hệ thống chính trị, đoàn thể, nhất là trong lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, qua đó nâng cao ý thức giữ vững trận địa tư tưởng. Tăng cường các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, giao lưu giữa LLVT và nhân dân để trực tiếp giải đáp các vấn đề nóng, nhạy cảm về biển, đảo, quốc phòng, xây dựng lòng tin vững chắc và sự gắn bó máu thịt quân dân.

Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và người có ảnh hưởng lớn. Các cơ quan báo chí chủ động, nhanh nhạy, chính xác, kịp thời phản ánh sự thật, định hướng dư luận một cách có trách nhiệm và nhân văn. Tăng cường sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo, gần gũi giới trẻ như video ngắn, infographic, podcast... để truyền tải thông điệp yêu nước, niềm tin chính trị, trách nhiệm công dân với biển, đảo Tổ quốc. Khuyến khích các nhà báo, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tích cực lan tỏa thông tin chính thống, phản bác thông tin sai trái một cách có lý, có tình, góp phần tạo ra “vùng thông tin xanh” trên môi trường mạng.

Cùng với tuyên truyền, đấu tranh, cần thực thi pháp luật một cách mạnh mẽ, nghiêm minh để phòng ngừa hiệu quả. Xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi tán phát thông tin sai lệch, kích động chia rẽ, bôi nhọ LLVT, xuyên tạc chính sách quốc phòng, đặc biệt trong thời gian cao điểm chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp. Tăng cường năng lực giám sát, phát hiện và xử lý tin giả của các cơ quan chức năng, kết hợp giữa công nghệ và nhân lực để tạo “lá chắn kỹ thuật số” hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp lý về an ninh mạng, thông tin, truyền thông, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị-xã hội trong quản lý và đấu tranh trên không gian mạng. Tăng cường công khai, minh bạch các chính sách quốc phòng, đối ngoại, giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, giúp người dân không bị mơ hồ mà tỉnh táo nhận thức đúng trước sự nhiễu loạn thông tin...
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ĐỘI TRONG KỶ NGUYÊN HỘI NHẬP VỚI PHONG TRÀO “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ”!

     Hơn tám thập kỷ trước, phong trào Bình dân học vụ ra đời, thắp lên ngọn lửa tri thức và khát vọng tự cường, góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, khi đất nước vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tư tưởng vĩ đại ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị. Đảng, Nhà nước ta đang kế thừa và phát huy một cách sáng tạo, hình thành nên một phiên bản hiện đại “Bình dân học vụ số”!

Đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hưởng ứng và thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về học tập suốt đời và triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”.

Vai trò “Bình dân học vụ số” với Quân đội

Ngày nay, để hoàn thành sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cần nắm vững khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ số. Đây là yêu cầu tất yếu để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, có khả năng tác chiến hiệu quả trong mọi môi trường, từ chiến trường vật lý đến không gian mạng.

Trong bối cảnh đó, “Bình dân học vụ số” không đơn thuần là việc phổ cập kiến thức tin học cơ bản, mà là một cuộc cách mạng về tư duy và kỹ năng số trong toàn quân, tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động. Từ những thao tác đơn giản trên thiết bị thông minh, việc ứng dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để thực hiện nhiệm vụ, lưu trữ, truy cập thông tin an toàn và bảo vệ hệ thống trước các mối đe dọa. Việc làm chủ các công nghệ này không chỉ nâng cao hiệu quả công tác mà còn là yếu tố sống còn trong tác chiến không gian mạng.

Mục tiêu của phong trào “Bình dân học vụ số” là xây dựng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới: Vừa kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vừa tinh thông, sáng tạo trong khoa học công nghệ để làm chủ vũ khí trang bị hiện đại, tự tin hội nhập, hợp tác quốc tế để học hỏi và đóng góp vào hòa bình khu vực và thế giới.

Đồng thời, góp phần nâng cao sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất truyền thống và năng lực hiện đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho Quân đội trong kỷ nguyên số.

Hiện thực hóa “Bình dân học vụ số” từ tư tưởng Hồ Chí Minh

Để hiện thực hóa “Bình dân học vụ số”, các đơn vị trong Quân đội đang triển khai đồng bộ nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực, thể hiện sự chủ động và quyết tâm cao. Trước hết, việc nâng cao nhận thức và chuẩn hóa quy trình là yếu tố then chốt, tạo nền tảng vững chắc cho mọi chuyển đổi. Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đẩy mạnh tuyên truyền về tầm quan trọng của chuyển đổi số và kỹ năng số, không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà đi vào nhận thức của từng cán bộ, chiến sĩ.

Các văn bản chỉ đạo quan trọng như Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng với Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về công tác khoa học quân sự phải được triển khai mạnh mẽ, định hướng rõ ràng cho mọi hoạt động. Qua đó, xây dựng một môi trường chia sẻ thông tin minh bạch, chuẩn hóa quy trình nội bộ theo chuẩn quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hợp tác quốc tế. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cũng được thiết kế lại một cách khoa học, liên tục cập nhật kiến thức công nghệ quân sự tiên tiến toàn cầu, trang bị cho cán bộ, chiến sĩ nền tảng vững chắc để làm chủ công nghệ, tự tin giao tiếp và làm việc hiệu quả trong môi trường hội nhập, đa quốc gia. Đây là bước đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực thích ứng của toàn quân.

Tiếp đó, tinh thần tự học và nguyên tắc “người biết dạy người chưa biết” của Bác được phát huy tối đa, trở thành động lực cho phong trào. Các lớp học kỹ năng số được tổ chức rộng khắp, nơi các cán bộ trẻ, những người am hiểu công nghệ đóng vai trò “thầy giáo” hướng dẫn và truyền đạt kiến thức một cách gần gũi, thiết thực cho đồng đội. Sự tương tác hai chiều này tạo nên một môi trường học tập tích cực và hiệu quả. Bên cạnh đó, việc chủ động tìm hiểu các tiêu chuẩn và thực tiễn tốt nhất trên thế giới được khuyến khích mạnh mẽ, tạo ra một không khí thi đua sôi nổi, thúc đẩy tinh thần tự giác học hỏi và khám phá của mỗi quân nhân, biến quá trình học tập thành một nhu cầu tự thân.

Song hành với đó, việc đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ thông tin và các công cụ hỗ trợ học tập số là nền tảng vững chắc, bảo đảm tính khả thi của quá trình “Bình dân học vụ số”. Các hệ thống mạng nội bộ hiện đại, thư viện điện tử và nền tảng học tập trực tuyến (E-learning) được phát triển và đưa vào sử dụng, giúp cán bộ, chiến sĩ tiếp cận nguồn tài liệu số chất lượng cao mọi lúc, mọi nơi. Việc trang bị các thiết bị công nghệ hiện đại phục vụ huấn luyện, diễn tập, mô phỏng cũng là ưu tiên hàng đầu, giúp quân nhân làm quen và thành thạo các khí tài, công nghệ mới nhất, sẵn sàng cho các cuộc diễn tập chung và trao đổi nghiệp vụ với quân đội các nước, rút ngắn khoảng cách về công nghệ.

Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ quân sự để bắt kịp và hội nhập sâu rộng vào xu thế toàn cầu. Quân đội ta chủ động tìm kiếm các đối tác nước ngoài có kinh nghiệm sâu rộng trong chuyển đổi số quốc phòng, an ninh mạng và phát triển công nghệ cao. Nhiều chương trình hợp tác song phương và đa phương, chuyển giao công nghệ, đào tạo chuyên sâu tiếp tục được triển khai hiệu quả, giúp Quân đội tiếp cận những xu hướng và công nghệ tiên tiến từ các nước bạn. Việc mời các chuyên gia hàng đầu từ bên ngoài đến chia sẻ kiến thức, tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chuyên đề quốc tế cũng góp phần nâng cao trình độ chung của toàn quân, mở rộng tầm nhìn và khả năng thích ứng linh hoạt với bối cảnh an ninh toàn cầu đầy biến động.

Cuối cùng, công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết được thực hiện thường xuyên và bài bản để bảo đảm tính định hướng, hiệu quả và bền vững của phong trào “Bình dân học vụ số”. Những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và ứng dụng công nghệ số, cũng như trong các hoạt động hợp tác quốc tế được kịp thời biểu dương và nhân rộng điển hình. Đồng thời, những hạn chế, bất cập cũng được rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc để khắc phục kịp thời và không ngừng hoàn thiện. Điều này bảo đảm “Bình dân học vụ số” trở thành một hoạt động thường xuyên, có chiều sâu và bền vững, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và vững vàng vị thế trong quá trình hội nhập quốc tế./.
Ảnh: Giảng viên hướng dẫn học viên Học viện Hải quân sử dụng trang bị kỹ thuật hàng hải.

Ảnh: Học viện Hải quân tổ chức tập huấn xây dựng học liệu số.
Môi trường ST.

 

ĐÁNH GIÁ ĐÚNG CÁN BỘ LÀ NHÂN TỐ PHÁT HUY TINH NĂNG ĐỘNG SÁNG TẠO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI

Ngày nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Các điểm nóng về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng, tác động đến hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, những nguy cơ, thách thức đã dự báo, không những chưa được khắc phục mà còn phức tạp hơn…đặt ra những yêu cầu cao về nhận thức lý luận và phát huy vai trò của lý luận trong thời kỳ mới cho cán bộ, đảng viên. Cụ thể: Khi Đảng quan tâm tới chính sách cán bộ; đánh giá và sử dụng cán bộ. Hồ Chí Minh đã đề cập toàn diện tới các vấn đề có ý nghĩa là động lực phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ như: cất nhắc, lựa chọn sử dụng, bố trí cán bộ, giữ gìn, yêu thương cán bộ và có quan điểm xem xét đánh giá khoa học... Hiệu quả của việc dùng người phụ thuộc vào cách của người dùng, trong dùng người phải dùng người ngay thẳng, trung thực, có tài, tránh dùng những kẻ xu nịnh, bất tài. Khi sử dụng cán bộ phải hết sức chú ý khắc phục những yếu tố có tác động tiêu cực mà Người chỉ ra như: "Hiểu biết cán bộ; khéo dùng cán bộ; cất nhắc cán bộ; thương yêu cán bộ; phê bình cán bộ"[1].  Thương yêu cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: " Thương yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp cho họ sửa chữa ngay....Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ "bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu". Lúc phê bình họ, ta chớ có thái độ gay gắt. Lúc khen ngợi họ, ta phải cho họ hiểu rằng: năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo"[2].  

[1] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.5, tr.317.
[2] Sđ d, tr.323.

 

VẬN DUNG LÝ LUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIẾN 
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI

Theo Hồ Chí Minh, vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiên phải luôn luôn sáng tạo, không áp đặt một cách máy móc, giáo điều, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận.

Vận dụng sáng tạo lý luận trong hoạt động thực tiễn là biểu hiện tập trung nhất của việc phát huy vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn của cán bộ. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi cán bộ , đảng viên: Lý luận và thực tiễn là hai mặt của một quá trình thống nhất biện chứng trong mọi lĩnh vực hoạt động của cán bộ, mọi sự tách rời hoặc tuyệt đối hoá về lý luận hoặc thực tiễn đều dẫn tới sai lầm. Người viết: "Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem dược hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách". Phát huy vai trò lý luận đối với hoạt động thực tiễn của cán bộ chiến dịch, chiến lược thể hiện ở nguyên tắc, phương pháp luận trong dẫn dắt, định hướng và những cơ sở khoa học trong việc tìm kiếm phương pháp, cách thức tổ chức phù hợp. Đồng thời, qua quá trình vận dụng vào thực tiễn, lý luận mới thường xuyên dược kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển, không bị lạc hậu: khi đó lý luận mới phát huy được chức năng chỉ dạo thực tiễn: cho nên Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận.

Lý luận được phát huy trong hoạt dộng thực tiễn của người cán bộ trước hết phải được thể hiện ở việc lập kế hoạch. Bởi vì, làm việc có kế hoạch thể hiện sự năng động, sáng tạo của con người trong vận dụng lý luận vào thực tiễn. Hồ Chí Minh phê phán làm việc theo cách quan liêu "đóng cửa lại mà định kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo". Người còn quả quyết rằng, làm theo cách quan liêu đó thì dân oán, dân oán dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại. Trên cơ sở kế hoạch người cán bộ phải căn cứ vào tình hình cụ thể, chủ động phát huy sức mạnh của tập thể để kế hoạch được thực thi trên hiện thực. Hồ Chí Minh viết: "Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp".

Tổng kết khái quát kinh nghiệm, giải quyết tốt mối quan hệ kinh nghiệm với thực tiễn là vấn đề quan trọng để phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ. Người khẳng định: "Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ". Người đã phân tích sâu sắc cách khái quát kinh nghiệm quần chúng thành những ý kiến chung, thành những chỉ thị mới và phê phán thái độ không tích cực tổng kết, khái quát kinh nghiệm, cho nên ý kiến người lãnh đạo, chỉ huy thành ra ý kiến suông, không hợp với tình hình thực tế.

Cùng với sự vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn. giải quyết tốt mối quan hệ lý luận và thực tiễn, lý luận với kinh nghiệm, Hồ Chí Minh còn chỉ ra sự cần thiết phải chống "bệnh chủ quan", 'bệnh hẹp hòi", "tri thức một nửa"... thông qua đó để phát huy vai trò lý luận trong hoạt động thực tiễn của cán bộ./.

 

VAI TRÒ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THỰC TIẾN TRONG TÁC PHẨM "SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ MỚI

Tháng 10 - 1947, trong bộn bề công việc của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc". Đây là một tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và là một di sản vô giá đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảy mươi bảy năm trôi qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, Nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước phát triển nền kinh tế thị trường  định hướng xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đang đòi hỏi Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải tiếp tục sửa đổi lối làm việc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận và luôn quan tâm tới việc học tập lý luận của cán bộ. Những tư tưởng của Người về vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn và về công tác “Huấn luyện lý luận” cho cán bộ là di sản vô cùng quý giá của Đảng, của dân tộc ta. "Sửa đổi lối làm việc" là một trong những tác phẩm lớn của Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy rõ điều này.

Trên cơ sở thấm nhuẩn sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lý luận cách mạng đối với Đảng cách mạng và phong trào cách mạng, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá, sáng tạo những vấn đề lý luận, vai trò lý luận với thực tiễn v.v... Người đi sâu chỉ rõ lý luận là gì? Đó là: "Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính". Người chỉ rõ vai trò của lý luận như thế nào ? "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế".  "Lý luận chân chính" mà Hồ Chí Minh đưa ra thực chất là lý luận khoa học có vai trò to lớn đối với thực tiễn. Người viết: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi". "Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại".

Xuất phát từ vai trò của lý luận cách mạng với thực tiễn cách mạng, xuất phát từ những hạn chế, bất cập về trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ. Hồ Chí Minh đã chỉ ra tầm quan trọng và tính cấp thiết phải nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ và Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận trong thực tế: đồng thời, phải chữa các bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Đối với cán bộ "mắc bệnh" kinh nghiệm Người nói: " Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ". Thực chất của tinh thần đó là mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ chiến dịch, chiến lược nói riêng cần phải tích cực, chủ động nắm bắt yêu cầu của thực tiễn, không ngừng phát huy vai trò của lý luận trong hoạt động thực tiễn của mình.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quán triệt tinh thần thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí. Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kết luận về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.

Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006, của Hội nghị Trung ương 3 khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” nhận định, tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta; từ đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”. Nghị quyết đã đề ra 10 giải pháp để phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Ngày 25-5-2012, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ban hành Kết luận số 21-KL/TW, “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa X”. Nghị quyết khẳng định cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X, chú trọng cả phòng, chống tham nhũng và phòng, chống lãng phí, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, sớm khắc phục hạn chế, yếu kém để tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác này. Nghị quyết cũng đề ra sáu nhiệm vụ, giải pháp, trong đó nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cũng như cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Xuất phát từ tình hình thực tế, ngày 21-12-2012, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW “Về việc đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, trong đó nêu rõ tình hình lãng phí vẫn còn xảy ra nghiêm trọng, gây bức xúc trong xã hội, nhất là trong bối cảnh kinh tế đất nước và đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chỉ thị nêu lên 8 nhiệm vụ trọng tâm yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tập trung thực hiện.

Ngày 25-12-2023, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”. Chỉ thị nhận định: Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa sâu sắc, đầy đủ; có lúc, có nơi tổ chức chưa tốt, chấp hành chưa nghiêm; một số cơ quan, đơn vị, địa phương, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tình trạng lãng phí, thất thoát còn nhiều, một số trường hợp rất nghiêm trọng. Chính sách, pháp luật, nhất là chính sách, pháp luật về quản lý tài chính, tín dụng, tài sản công, đầu tư công, đất đai, đấu thầu... chưa hoàn thiện, còn bất cập. Việc thực hiện kết luận, kiến nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán liên quan đến vấn đề này còn chậm. Công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được quan tâm đúng mức(9). Từ thực trạng ấy, Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị định hướng cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp và quán triệt tinh thần Chỉ thị đến từng chi bộ, đến từng cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí... chưa có chuyển biến rõ rệt..., xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế... Tham nhũng, lãng phí... vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp... ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”.

Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Quốc hội đã thông qua Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 và năm 2013. Điều 56, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí

         Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhiều lần, trong các bài viết, bài nói chuyện, Người đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên và nhân dân hết sức chú ý đến việc phòng, chống xa hoa, lãng phí, sử dụng hợp lý và hiệu quả tiền của, thời gian, công sức. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần, kiệm chính là phẩm chất của người cách mạng, đã là người cách mạng thì phải thường xuyên thực hành và nêu gương cần, kiệm, phòng, chống lãng phí. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Người cũng không tán đồng cách hiểu và thực hành tiết kiệm một cách cực đoan. Tiết kiệm không đồng nghĩa với keo kiệt, bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, “gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu”. Người nêu rõ tầm quan trọng của việc tiết kiệm. Tiết kiệm thời gian, sức người, sức của, tập trung nguồn lực cho sản xuất thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy xã hội phát triển. Người người cùng tiết kiệm, nhà nhà cùng tiết kiệm thì sẽ tích lũy được của cải cho công cuộc kiến quốc, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

    Trái ngược với tiết kiệm là lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích tác hại của thói lãng phí. Người chỉ rõ “Tham ô có hại; nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến...”. Bởi vì tham ô có thể chỉ tập trung ở một số ít người, nhưng lãng phí thì rất phổ biến, ai cũng có nguy cơ mắc căn bệnh này, lãng phí của công và lãng phí của tư đều có khả năng làm suy giảm nguồn lực xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nguồn gốc của lãng phí: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa”. “Lãng phí có nhiều nguyên nhân. Hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo. Hoặc vì trong khi thực hiện kế hoạch tính toán không cẩn thận. Hoặc vì bệnh hình thức, xa xỉ, phô trương. Hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công. Nói tóm lại là vì thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước và của nhân dân”.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ: “Phải quý trọng của công: Tất cả cái ăn, cái mặc, cái dùng của các cô, các chú là mồ hôi nước mắt của đồng bào. Phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí”. Người cho rằng lãng phí là một thứ giặc mà chúng ta phải đương đầu, phải kiên quyết đấu tranh để loại bỏ. “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Vì vậy, chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy”.

    Không chỉ phê phán thói lãng phí, kêu gọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân tích cực, hăng hái thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính. Từ bữa ăn, tấm áo cho đến công việc của Đảng, của đất nước, Người luôn giản dị, tiết kiệm, khiêm nhường; một đời tận hiến, phụng sự cho Tổ quốc, cho nhân dân. Trong Di chúc (năm 1969), Người căn dặn: “Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”

Kiểm tra bắn súng kết thúc huấn luyện chiến sĩ mới tại sư đoàn 301 Bộ tư lệnh Thủ đô

Đạt 82 điểm-giành hoa bắn giỏi sau loạt bắn, chiến sĩ Nguyễn Văn Bách (Đại đội 2, Tiểu đoàn 4) hào hứng chia sẻ: "Để có được kết quả này, quá trình huấn luyện, tôi luôn nắm chắc yếu lĩnh, tích cực luyện tập. Nội dung nào chưa rõ, tôi đều hỏi chỉ huy và kịp thời rút kinh nghiệm sau từng lần tập. Ngoài ra, tôi còn chủ động mang theo sổ tay cá nhân để ghi chép nội dung quan trọng cần nhớ. Nhờ đó, tôi luôn nắm vững kiến thức, những điểm chú ý trong huấn luyện các nội dung”. Khác với chiến sĩ Nguyễn Văn Bách có sự tiến bộ và thể hiện năng khiếu ngay từ những buổi đầu luyện tập, chiến sĩ Phùng Anh Thái (Đại đội 1, Tiểu đoàn 4) lại “vạn sự khởi đầu nan”. Kết quả 3 lần bắn phân đoạn của Thái khá thấp. Sau nhiều lần được chỉ huy đơn vị rút kinh nghiệm, với quyết tâm cao, Thái luôn nghiêm túc trong huấn luyện, chủ động luyện tập thêm ngoài giờ. Nhờ đó, Thái đã giành hoa bắn giỏi trong đợt kiểm tra 3 tiếng nổ. Tâm sự với chúng tôi sau khi hoàn thành nội dung kiểm tra bắn súng, Thái phấn khởi cho biết: “Sau nhiều lần có kết quả bắn chưa tốt, tôi đã tự rút kinh nghiệm và chủ động hỏi chỉ huy, được các anh tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tập thêm, chia sẻ kinh nghiệm, rèn luyện về thể lực và tâm lý khi tiếp xúc với đạn thật. Nhờ đó, tôi đã tiến bộ hơn và hôm nay giành được hoa bắn giỏi". Càng về trưa, nắng càng gắt, các loạt đạn vẫn vang rền trên thao trường huấn luyện của Trung đoàn 692 và những bông hoa điểm mười cũng tiếp tục nở rộ. Trên gương mặt sạm đen vì nắng gió của các chiến sĩ luôn nở nụ cười tươi, khẳng định thành công của một mùa huấn luyện.

Cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về chính sách biển đảo của Việt Nam


Giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là nâng cao nhận thức chính trị và khả năng “đề kháng tư tưởng” của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Theo đó, tăng cường tuyên truyền sâu rộng, dễ hiểu và thường xuyên về các chủ trương, chính sách quốc phòng, đặc biệt là chiến lược quốc phòng “4 không” của Việt Nam. Giúp người dân hiểu rõ bản chất hòa bình, chính nghĩa, tự vệ của quốc phòng Việt Nam, từ đó tự tin, vững vàng trước các thông tin bịa đặt. Trang bị kiến thức pháp lý quốc tế về chủ quyền biển, đảo để làm cơ sở phản bác các quan điểm sai lệch về quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế.

Chủ động phản bác, ngăn chặn thông tin sai trái ngay từ khi mới xuất hiện trên không gian mạng. Thiết lập và vận hành hiệu quả các lực lượng đấu tranh trên không gian mạng. Sử dụng tiếng nói của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, cựu chiến binh, người từng công tác trong LLVT để phản bác bằng lý lẽ khoa học, dẫn chứng thực tế, góp phần tạo niềm tin vững chắc trong dư luận. Khuyến khích người dân tham gia “làm sạch” không gian mạng, thông qua việc báo cáo tin giả, không chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng và chủ động chia sẻ những nội dung tích cực, truyền cảm hứng về tình yêu biển, đảo và trách nhiệm công dân.

Tăng cường giáo dục lý luận chính trị-pháp luật trong toàn xã hội; đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển, đảo, nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá vào chương trình học phổ thông, đại học và các lớp bồi dưỡng chính trị, giúp hình thành tư duy độc lập, phản biện lành mạnh. Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị chuyên đề trong hệ thống chính trị, đoàn thể, nhất là trong lực lượng đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, qua đó nâng cao ý thức giữ vững trận địa tư tưởng. Tăng cường các diễn đàn đối thoại, tọa đàm, giao lưu giữa LLVT và nhân dân để trực tiếp giải đáp các vấn đề nóng, nhạy cảm về biển, đảo, quốc phòng, xây dựng lòng tin vững chắc và sự gắn bó máu thịt quân dân.

Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và người có ảnh hưởng lớn. Các cơ quan báo chí chủ động, nhanh nhạy, chính xác, kịp thời phản ánh sự thật, định hướng dư luận một cách có trách nhiệm và nhân văn. Tăng cường sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo, gần gũi giới trẻ như video ngắn, infographic, podcast... để truyền tải thông điệp yêu nước, niềm tin chính trị, trách nhiệm công dân với biển, đảo Tổ quốc. Khuyến khích các nhà báo, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tích cực lan tỏa thông tin chính thống, phản bác thông tin sai trái một cách có lý, có tình, góp phần tạo ra “vùng thông tin xanh” trên môi trường mạng.

Cùng với tuyên truyền, đấu tranh, cần thực thi pháp luật một cách mạnh mẽ, nghiêm minh để phòng ngừa hiệu quả. Xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi tán phát thông tin sai lệch, kích động chia rẽ, bôi nhọ LLVT, xuyên tạc chính sách quốc phòng, đặc biệt trong thời gian cao điểm chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp. Tăng cường năng lực giám sát, phát hiện và xử lý tin giả của các cơ quan chức năng, kết hợp giữa công nghệ và nhân lực để tạo “lá chắn kỹ thuật số” hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp lý về an ninh mạng, thông tin, truyền thông, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị-xã hội trong quản lý và đấu tranh trên không gian mạng. Tăng cường công khai, minh bạch các chính sách quốc phòng, đối ngoại, giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển, đảo, giúp người dân không bị mơ hồ mà tỉnh táo nhận thức đúng trước sự nhiễu loạn thông tin

Chính sách biển đảo của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn

 Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối quốc phòng toàn dân, thế trận biển, đảo vững chắc trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: Hòa bình, tự vệ, không liên minh quân sự. Từ năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định đường lối quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu nhưng không tách rời khỏi nghĩa vụ quốc tế và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách QPAN "4 không" này không chỉ thể hiện lập trường độc lập, tự chủ của Việt Nam mà còn phản ánh tư duy chiến lược tỉnh táo, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm vừa giữ vững chủ quyền, vừa đóng góp vào hòa bình, ổn định chung.

Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo dựa trên đầy đủ bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý vững chắc và phù hợp với UNCLOS 1982. Tất cả hoạt động bảo vệ chủ quyền, tài nguyên và duy trì trật tự, an ninh trên biển của Việt Nam đều tuân thủ nghiêm các quy định quốc tế, không gây hấn, không xâm phạm chủ quyền các nước khác. Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế biển, khai thác tài nguyên, cũng như huấn luyện, diễn tập quân sự trong phạm vi chủ quyền đều nằm trong khuôn khổ hợp pháp và minh bạch, được thông tin công khai. Điều này cho thấy Việt Nam không hề “mập mờ” hay “thiếu minh bạch” như các thế lực phản động xuyên tạc. Thực tế, Việt Nam là quốc gia đi đầu trong việc kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, đàm phán song phương và đa phương, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Việt Nam hiểu rõ rằng, hòa bình chỉ bền vững khi có sức mạnh bảo vệ, do đó, việc củng cố tiềm lực quốc phòng là tất yếu, nhưng không phải để gây chiến, mà để phòng ngừa xâm lược và bảo vệ lợi ích quốc gia. LLVT nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng... làm nhiệm vụ trên biển luôn duy trì tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao, làm chủ tình hình, xử lý linh hoạt, đúng mực trong mọi tình huống. Việc xây dựng các lực lượng này không nhằm chạy đua vũ trang mà để mỗi tấc đất, tấc biển của Tổ quốc đều được gìn giữ bởi chính con em nhân dân. Chủ trương kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, quốc phòng với đối ngoại cũng là điểm sáng trong chính sách của Việt Nam. Đây là chiến lược bền vững, giúp đất nước phát triển mạnh mẽ từ bên trong, đồng thời nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ mang tính chất nội bộ mà còn đóng vai trò tích cực trong khu vực và thế giới. Việt Nam là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, hòa bình, thịnh vượng. Việt Nam nhiều lần lên tiếng phản đối hành vi vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, nhưng luôn theo hướng kiềm chế, thiện chí và cầu thị, vì hòa bình và thượng tôn pháp luật, được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế ghi nhận. Việt Nam cũng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, gửi lực lượng đến nhiều điểm nóng như Nam Sudan, Trung Phi... cho thấy hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh chính trị và tinh thần trách nhiệm cao đối với dân tộc và cộng đồng quốc tế. Đó là chính sách đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch, thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình nhưng không chấp nhận đánh đổi chủ quyền, độc lập dân tộc. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo chính sách này không làm thay đổi được bản chất đúng đắn, mà ngược lại càng cho thấy sự bất lực của chúng trước một Việt Nam ngày càng ổn định, vững mạnh và có uy tín trong khu vực cũng như trên thế giới