Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2025

Luận điệu "châm dầu vào lửa"

Trong bối cảnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” do Đảng lãnh đạo đang diễn ra quyết liệt, còn lâu dài và phức tạp. Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội đã ít nhiều làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước và pháp luật. Khoét sâu những khuyết điểm, tổ chức phản động Việt Tân ngày càng ráo riết lợi dụng sự bất mãn trong một bộ nhân dân để tuyên truyền, kích động, lôi kéo người dân. Chúng không nhằm mục đích xây dựng hay cải cách đất nước, mà mục tiêu cuối cùng là gây mất ổn định, chia rẽ nội bộ, tiến tới lật đổ và thay thế bằng một thể chế không rõ ràng, vô trách nhiệm và càng dễ bị ngoại bang chi phối.

Sự thật là trong khi một bộ phận người dân đang phẫn nộ vì các vụ tham ô hàng ngàn tỷ, hay vì những phát ngôn gây tranh cãi của quan chức, thì Việt Tân lại cố tình “châm dầu vào lửa”, dựng lên hình ảnh một Việt Nam suy đồi không thể cứu vãn. Chúng kêu gọi “đấu tranh dân chủ”, nhưng thực chất là cổ vũ cho bạo loạn, đả phá mọi thành tựu dù là nhỏ nhất của đất nước. Một số cá nhân, vì quá phẫn nộ trước bất công, có thể bị lôi kéo mà không nhận ra rằng mình đang trở thành công cụ trong chiến lược phá hoại quốc gia từ bên ngoài.

Phê phán tham nhũng, đòi hỏi minh bạch, công lý, đó là quyền chính đáng của mỗi người dân yêu nước. Nhưng để một tổ chức như Việt Tân - tổ chức lưu vọng, bị xếp vào danh sách phản động, nhận tài trợ từ nước ngoài và không có nền tảng xã hội trong nước đứng ra “lãnh đạo” các phong trào chính trị là điều nguy hiểm. Chúng không đại diện cho dân chủ, mà đang lợi dụng dân chủ để nói xấu chế độ ta, chống phá Đảng, Nhà nước ta và đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Tại báo cáo giải trình, tiếp thu, Bộ Công an cho biết việc đề xuất bỏ tử hình đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ vì 4 lý do.

Thứ nhất, thực tiễn cho thấy tội danh này đã được đa số các nước trên thế giới không quy định hình phạt tử hình hoặc đang có xu hướng bỏ hình phạt tử hình.

Thứ hai, thực tiễn nhiều nước trên thế giới đã yêu cầu Việt Nam phải cam kết không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tuyên nhưng không thi hành án tử hình đối với những vụ án về tham nhũng, chức vụ.

Thứ ba, những tội này không phải là "tội ác", không xâm phạm đến tính mạng con người, không xâm phạm trực tiếp đến và chủ thể đặc biệt là an ninh quốc gia. Do vậy không cần thiết phải tước bỏ mạng sống của họ.

Thứ tư, việc không áp dụng hình phạt tử hình và thay bằng tù chung thân không xét giảm án vẫn bảo đảm tính răn đe vì hình phạt tù chung thân không xét giảm án cũng là hình phạt đặc biệt nghiêm khắc, tước đi sự tự do vĩnh viễn của một con người.

Bỏ tử hình với tội tham ô có thể gây tranh cãi, có thể gây nên sự bức xúc trong một bộ phận nhân dân. Nhưng thay vì để những tổ chức phản động như Việt Tân chớp lấy thời cơ, gieo rắc hận thù, điều chúng ta cần là tăng cường giám sát xã hội, minh bạch hóa quá trình xét xử, nâng cao vai trò của báo chí, truyền thông và tạo điều kiện để người dân bày tỏ chính kiến một cách hợp pháp, văn minh, hiệu quả.

Dân tộc Việt Nam với bề dày hàng ngàn năm lịch sử, đặc biệt là những thành tựu nổi bật của gần 40 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta không thể để những chiêu trò tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, vu khống của các tổ chức phản động như Việt Tân phá hoại, kéo lùi sự phát triển của lịch sử dân tộc. Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới, bước vào “Kỷ nguyên mới”, “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, mỗi người dân cần nhận thức sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề cao cảnh giác cách mạng, tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc của những kẻ đội lốt yêu nước để đẩy dân tộc vào vòng xoáy hỗn loạn.

Việt Tân không có chỗ đứng ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng xuất phát từ nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đổi mới ở Việt Nam là sự hoà quyện của ý Đảng, lòng dân, bằng trí tuệ, bằng pháp lý và bằng sự đồng lòng của nhân dân, chứ không phải bằng sự thù hằn, lật đổ hay can thiệp từ bên ngoài.

Sưu tầm

Đừng đánh đồng an ninh với “công an trị”

Gần đây, một số luận điệu cố tình xuyên tạc chính sách tổ chức bộ máy nhà nước, khi cho rằng việc bố trí thêm lực lượng công an ở cấp xã, phường là “thời công an trị đã tới”. Đây là nhận định phiến diện, mang tính kích động, cần phải được phản biện một cách thẳng thắn và có lý lẽ.

Thứ nhất, việc sáp nhập đơn vị hành chính là chủ trương nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lý. Khi địa bàn quản lý rộng hơn, dân số đông hơn, thì việc tăng cường lực lượng công an để đảm bảo an ninh trật tự là điều tất yếu và hợp lý. Không có chuyện “đàn áp”, mà là để bảo vệ dân sinh và phòng chống tội phạm.

Thứ hai, lực lượng công an nhân dân là lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ. Việc bố trí công an chính quy tại các địa phương đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong giữ gìn trật tự, xử lý tội phạm ma túy, bạo lực gia đình, trộm cắp… Nhân dân là người hưởng lợi đầu tiên từ sự hiện diện của lực lượng này.

Thứ ba, luận điệu “công an trị” là sự áp đặt theo lối suy nghĩ cực đoan, đánh đồng lực lượng chấp pháp với đàn áp, gây mất lòng tin trong nhân dân. Trong khi trên thực tế, công an cơ sở không chỉ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh mà còn tham gia hỗ trợ phòng chống dịch, cứu hộ, cứu nạn, dân vận, giúp dân khắc phục thiên tai…

Cuối cùng, không ai có thể phủ nhận vai trò then chốt của công an trong ổn định xã hội – nền tảng cho phát triển kinh tế, đầu tư, du lịch, và cải thiện đời sống nhân dân.

Việc bố trí lực lượng công an phù hợp với thực tiễn không phải là dấu hiệu của “công an trị”, mà là minh chứng cho sự quan tâm đến an toàn, an ninh cộng đồng. Những luận điệu xuyên tạc kiểu này cần được nhận diện rõ và bác bỏ để bảo vệ niềm tin vào chính quyền và sự ổn định của đất nước.

Sưu tầm

Nhận diện, đấu tranh với sự biến tướng của căn bệnh quan liêu

Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, ngoài mệnh lệnh hành chính, nếu người chỉ huy và cấp dưới đặt mình vào vị trí của nhau để cùng chia sẻ, thấu hiểu trách nhiệm ở mỗi cấp thì sẽ tạo được sự đoàn kết nhất trí cao, trên dưới một lòng và hiệu quả công việc sẽ cao hơn. Tuy nhiên, do mắc vào căn bệnh “quan liêu” nên vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) xa rời thực tế, xa quần chúng; nặng về áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn. Đúng như  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan chủ”. Đây  chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của CB, ĐV cần phải đấu tranh loại bỏ.

Chân dung của người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phác họa là “nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”. Vì mắc bệnh quan liêu, tất nhiên những CB, ĐV này sẽ không sâu sát thực tế, quen ngồi nghe báo cáo không kiểm tra, nên sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng trong hai khâu quan trọng nhất là:  Hoạch định chính sách, ra quyết định và công tác cán bộ. Và chân dung người CB, ĐV mắc bệnh quan liêu như Bác đã chỉ ra vẫn còn xuất hiện đâu đó trong những hội nghị, sự kiện quan trọng thời gian qua. Cụ thể, hiện nay là thời điểm các chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở trong toàn Đảng tiến hành đại hội. Đại hội là một sự kiện chính trị quan trọng, không chỉ đánh dấu một kỳ sinh hoạt chính trị sâu rộng trong Đảng, mà còn là dịp để mỗi đảng viên cùng nhau nhìn lại quá trình hoạt động, phát triển và đóng góp của chi bộ trong nhiệm kỳ qua. Trước thềm một sự kiện chính trị quan trọng như vậy, bao giờ cũng có đại biểu cấp trên về dự. CB, ĐV và nhân dân rất phấn khởi khi biết tin, sẽ có thủ trưởng cấp trên về dự và phát biểu chỉ đạo. Do tâm lý chung của mọi người đều rất kỳ vọng vào lãnh đạo cấp trên, bởi vì cấp trên bao giờ cũng công tâm, khách quan, nhìn thẳng, nhìn thật, nhìn sâu vào thực tiễn cơ sở bằng lăng kính của người lãnh đạo, bằng tư duy sâu sắc và tầm nhìn phổ quát để định hướng những nội dung có tâm, có tầm, khác về chất so với nhận thức của cấp dưới và quần chúng, từ đó giúp cấp dưới định hướng phương hướng thời gian tới để thực hiện tốt hơn. Thế nhưng, tại đại hội long trọng ấy, mọi sự háo hức của CB, ĐV và nhân dân bỗng trở thành nỗi thất vọng. Sau phần nghe báo cáo trung tâm và các ý kiến thảo luận, đại hội rất mong được lĩnh hội chỉ đạo của đại biểu cấp trên để sớm tháo gỡ một số vướng mắc trong công tác, tổ chức thực hiện và định hướng phương hướng thời gian tới. Thế nhưng, sự chờ đợi ấy bỗng trở thành công cốc vì bài phát biểu chỉ đạo của cấp trên quá dài, khoảng 4 đến 5 nghìn chữ và cứ thế đọc một lèo, chủ yếu nhắc lại nội dung trong báo cáo. Những ý thoát ly được văn bản lại quá chung chung, chưa sát, đúng với đặc điểm tình hình thực tế. Thoạt đầu, mọi người còn chú ý lắng nghe; nhưng về sau, bài phát biểu cứ thế kéo dài, với giọng đọc chậm rãi, đều đều nên sinh ra nhàm chán. Việc CB, ĐV cấp trên phát biểu chỉ đạo “mênh mông” nêu trên cũng là thực trạng tồn tại từ nhiều năm nay ở đội ngũ cán bộ nhiều cấp. 

Thông qua biểu hiện trên cho thấy, những CB, ĐV mắc căn bệnh “quan liêu” thì trong nhận thức họ đã tự đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Còn trong hoạt động thực tiễn, những CB, ĐV này không nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận CB, ĐV như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất cao với đội ngũ cán bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Theo Người: “Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh”. Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính khoa học và cách mạng, Bác đặc biệt nhắc nhở CB, ĐV tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”. Đặc biệt, Người phê phán cách chỉ đạo thiếu cơ sở, chỉ đạo cho có, chỉ đạo nhiều nhưng hiệu quả không cao. Những chỉ dạy quý báu đó đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự và giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn. Bởi vì, cán bộ lãnh đạo là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương nên công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương. Mặt khác, việc xây dựng đường lối lãnh đạo đúng đắn, hoạch định chiến lược phát triển, nội dung chỉ đạo đúng, trúng không chỉ khẳng định năng lực lãnh đạo của người đứng đầu mà còn thể hiện sự hiểu biết về ngành, lĩnh vực và địa phương mình đang phụ trách. Từ chuyện chỉ đạo chung chung, phương phưởng, ai cũng nghĩ vô hại, nhưng đặt ra yêu cầu cần chỉnh sửa ngay lề lối làm việc, tác phong công tác của CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp, để CB, ĐV có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đột phá vì lợi ích chung; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết là rất quan trọng, cần thiết, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Vì vậy, để tránh mắc vào căn bệnh “quan liêu” và những biến tướng nguy hiểm của nó, thì trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác, mỗi CB, ĐV nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải tăng cường hoạt động thực tiễn, sẵn sàng dấn thân, hy sinh lợi ích cá nhân. Dám đi đầu, đổi mới, loại bỏ cái cũ, cái lạc hậu; khơi thông điểm nghẽn, giải quyết vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đó cũng là cơ sở để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khi cấp trên hoàn thành nhiệm vụ là đồng nghĩa với sự thấu hiểu nhiệm vụ cấp dưới của mình, nhìn thấy rõ vấn đề cơ sở đang cần, cấp dưới chưa biết, hoặc khơi gợi, giúp cấp dưới cách thức, hướng đi nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn. Có vậy thì cấp dưới mới nghe, mới cần, mới tin và trân quý sự chỉ đạo. Muốn làm được như thế, cán bộ lãnh đạo nhất thiết phải là những người sâu sát, gần gũi với cơ sở; kiểm tra phải thực chất để nắm rõ, hiểu sâu từng thế mạnh, từng điểm yếu, điểm nghẽn mà cơ sở đang vướng mắc để có những vạch định sát, đúng, chỉ đạo sát sao, kịp thời. Bên cạnh đó, cán bộ chủ trì, chủ chốt phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, thực sự là những “chuyên gia” hàng đầu trong ngành, lĩnh vực mình phụ trách. Có như vậy, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ mới đi vào thực chất, hiệu quả và căn bệnh “quan liêu” sẽ tiêu tán không còn./.

Sưu tầm

AI và mối nguy từ ma trận tin giả “Bình dân học vụ số” và những việc cần làm ngay.

Háo hức, tò mò với cái mới là tâm lý chung không chỉ của người Việt. Sự xuất hiện của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trong đời sống xã hội không là ngoại lệ. Tham gia Phong trào “Bình dân học vụ số” nhằm phổ cập kiến thức, kỹ năng ứng dụng AI phục vụ cho chuyển đổi số trong hệ thống chính trị các cấp là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, AI không phải là “đũa thần”. Nếu tuyệt đối hóa, lệ thuộc vào nó, sử dụng sai mục đích dẫn đến mê sảng vì nó, cái giá phải trả là rất khó lường.

Trên phương diện đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, báo chí là mặt trận tiên phong và nhà báo là những chiến sĩ tiên phong. Trong “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, Đảng ta xác định, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, rộng khắp; xác lập, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước...

Với phương châm lấy “xây” để “chống”, Phong trào “Bình dân học vụ số” chính là sự cụ thể hóa các giải pháp nhằm mục tiêu trước mắt là phổ cập kiến thức, kỹ năng ứng dụng AI cho cán  bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống chính trị; cán bộ, chiến sĩ trong LLVT. Việc này vừa góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công vụ, vừa có cơ sở, nền tảng công nghệ để tham gia nhận diện, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; hình thành thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng. Chính vì vậy, người dùng AI phải có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về AI để có phương thức khai thác, ứng dụng nó một cách thông minh, hiệu quả. Theo các chuyên gia an ninh mạng, dù phát triển đến trình độ nào, đẳng cấp nào thì con người vẫn phải điều khiển AI, không lạm dụng để AI điều khiển mình. Nhấn mạnh vấn đề này bởi, những chiêu thức do các thế lực thù địch thực hiện nhằm chống phá đất nước thường đánh mạnh vào yếu tố tâm lý nhằm thao túng tâm lý đối tượng để dẫn dắt, dụ dỗ, mê hoặc đối tượng nghe theo, tin theo, làm theo ý đồ, mưu đồ của chúng.

Theo đề xuất của một số chuyên gia an ninh mạng, trong quá trình triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số”, bên cạnh trang bị kiến thức, kỹ năng ứng dụng công nghệ AI vào giải quyết công việc theo chức trách công vụ, chúng ta cần tập huấn cho người dùng về kỹ năng bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ an toàn hệ thống dữ liệu, kỹ năng tận dụng AI tham gia tuyên truyền, đấu tranh phản bác thông tin sai trái, xấu độc trên không gian mạng. Nhận thức rõ thời cơ và những nguy cơ, thách thức từ không gian mạng và xu thế phát triển AI, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Luật An ninh mạng và các nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đây là những căn cứ, định hướng lớn để các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, triển khai các chương trình tập huấn. Cùng với đó, cần xác định Phong trào “Bình dân học vụ số” là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, quán triệt, đưa Luật An ninh mạng và các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Trong xu hướng chuyển đổi số và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, các quy định pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin, xử lý tin giả; nâng cao hiệu lực, hiệu quả pháp lý phòng, chống các hành vi lợi dụng AI xâm phạm quyền, lợi ích công dân, xâm hại an ninh quốc gia. Trung tướng, PGS, TS Nguyễn Đức Hải, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng, Bộ Quốc phòng (nay là Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam) đề xuất, Đảng, Nhà nước cần bổ sung chính sách đầu tư phát triển hạ tầng số gắn với chính sách, chế độ đãi ngộ xứng đáng để đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về AI trong các cơ quan chức năng. AI là lĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam. Chúng ta muốn đi tắt, đón đầu, thực hiện có hiệu quả chiến lược chuyển đổi số gắn với bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng thì phải có chính sách đột phá mạnh mẽ. Trong lúc chờ đợi sự bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, hệ thống pháp luật chặt chẽ, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả về AI và công nghệ số, cơ quan chức năng và hệ thống chính trị các cấp cần tăng cường công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi lợi dụng AI tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, chống phá đất nước trên không gian mạng.

Những sản phẩm AI, những mô hình sáng tạo, ứng dụng công nghệ AI hữu ích của các tổ chức, cá nhân cần được thống kê, tổng hợp, đánh giá kịp thời để có hình thức tôn vinh, rút kinh nghiệm phổ biến, nhân rộng trong môi trường “Bình dân học vụ số”. Đó cũng là cách thiết thực thúc đẩy tinh thần lấy “xây” để “chống”, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” mang màu sắc AI của các thế lực thù địch./.

Sưu tầm

Giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong thời đại trí tuệ nhân tạo

           Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi cuộc đấu tranh, và trong kỷ nguyên số, đội ngũ nhân lực chất lượng cao là chìa khóa để làm chủ AI, trở thành “bộ não” vận hành các hệ thống AI, đồng thời là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Để làm chủ AI và ứng dụng hiệu quả vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý là nhiệm vụ cấp bách và nền tảng. Hiện nay, dù Việt Nam đã có Luật An ninh mạng (năm 2018) và một số quy định liên quan đến quản lý thông tin trên không gian mạng, các quy định cụ thể về sử dụng AI trong lĩnh vực tư tưởng - chính trị vẫn còn thiếu, tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng AI cho các hoạt động chống phá.

Để kiểm soát rủi ro từ AI, tạo hành lang an toàn nhằm phát triển và ứng dụng công nghệ này một cách hiệu quả, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số đầy biến động hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, xây dựng và bổ sung quy định pháp luật về quản lý AI.

Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật chuyên biệt, quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phát triển, ứng dụng, và sử dụng AI liên quan đến nội dung chính trị, tư tưởng. Các quy định này cần tập trung vào việc ngăn chặn và xử lý nghiêm, từ phạt tiền đến truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi sử dụng AI để tạo tin giả, deepfake, hoặc lan truyền thông tin sai lệch nhằm bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc lịch sử, và gây nhiễu loạn dư luận.

Hai là, tăng cường trách nhiệm của các nhà cung cấp nền tảng AI.

Các cơ quan chức năng cần yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ AI và mạng xã hội, cả trong và ngoài nước, hoạt động tại Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật. Họ cần cung cấp công cụ kiểm soát nội dung, hợp tác với cơ quan chức năng để ngăn chặn thông tin độc hại và chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm. Các nền tảng không tuân thủ cần đối mặt với chế tài nghiêm khắc, từ phạt tiền, hạn chế hoạt động, đến cấm cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.

Ba là, xây dựng bộ quy tắc đạo đức về AI.

Nhà nước cần ban hành bộ quy tắc đạo đức cho việc phát triển và ứng dụng AI trong lĩnh vực nhạy cảm như tư tưởng, chính trị, nhấn mạnh tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tôn trọng quyền con người. Quy tắc này cần khẳng định rằng, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, và con người phải giữ vai trò kiểm soát cuối cùng trong mọi quyết định liên quan đến nội dung tư tưởng. Bộ quy tắc sẽ là “kim chỉ nam” để các nhà phát triển, nhà cung cấp dịch vụ, và cơ quan quản lý đảm bảo AI được sử dụng đúng mục đích, phục vụ lợi ích quốc gia và nhân dân.

Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi cuộc đấu tranh và trong kỷ nguyên số, đội ngũ nhân lực chất lượng cao là chìa khóa để làm chủ AI, trở thành “bộ não” vận hành các hệ thống AI, đồng thời là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Một là, đào tạo đội ngũ cán bộ hiểu biết về AI.

Các cơ quan chức năng cần tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về AI cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, báo chí, truyền thông. Các chương trình này cần tập trung vào việc nhận diện các nguy cơ từ AI, như tin giả, deepfake, hoặc thao túng dư luận, đồng thời hướng dẫn cách ứng dụng AI vào công tác tuyên truyền và phản bác quan điểm sai trái. Các khóa học cần được thiết kế linh hoạt, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, để đáp ứng nhu cầu của cán bộ ở mọi cấp.

Hai là, xây dựng lực lượng chuyên gia nòng cốt.

Cần phát triển đội ngũ chuyên gia kết hợp giữa kiến thức lý luận chính trị và công nghệ AI, có khả năng thiết kế và vận hành các hệ thống AI phục vụ công tác tư tưởng. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần mở các chương trình đào tạo liên ngành, kết hợp giữa khoa học máy tính và khoa học chính trị, để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực này.

Ba là, nâng cao “miễn dịch số” cho nhân dân.

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện tin giả, deepfake và các nội dung sai trái cho toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ - nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi thông tin trên mạng xã hội. Các chiến dịch tuyên truyền cần được triển khai trên các nền tảng số, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, hình thức sinh động như video ngắn, infographic... để thu hút sự chú ý và truyền tải thông điệp hiệu quả.

Bốn là, việc ứng dụng AI trong công tác tư tưởng cần đi đôi với kiểm tra, giám sát chặt chẽ để tránh lạm dụng hoặc sai lệch mục tiêu.

Trước tiên, cần thiết lập cơ chế giám sát việc phát triển và ứng dụng AI trong lĩnh vực tư tưởng, đảm bảo mọi hoạt động đều tuân thủ định hướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan chức năng cần có đội ngũ chuyên trách để kiểm tra định kỳ, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm, như sử dụng AI để tạo nội dung sai lệch hoặc gây hại.

Năm là, đảm bảo vai trò quyết định của con người.

Trong mọi hệ thống AI liên quan đến tư tưởng, con người phải giữ vai trò kiểm soát cuối cùng. Các quyết định quan trọng, như kiểm duyệt nội dung hoặc phản bác quan điểm sai trái, cần được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ có trình độ lý luận chính trị và trách nhiệm cao, đảm bảo AI chỉ là công cụ hỗ trợ chứ không thay thế ý chí con người. Việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ sẽ đảm bảo AI được sử dụng đúng mục đích, phục vụ hiệu quả cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng mà không gây ra những hệ lụy không mong muốn.

Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rõ, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trong kỷ nguyên số không chỉ là thử thách mà còn là cơ hội để Đảng và nhân dân Việt Nam khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, và tinh thần sáng tạo, hướng tới một tương lai tươi sáng, vững bền. Làm chủ và ứng dụng hiệu quả AI là nhiệm vụ chiến lược, cấp bách, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Với một chiến lược tổng thể, đồng bộ, và sáng tạo, quyết tâm chính trị cao, sự đầu tư bài bản và cách tiếp cận khoa học, chúng ta hoàn toàn có thể khai thác tối đa tiềm năng của AI để củng cố trận địa tư tưởng, bảo vệ vững chắc lý tưởng cách mạng./.

Sưu tầm

Chiêu thức “bôi đen then chốt” để xuyên tạc công tác cán bộ

Công tác cán bộ được Đảng ta xác định là “then chốt của then chốt”, bởi thành hay bại đều do cán bộ mà ra. Việc lựa chọn, bố trí nhân sự cho cấp ủy, chính quyền trong hệ thống chính trị của Thủ đô sau khi thực hiện sáp nhập tinh gọn bộ máy, và công tác nhân sự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng bộ Thành phố luôn được Thành ủy Hà Nội tiến hành một cách khoa học, kỹ lưỡng và theo quy trình nghiêm ngặt với những tiêu chuẩn cao về phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển Thủ đô văn minh, hiện đại. Thế nhưng, các thế lực thù địch lại ra sức công kích, bài xích công tác nhân sự của Thủ đô, hòng tạo ra sự nhiễu loạn, gây tâm lý hoài nghi cho nhân dân. Từ đó, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền Thành phố.

Trong buổi tiếp xúc cử tri ngày 18/4/2025 tại huyện Mê Linh và Sóc Sơn trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 15, đồng chí Trần Sỹ Thanh, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội cho biết, bộ máy lãnh đạo gồm cấp ủy, HĐND, UBND của các phường, xã sau sắp xếp sẽ được chỉ định tạm thời, “Biện pháp này nhằm đảm bảo sự ổn định và hoạt động thông suốt của bộ máy chính quyền ở các đơn vị mới”, cũng theo Chủ tịch UBND Thành phố, số lượng xã, phường sau sắp xếp là vấn đề nhạy cảm nên chưa thể thông tin cụ thể đến cử tri khi chưa có quyết định cuối cùng; nhưng Hà Nội sẽ theo đúng chỉ đạo của Trung ương và nỗ lực giảm khoảng 70% số lượng xã, phường. Điều đó khẳng định, Thành phố đang thực hiện nghiêm Chỉ thị số 45 của Trung ương, đó là đảng bộ xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (gồm cả các xã không sáp nhập, các xã thuộc diện hợp nhất, sáp nhập đã tổ chức đại hội) khi tổ chức đại hội, không bầu Ban chấp hành đảng bộ nhiệm kỳ; không bầu đoàn đại biểu dự đại hội đảng bộ cấp trên. Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy nhiệm kỳ khoá mới.

Thực tiễn thời gian qua đã chứng minh, cùng với việc đẩy mạnh thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, Hà Nội còn đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt trong thực hiện các khâu của công tác cán bộ, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để cán bộ phát huy năng lực, sở trường. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XVII, Thành ủy Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31/5/2021, về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và những năm tiếp theo”. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Thành ủy Hà Nội về công tác cán bộ để cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nghị quyết số 04-NQ/TU như một luồng sinh khí mới, làm cho công tác cán bộ của Thành phố có sự chuyển biến rõ nét, ngày càng đổi mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là phát huy vai trò người đứng đầu, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Công tác luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ được tổ chức thận trọng, khách quan; thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí cán bộ không phải người địa phương được thực hiện nghiêm túc, khoa học, thận trọng, dân chủ, công khai, minh bạch, tuân thủ các quy trình, quy định, tạo điều kiện để cán bộ phát huy năng lực, sở trường, hiệu quả công tác. Nhờ đó, những chủ trương, đường lối của Đảng không chỉ nằm trên bàn giấy, mà được khẳng định bằng những việc làm cụ thể, tạo chuyển biến đột phá trên nhiều mặt. Sự phát triển của Thủ đô là minh chứng cho vai trò người đứng đầu cùng năng lực của đội ngũ cán bộ các cấp thời gian qua. 

Song hành với chu trình đó, những hạn chế, tồn tại trong công tác cán bộ được cả hệ thống chính trị Thành phố thẳng thắn nhìn nhận, tìm giải pháp khắc phục, kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát biểu kết luận hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố lần thứ 22, ngày 28/4/2025 về thông qua Đề án sắp xếp các đơn vị hành chính của Thủ đô, đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Thành ủy Hà Nội yêu cầu, việc bố trí cán bộ phải công tâm, khách quan, lựa chọn người có phẩm chất đạo đức tốt, đủ tiêu chuẩn, điều kiện, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu khó khăn, thách thức vì yêu cầu, công việc chung để bố trí cán bộ, tránh tình trạng chạy chọt, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Việc sắp xếp, bố trí cán bộ không phải là người địa phương, toàn Thành phố có 28/30 bí thư quận, huyện, thị ủy và 22/30 chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, có 68,39% bí thư cấp ủy, 61,13% chủ tịch UBND xã phường, thị trấn không phải người địa phương. Cùng với đó, Thành phố đã thực hiện luân chuyển, điều động đối với 2.580 lượt cán bộ (trong đó, cấp Thành phố trên 130 đồng chí; cấp huyện trên 1.180 đồng chí; cấp xã trên 1.260 đồng chí); đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với tổng số trên 3.270 lượt cán bộ, công chức. Nét nổi bật trong việc nâng cao công tác cán bộ của Thành phố thời gian qua, đó là, phân cấp, ủy quyền trong quản lý cán bộ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để giúp các cơ quan, đơn vị theo dõi, đánh giá cán bộ một cách chính xác, minh bạch hơn, đồng thời, trong thực hiện công tác cán bộ không chỉ dừng lại ở việc cải tiến quy trình nội bộ, mà còn phải gắn kết, kết nối giữa cán bộ với nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thủ đô đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng bộ, chính quyền các cấp./.

Sưu tầm

Lật tẩy chiêu trò của những kẻ ngáng đường “ném đá vào vành xe đổi mới”

Tinh gọn tổ chức bộ máy, trong đó có tổ chức quân đội “tinh, gọn, mạnh” là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển của quân đội ta, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá, nhằm “phi chính trị hóa” quân đội ta.

Hiện nay, trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, xuất hiện một số vấn đề mới liên quan trực tiếp đến cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị, như tổ chức lại một số cơ quan cấp chiến dịch; sát nhập một số Bộ CHQS tỉnh, thành và bỏ Ban CHQS cấp huyện khi thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Đảng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để “đổ thêm dầu vào lửa”, gây rối lòng người; chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thủ đoạn của chúng là tập trung phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”, đẩy mạnh thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội.

Như chúng ta đều biết, khác với bản chất chính trị của quân đội tư sản, bản chất chính trị của quân đội ta là thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, biểu hiện tập trung, thống nhất ở mục tiêu độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa, vì cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo, quân đội không chỉ phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng, mà phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là đặc trưng căn bản nhất của quân đội cách mạng, làm cho nó hoàn toàn khác với quân đội của giai cấp tư sản.

 Vậy nên, quân đội được xây dựng “tinh, gọn, mạnh” không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mà còn trực tiếp hiện thực hóa các mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ, giải pháp trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược quân sự Việt Nam và các chủ trương của Đảng về nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, chủ động tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, việc điều chỉnh tổ chức, lực lượng quân đội được Đảng ta xác định là nhiệm vụ hết sức quan trọng, phải được tiến hành thận trọng, đúng lộ trình, bảo đảm giữ vững sự ổn định, không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội; tuyệt đối không nóng vội, phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trong tổ chức thực hiện.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân ủy Trung ương, trong hai năm qua, tổ chức, biên chế từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến cấp chiến dịch, chiến thuật đã được điều chỉnh quyết liệt, chặt chẽ, có bước đi vững chắc, tạo sự thống nhất cao trong nội bộ, bảo đảm tiến độ, một số nội dung vượt kế hoạch. Cụ thể, Quân đội đã tiến hành giải thể, sáp nhập, tổ chức lại trên 1.400 tổ chức từ cấp tiểu đoàn và tương đương đến cấp quân đoàn; đã giải thể 11 trường nghề, sáp nhập cơ quan hậu cần và kỹ thuật cấp chiến thuật, chiến dịch. Các đơn vị công nghiệp quốc phòng, đoàn kinh tế quốc phòng được điều chỉnh, giảm bớt các tổ chức trung gian, từng bước khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Đối với khối đơn vị, cùng với sáp nhập, rút gọn, giải thể một số bộ phận, Bộ Quốc phòng đã ưu tiên thành lập, nâng cấp một số đơn vị, lực lượng đặc thù, phù hợp với sự phát triển nhiệm vụ và điều chỉnh thế bố trí chiến lược trên các vùng, miền, nhất là các khu vực trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Hệ thống nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu, các cơ sở sản xuất, đoàn kinh tế - quốc phòng được điều chỉnh một bước về cơ cấu tổ chức theo hướng rút gọn đầu mối, đảm bảo phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ của Quân đội và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lực lượng dự bị động viên được tổ chức, sắp xếp theo hướng gọn đầu mối, địa bàn, cân đối giữa các vùng miền, có tổ chức và quân số phù hợp, đáp ứng yêu cầu động viên cả thời bình và thời chiến.

Những kết quả đó đảm bảo cho công tác xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” ngày càng được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống./.

Sưu tầm

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 6 NĂM 1960!

     “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”!

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), ngày 07 tháng 6 năm 1960. Đây là thời kỳ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng. Cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thử thách và rất khốc liệt. Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tập hợp được đông đảo lực lượng cách mạng phục vụ cho sự nghiệp kiến thiết nước nhà và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào, thể hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu ngày càng cao lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, điện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời khẳng định trên của Bác đã trở thành một trong những nội dung cơ bản về công tác xây dựng Đảng, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để Đảng ta tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, có đủ năng lực đảm đương vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Môi trường ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 6 NĂM 1955!

         “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”!

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong tác phẩm: “Đạo đức cách mạng”, với bút danh C.B; đăng trên báo Nhân dân, số 460, ngày 06 tháng 6 năm 1955. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước bước vào thời kỳ kiến thiết, xây dựng chế độ xã hội mới - chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa đặt ra rất nhiều khó khăn, thử thách, đặc biệt là việc xây dựng đạo đức mới - đạo đức xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa sâu sắc, vừa nêu rõ vai trò, tầm quan trọng của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và nhưng phải giữ được thuần phong, mỹ tục; đây cũng là tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng đạo đức mới. Đồng thời, khẳng định giá trị đạo đức ẩn chứa trong mỗi công việc, gắn liền với phẩm chất năng lực của mỗi con người; nhắc nhở mỗi người phải luôn giữ gìn đạo đức trong sáng dù trong hoàn cảnh nào, làm bất cứ công việc gì, mới là là người cao thượng. Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã ra sức học tập, lao động, công tác, tu dưỡng đạo đức cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đẩy mạnh thi đua ái quốc, kiến thiết nước nhà, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trên nền tảng vững chắc của đạo đức mới - đạo đức xã hội chủ nghĩa.

 Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, lời Bác dạy vẫn giữ nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ra sức xây dựng một xã hội học tập, xây dựng chuẩn mực đạo đức mới, con người mới; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, góp phần xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, vinh dự, tự hào với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn phải không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận, trình độ quân sự, chuyên môn nghiệp vụ, làm chủ vũ khí trang bị; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 05 THÁNG 6 NĂM 1951!

     “Tình báo là tai mắt. Tai phải tỏ, mắt phải sáng, thì đầu óc định kế hoạch mới đúng. Đầu óc định đúng, thì chân tay hành động mới kịp thời. Ta tai mắt sáng tỏ, kế hoạch đúng sát, hành động kịp thời, thì ta nhất định thắng địch”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi Hội nghị tình báo, ngày 05 tháng 6 năm 1951.

Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vô cùng gian khổ và khốc liệt, mặc dù bận trăm công, nghìn việc, song Bác Hồ vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt với lực lượng tình báo quốc phòng. Ngoài những lần gặp gỡ, trò chuyện thân ái với cán bộ, chiến sĩ, Bác còn chu đáo gửi thư mỗi dịp lực lượng tổ chức hội nghị. Lời dạy trên của Bác có ý nghĩa rất lớn, không chỉ thể hiện sự quan tâm, động viên đối với quân đội nói chung, ngành tình báo quốc phòng nói riêng mà còn thể hiện sâu sắc tư tưởng, phương châm chỉ đạo hoạt động đối với lực lượng tình báo quốc phòng. Đồng thời, nhắc nhở mỗi cán bộ, chiến sĩ thực thi nhiệm vụ tình báo phải luôn tinh thông về mọi mặt, giữ vững định hướng chính trị, mưu trí, sáng tạo, hành động mau lẹ, kịp thời, bảo đảm bí mật, bất ngờ thì ắt thắng lợi. Thực hiện lời dạy của Bác, lực lượng tình báo quốc phòng đã lập nhiều chiến công quan trọng, cung cấp những thông tin có giá trị để Đảng, quân đội xây dựng và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới lời dạy của Bác vẫn có giá trị sâu sắc, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm xây dựng, phát triển ngành tình báo của nước nhà; đồng thời cũng là yêu cầu đối với ngành tình báo phải không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới. 

Thấm nhuần sâu sắc lời Bác dạy, Quân đội ta nói chung và lực lượng tình báo quân đội nói riêng phải thường xuyên làm tốt công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tuyệt đối không để địch mua chuộc, lôi kéo, hoặc để lộ, lọt các tài liệu mật, tích cực học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng không để bị động bất ngờ, nắm chắc, dự báo chính xác, kịp thời những diễn biến của tình hình thế giới, khu vực, thủ đoạn chiến lược "diễn biến hòa bình", “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; tham mưu có hiệu quả cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội hoạch định đường lối, chính sách thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dụng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
Môi trường ST.

XÂY DỰNG MỘT CHÍNH QUYỀN GẦN DÂN, VÌ DÂN Để có căn cứ, đồng thời có cơ sở triển khai đồng bộ chủ trương của



 

Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện chính quyền địa phương hai cấp thì việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 là hết sức cần thiết. Cùng với đó, để bảo đảm tính kế thừa và phát huy vai trò giám sát của HĐND và hoạt động của đại biểu HĐND trong thời gian tới, chúng ta cần quan tâm và tập trung làm rõ một số nội dung:

Thứ nhất, để thống nhất việc thực hiện chủ trương chính quyền hai cấp (không còn cấp huyện) thì việc sửa đổi, hướng dẫn cho thôi hay kết thúc hoạt động của HĐND cấp huyện và đại biểu HĐND cấp huyện như thế nào? Đại biểu HĐND cấp tỉnh ứng cử tại địa bàn các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau khi kết thúc chính quyền cấp huyện sẽ tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ trước cử tri địa bàn ứng cử ra sao?

Thứ hai, một trong những hoạt động hết sức quan trọng của đại biểu HĐND được pháp luật quy định, đó là chức năng giám sát và chất vấn. Trong thực tiễn hiện nay, khi thực hiện chủ trương giải thể, sáp nhập, kết thúc hoạt động của một số cơ quan, đơn vị, sẽ vừa bảo đảm được việc thực hiện tinh giản đầu mối cơ quan, đơn vị trực thuộc, giảm được số lượng chức danh cán bộ quản lý các cấp và thực hiện một phần tinh giản biên chế bộ máy nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân sách... theo lộ trình, tuy nhiên phát sinh những vấn đề mới cần được giải quyết.

Ví dụ như, thực hiện chủ trương sáp nhập của Tổng cục Hải quan, chi cục hải quan các tỉnh sáp nhập, thành lập hải quan khu vực, hoạt động nghiệp vụ của hải quan vẫn thực hiện nhiệm vụ chính trị trên địa bàn các tỉnh, song trụ sở và cơ quan quản lý nhà nước của cơ quan hải quan khu vực lại nằm trên địa bàn của địa phương khác, do đó hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu HĐND tại các kỳ họp, hay hoạt động giám sát quản lý nhà nước của HĐND đối với lĩnh vực hải quan theo quy định của pháp luật sẽ có khó khăn, cần có hướng dẫn cụ thể.

Tóm lại, kết thúc hoạt động của chính quyền cấp huyện và thống nhất thực hiện chủ trương chính quyền địa phương hai cấp là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, nhằm xây dựng một chính quyền gần dân, vì dân phục vụ. Chủ trương đã nhận được sự đồng tình thống nhất cao của đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, để bộ máy chính quyền cơ sở đi vào hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả, vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa phát huy được vai trò giám sát và làm chủ của nhân dân, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, chúng ta cần có sự chuẩn bị, rà soát kỹ lưỡng trên cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn, những nội dung hết sức cụ thể như: Yếu tố lịch sử, văn hóa, kinh tế...

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến việc rà soát điều chỉnh, xây dựng bổ sung cơ chế, chính sách, nhất là phải xây dựng được một hệ thống hành lang pháp lý phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, tránh chồng chéo trong quá trình triển khai thực hiện. Đây không chỉ đơn thuần về mặt thể chế mà còn là giải pháp để xây dựng chính quyền tại cơ sở thực sự trong sạch vững mạnh, nhằm phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, xây dựng cho được một chính quyền thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân./.

 

TỔNG BỘ VIỆT MINH THÀNH LẬP KHU GIẢI PHÓNG VIỆT BẮC

 



Chấp hành chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh về việc thành lập một căn cứ cách mạng rộng lớn ở Việt Bắc, ngày 4/6/1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị tuyên bố thành lập Khu Giải phóng.

Phạm vi Khu Giải phóng bao gồm hai căn cứ địa lớn, tức là sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, một số vùng phụ cận thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái. Khu Giải phóng đặt dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban Chỉ huy lâm.

Để xây dựng Khu Giải phóng vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, Uỷ ban Chỉ huy lâm thời, các Uỷ ban nhân dân cách mạng do dân cử đã ra sức huy động mọi lực lượng trong khu từng bước thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh:

- Thủ tiêu lực lượng của Nhật, trừ khử Việt gian, trừng trị lưu manh.

- Tịch thu tài sản của lũ giặc cướp nước và của Việt gian làm của chung toàn dân hoặc chia cho dân nghèo.

- Thực hiện phổ thông tuyển cử và các quyền tự do dân chủ.

- Vũ trang quần chúng, động viên quần chúng tham gia xây dựng du kích, ủng hộ giải phóng quân chống Nhật tấn công vùng giải phóng.

- Tổ chức khai hoang, khuyến khích sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc cho Khu Giải phóng.

- Quy định ngày lao động, thi hành kỷ luật bảo hiểm, cứu tế xã hội.

- Chia lại ruộng đất công, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ.

- Bỏ thuế khoá và phu dịch do chế độ thực dân đặt ra, dự định đặt thuế luỹ tiến lợi tức duy nhất và nhẹ.

- Chống nạn mù chữ, huấn luyện quân sự, chính trị phổ thông cho nhân dân.

- Dân tộc bình đẳng, trai gái ngang quyền.

Lập Khu Giải phóng là chủ trương và quyết định sáng suốt của đồng chí Hồ Chí Minh. Khu Giải phóng ra đời với việc thực hiện 10 chính sách của Việt Minh, hơn 1 triệu đồng bào thuộc các dân tộc khác nhau bắt đầu được hưởng một cuộc sống tự do độc lập do cách mạng đem lại. Khu Giải phóng ra đời đã tạo thêm thanh thế cho Việt Minh trước nhân dân trong nước cũng như trước lực lượng dân chủ thế giới. Khu Giải phóng được thành lập tạo điều kiện và thúc đẩy phong trào cách mạng trên cả nước, trước hết là ở Bắc Kỳ tiến mạnh mẽ hơn nữa.

Nhận xét về Khu Giải phóng, đồng chí Trường Chinh cho rằng đó là hình ảnh “nước Việt Nam mới ra đời (...) một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới chính quyền cách mạng”.

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VIỆT TÂN TRƯỚC PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH VỀ “BIÊN GIỚI MỀM”

Có thể là hình ảnh về ‎1 người và ‎văn bản cho biết '‎ấu trường dân chủ Chống luận ත жлyфn rac. sai trài Dautruongdanchu.org Việt Tân "MÁY BΑИ NAM BANTLĐÂU LĐÂU TH امهش जত Mem CỦA NƯỚC T... Xem Xemiam " Μάγ bay Việt Nam tới dâu thì biên giới mềm cua nước tới đó." đó. Phạm Minh ThứtưởngCSVN SIN Thutưởng hinh‎'‎‎

Gần đây, một số trang phản động – tiêu biểu như Việt Tân – đã cắt xén, bóp méo và chế giễu phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Họ cố tình biến một câu nói mang tính biểu tượng chiến lược thành trò cười để kích động dư luận. Vậy thực chất câu nói ấy là gì và vì sao những luận điệu kia là độc hại và nguy hiểm? 

Ngày 01/6/2024, tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập tổng công ty hàng không Việt Nam ( Vietnam Airlines), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phát biểu: “ Máy bay Việt Nam bay tới đâu thì biên giới mềm của nước ta tới đó”

Câu nói của Thủ tướng mang tư duy hiện đại, hội nhập quốc tế. Đây là cách diễn đạt hình tượng cho một tư duy chiến lược và hội nhập: hàng không không chỉ đơn thuần là vận chuyển người – mà là công cụ kết nối quốc tế, thúc đẩy giao thương, mở rộng hợp tác văn hóa – giáo dục – đầu tư – du lịch. “Biên giới mềm” là thuật ngữ quốc tế (soft borders), hàm ý sự lan tỏa ảnh hưởng và hình ảnh quốc gia ra thế giới mà không cần dùng đến sức mạnh quân sự. Hàng loạt quốc gia phát triển đều nhấn mạnh "quyền lực mềm" như vậy, đặc biệt là qua hàng không, ngoại giao văn hóa, giáo dục... Việc Việt Nam mở rộng mạng bay quốc tế chính là một cách khẳng định vị thế quốc gia, tầm vóc của dân tộc trên bản đồ thế giới. Vậy mà những kẻ phản động lại cố tình hiểu sai, xuyên tạc thành “nổ”, thành ảo tưởng – chẳng khác nào vùi dập nỗ lực cả một ngành đang đưa hình ảnh đất nước bay xa. 

Hàng không Việt Nam là biểu tượng cho năng lực phục hồi và lòng nhân đạo. Những kẻ xuyên tạc luôn tìm cách khoét vào các sự cố cá biệt để phủ định tất cả. Họ nhắc tới: Vụ “bay giải cứu” – nhưng quên rằng hàng trăm nghìn người dân Việt khắp thế giới đã được đưa về nước an toàn, trong khi nhiều nước bỏ mặc công dân. Vài vụ việc tiếp viên vi phạm – nhưng quên rằng cả ngành hàng không đang gánh trên vai trọng trách ngoại giao và phát triển kinh tế quốc gia.

Máy bay nhập khẩu – nhưng quên rằng mọi hãng hàng không lớn trên thế giới, kể cả Mỹ, đều sử dụng máy bay từ Boeing, Airbus… chứ không tự sản xuất hết. Không ai phủ nhận còn tồn tại – nhưng cái nhìn công tâm sẽ thấy một ngành hàng không đang nỗ lực hiện đại hóa, phục hồi sau đại dịch, mở rộng toàn cầu. Đó là thực tế chứ không phải “nổ”.

Xuyên tạc biển đảo – chiêu trò nguy hiểm kích động dân tộc cực đoan Những phần tử phản động cố tình gài bẫy tâm lý khi hỏi: “Máy bay Việt Nam có dám bay ra Hoàng Sa, Trường Sa nơi Trung Quốc chiếm đóng không?” Câu hỏi nghe có vẻ “sắc sảo”, nhưng thực ra rất ngụy biện: Hàng không dân dụng không có chức năng quân sự. Không ai lấy chuyến bay thương mại để thể hiện chủ quyền lãnh thổ. Việt Nam đang kiên trì đấu tranh pháp lý, ngoại giao, hòa bình để bảo vệ chủ quyền Biển Đông. Đó là con đường bền vững và phù hợp luật pháp quốc tế, chứ không phải "võ mồm" như những gì Việt Tân đang xúi giục. Việc lôi kéo chủ đề nhạy cảm như Biển Đông để công kích lãnh đạo đất nước là thủ đoạn kích động chống phá điển hình – cực kỳ nguy hiểm và cần tỉnh táo nhận diện.

Tại sao Việt Tân và các phần tử chống phá lại phải xuyên tạc? Vì chúng không thể chấp nhận một Việt Nam ổn định, phát triển, có vị thế trên trường quốc tế. Chúng không phục vụ lợi ích dân tộc, mà chỉ muốn tạo sự hoài nghi, mâu thuẫn và chia rẽ trong lòng dân. Chúng không tạo ra giá trị gì, chỉ giỏi soi mói, bóp méo, đả kích. Đó là lý do tại sao, từ bao lâu nay, chúng chỉ giỏi bôi nhọ mà không bao giờ có giải pháp nào thực tế cho đất nước. 

Lòng yêu nước không nằm ở những lời lẽ giận dữ trên mạng – mà nằm ở sự tỉnh táo trước thông tin độc hại, nằm ở niềm tin vào nỗ lực chân chính của những người đang ngày đêm gánh trên vai vận mệnh đất nước. Thủ tướng không "nổ". Hàng không không “thảm họa” Những kẻ xuyên tạc mới là vấn đề thật sự. Hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rõ sự thật. Đừng để Việt Tân và đồng bọn dẫn dắt dư luận bằng trò rẻ tiền. Việt Nam – hội nhập mạnh mẽ, vững vàng chủ quyền, vươn xa tầm vóc.


HỌC BÁC MỖI NGÀY

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” lên hàng đầu khi căn dặn cán bộ.

Người cũng là hiện thân, là tấm gương sáng ngời về các phẩm chất đạo đức cách mạng cao đẹp đó. Bởi vậy, trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” viết năm 1949, Người đã khẳng định nếu “thiếu một đức thì không thành người”. Học tập và rèn luyện theo gương Bác, mỗi cán bộ, đảng viên cần chọn cho mình một chữ trong “cần, kiệm, liêm, chính” để thực hành mỗi ngày.

Cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính nền tảng làm nên phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Mỗi đức tính lại liên quan đến các đức tính còn lại. Khi người cán bộ có Cần thì sẽ thực hành Kiệm, có Cần, Kiệm sẽ là nền tảng để xây dựng Liêm. Có Cần, Kiệm, Liêm thì phải có Chính mới đủ. 

Việc rèn luyện 4 đức tính này trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi khách quan đối với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, trước những yêu cầu xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, hiệu năng, sát Dân, gần Dân, vì Nhân dân phục vụ. Bởi vậy, ngay từ cuối tháng 4-2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Dựa trên vị trí, vai trò được phân công đảm nhận, mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định việc rèn luyện cần, kiệm, liêm, chính theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác để phòng ngừa các biểu hiện tự suy thoái, tự diễn biến. Đồng thời lựa chọn một trong các đức tính cần, kiệm, liêm, chính để rèn luyện, từ đó làm nền tảng để rèn luyện các đức tính khác. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện tác phong làm việc cần cù, siêng năng, dẻo dai, sáng tạo, có năng suất cao với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm sẽ biết quý trọng thời gian, công sức, của cải của Nhân dân, từ đó mà thực hành tiết kiệm, không xa hoa, lãng phí. Khi đã thực hành được cần, kiệm thì người cán bộ sẽ luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công, của dân, thực hành đức liêm, chính.

Tấm gương đạo đức, phong cách của Bác vừa vĩ đại mà vô cùng gần gũi, giản dị. Học và làm theo Bác là nhiệm vụ, cũng là tình cảm của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân.


CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 - KHE SANH: KẾ NGHI BINH HOÀN HẢO



Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh là một trong những chiến dịch tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thể hiện rõ nét nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh đánh lạc hướng. Đây không chỉ là trận đánh có quy mô lớn, mà còn là đòn chiến lược mang tính quyết định, giúp ta giành được nhiều thắng lợi quan trọng trên mặt trận chính trị và quân sự, đặc biệt là mở đường cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Khe Sanh là một căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Trị, gần biên giới Việt - Lào. Với địa hình hiểm yếu, Khe Sanh được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xây dựng như một “pháo đài bất khả xâm phạm” nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời kiểm soát tuyến hành lang Đông Trường Sơn. Vì thế, việc ta lựa chọn Khe Sanh làm hướng nghi binh chủ lực là một tính toán chiến lược khôn ngoan và đầy táo bạo.

Ngay từ cuối năm 1967, Bộ Tư lệnh chiến trường đã triển khai lực lượng lớn áp sát khu vực Khe Sanh, tổ chức nhiều đợt pháo kích và đánh vào các cứ điểm xung quanh như Tà Cơn, Làng Vây. Những hoạt động này khiến phía Mỹ tưởng rằng ta sẽ tập trung toàn lực vào tấn công và tiêu diệt căn cứ Khe Sanh. Trước áp lực đó, Mỹ đã huy động hơn 45.000 quân để phòng thủ, đồng thời giảm bớt lực lượng tại các đô thị miền Nam, trong đó có Sài Gòn và Huế.

Ngày 21 tháng 01 năm 1968, chiến dịch chính thức bắt đầu bằng trận pháo kích dữ dội vào căn cứ Khe Sanh. Các vị trí trọng yếu của địch như kho đạn, sân bay, bãi đáp bị đánh phá, khiến quân Mỹ hoang mang và rơi vào trạng thái bị động. Những trận đánh tiếp theo diễn ra liên tục, vừa nhằm tiêu hao sinh lực địch, vừa làm tăng thêm độ “thật” cho đòn nghi binh. Trong suốt nhiều tuần, Mỹ bị sa lầy trong một trận địa không rõ mục tiêu cụ thể của đối phương.

Trong khi Mỹ đang tập trung toàn lực cho Khe Sanh, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra đồng loạt trên khắp miền Nam. Từ Huế đến Sài Gòn, từ các đô thị lớn đến vùng nông thôn, quân và dân ta đã đồng loạt tấn công vào các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn, làm chấn động nước Mỹ và thế giới. Chính nhờ đòn nghi binh tại Khe Sanh mà địch đã không kịp chuẩn bị, bị bất ngờ cả về chiến lược lẫn chiến thuật.

Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã hoàn thành xuất sắc vai trò nghi binh chiến lược, góp phần làm nên thắng lợi bước đầu cho Tổng tiến công Tết Mậu Thân. Dù không giữ lại được cứ điểm lâu dài, nhưng chiến dịch đã khiến Mỹ phải thay đổi chiến lược, rơi vào thế phòng thủ, và từng bước chuyển sang “Việt Nam hóa chiến tranh” - mở đầu cho sự rút lui khỏi cuộc chiến. Đây là minh chứng cho việc sử dụng mưu lược, kết hợp với sức mạnh nhân dân trong chiến tranh cách mạng.

Nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh được xem là một đòn đánh kinh điển trong lịch sử quân sự hiện đại. Không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong chỉ đạo chiến lược, chiến dịch còn cho thấy tài tổ chức, khả năng phối hợp giữa các lực lượng và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Từ đó, khẳng định chân lý: Trong chiến tranh, thắng lợi không chỉ nằm ở vũ khí mà còn nằm ở trí tuệ và mưu lược.