Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Những thành tựu về nhận thức lý luận của Đảng trong thời kỳ đổi mới

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, 90 năm qua đất nước ta, dân tộc ta đã trải qua những chặng đường khó khăn, gian khổ, vượt qua nhiều thử thách, hy sinh để giành được những thành tựu to lớn chưa từng thấy, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc, hòa bình, thống nhất cho đất nước, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, uy tín và vị thế ngày càng cao của quốc gia trên trường quốc tế.

Nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua chính là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong đó trước hết là khả năng “nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”[1]. Nói cách khác, những thành tựu to lớn của cách mạng nước ta trong 90 năm qua gắn liền với những thành tựu to lớn về phát triển lý luận.

Trong bài viết này, chúng tôi xin được tập trung trình bày khái quát những thành tựu lớn về phát triển nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp Đổi mới.

Về đặc trưng mô hình chủ nghĩa xã hội

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á ra đời, thực hiện nhiệm vụ quản lý đất nước, tổ chức nhân dân tiến hành cuộc Kháng chiến thần thánh chống thực dân xâm lược Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ dẫn tới việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình lập lại trên miền Bắc, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu quá trình xây dựng, phát triển đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực thi đồng thời hai nhiệm vụ: Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trên cơ sở nhận thức lý luận về thời kỳ quá độ và học tập kinh nghiệm của các mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực trên thế giới, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam cho đến trước Đổi mới bao gồm các đặc trưng chủ yếu: Chế độ xã hội dựa trên nguyên tắc “nhân dân làm chủ tập thể”; nền kinh tế kế hoạch hóa với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu và tập thể về tư liệu sản xuất; tiến hành cách mạng văn hóa để xây dựng phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa; nhà nước chuyên chính vô sản với hai chức năng, chuyên chính với kẻ thù giai cấp và xây dựng chế độ mới; các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, được đảm bảo điều kiện phát triển với việc thành lập các khu tự trị; xây dựng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản, công nhân và nhân dân lao động trên thế giới theo tinh thần quốc tế vô sản; chống thực dân đế quốc và mọi hình thức áp bức dân tộc.

Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975 thắng lợi, đất nước thống nhất một nhà, cả nước bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vô vàn những khó khăn, thách thức:Thành phố, làng mạc, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế bị kiệt quệ sau hơn 30 năm chiến tranh khốc liệt; biên giới phía Nam, biên giới phía Bắc đều bị kẻ địch xâm phạm, phá hoại; các quốc gia thù địch bao vây, cấm vận. Đặc biệt, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới chia rẽ, suy yếu và đi đến sụp đổ năm 1991 đã đặt Việt Nam vào hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt. Nhưng “cái khó ló cái khôn”, chính trong hoàn cảnh khó khăn tưởng như không có đường ra ấy, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối Đổi mới, mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. Công cuộc Đổi mới bắt đầu bằng “đổi mới tư duy”, tức là đổi mới về phương pháp tiếp cận trong nhận thức lý luận: Nhìn thẳng vào sự thật; dựa vào dân, coi trọng sáng kiến của nhân dân; coi trọng tổng kết thực tiễn; vượt qua những định kiến và sự bảo thủ trong nhận thức, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên cơ sở kiên định con đường xã hội chủ nghĩa. Chính là dựa trên sự đổi mới về phương pháp ấy, Đảng ta đã nhìn nhận, đánh giá lại một cách toàn diện những bài học kinh nghiệm của các mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới cũng như của nước ta trong thời kỳ trước Đổi mới. Đó cũng là cơ sở để Đảng ta trở lại với những quan điểm quan trọng của Mác, Ăngghen và Lênin về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhận thức ngày càng rõ hơn, đầy đủ hơn về tính chất, đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh 2011 chỉ ra rằng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là “một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”[2]. Nhận thức lý luận ấy cùng với thực tế sinh động của đất nước chính là cơ sở để Đảng ta xác định mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng: 1) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2) Do nhân dân làm chủ; 3) Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4) Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5) Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6) Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; 7) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8) Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới[3].

Thành tựu lý luận của Đảng ta trong nhận thức về mô hình chủ nghĩa xã hội không tách rời việc xác định hệ mục tiêu với những giá trị cơ bản, quan trọng nhất mà Việt Nam hướng tới là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được hệ mục tiêu đó, Đảng ta đã chỉ ra yêu cầu nắm vững và giải quyết đúng đắn 9 mối quan hệ lớn như là điều kiện cần thiết, đảm bảo thành công. Đó là, quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới về chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vấn đề đầu tiên, có nghĩa như phương thức quan trọng hàng đầu để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở những bài học thực tế của đất nước, những kinh nghiệm quốc tế và những thành tựu nghiên cứu lý luận nói chung, Đảng ta đã hình thành hệ thống lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề ra mục tiêu, nội dung và phương pháp tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với điều kiện Việt Nam, bối cảnh thời đại và tuân theo quy luật chung của thế giới. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức và yêu cầu phát triển bền vững; xây dựng cơ cấu hợp lý đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, khu vực; xây dựng nền kinh tế tự chủ, hội nhập quốc tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; xử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển đất nước.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành trong thời kỳ Đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI và được Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn. Đó là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"[4].

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với đặc trưng về kinh tế trong mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, trong đó xác định: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát triển, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác cùng phát triển theo pháp luật,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước khuyến khích mọi người dân làm giàu hợp pháp. Phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác. Nhà nướcphát triển hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội để bảo đảm công bằng và đời sống bền vững cho nhân dân.

Vượt qua những hạn chế, sai lầm của nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp thời kỳ trước Đổi mới, nhận thức lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phát triển đầy sáng tạo, một thành tựu lý luận có ý nghĩa rất to lớn của Đảng ta. Đây chính là một cơ sở, điều kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,góp phần mang lại sự phát triển liên tục, mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta trong mấy thập niên vừa qua.

Về văn hóa, xã hội và con người

Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một đặc trưng của mô hình xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định từ Cương lĩnh 1991, một mục tiêu đặt ra để xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam. Nhận thức lý luận của Đảng về văn hóa là sự phát triển nhất quán từ luận điểm về các đặc trưng dân tộc, khoa học, đại chúng được đặt ra trong Đề cương văn hóa từ năm 1943. Trong quá trình cách mạng, nhất là trong Đổi mới, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của văn hóa trong đời sống xã hội và trong xây dựng, phát triển đất nước. Văn hóa được xác định là “nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”[5]. Mục tiêu phát triển văn hóa chính là nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì hạnh phúc và lợi ích chân chính của nhân dân, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người. Để thực hiện được mục đích ấy, Đảng chủ trương kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới; phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; phát triển nền báo chí, truyền thông tự do, hiện đại, phục vụ có hiệu quả cho nhu cầu ngày càng phong phú của nhân dân, cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh.

Trong quá trình Đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng về con người được bổ sung, hoàn thiện sâu sắc hơn, đầy đủ hơn. Con người được Đảng xác định là “trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”, là mục tiêu quyết định duy nhất của phát triển, đồng thời cũng là động lực quan trọng nhất của phát triển. Con người có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với văn hóa; sự phát triển văn hóa không ngoài mục đích hoàn thiện nhân cách, nâng cao phẩm giá, thúc đẩy sự phát triển toàn diện chân, thiện, mỹ và đảm bảo hạnh phúc của con người. Để xây dựng, phát triển con người, Đảng chỉ ra yêu cầu “Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư”. Nói cách khác, cần phải tạo lập một môi trường xã hội văn hóa, văn minh, đồng bộ, toàn diện, đảm bảo cho những tác động tích cực nhằm giáo dục, dẫn dắt, bồi đắp những tình cảm, lối sống tốt đẹp cho con người, ngăn chặn những tác động tiêu cực, những yếu tố ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của mỗi con người, mỗi công dân.

Đảng đã phát triển những cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề xã hội. Xuất phát từ nhận thức về mục tiêu của cuộc cách mạng và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương “thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách” trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Yêu cầu “tiến bộ và công bằng” được triển khai bao quát toàn diện các lĩnh vực xã hội, từ giáo dục, y tế, gia đình, môi trường, xóa đói giảm nghèo, đến an sinh, phúc lợi xã hội, thể dục thể thao, văn hóa giải trí, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền con người, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội. Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời động viên mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia việc giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo cho mọi người dân được thụ hưởng xứng đáng, công bằng những thành tựu của phát triển, Đổi mới, tạo lập một xã hội văn minh, hài hòa, mang lại hạnh phúc ngày càng nhiều hơn cho nhân dân.

Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc vì độc lập, tự do và thống nhất cho đất nước, hệ thống lý luận của Đảng về quân sự, an ninh đã được phát triển phong phú, là cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng với 3 thứ quân, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện, làm nên những chiến công “chấn động địa cầu”. Trong điều kiện mới, khi mà hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn nữa, bối cảnh chung của thế giới đã có những thay đổi sâu sắc, Đảng ta đã có những đổi mới, sáng tạo trong nhận thức lý luận về tính chất, đặc điểm của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia. Đặc biệt, quan điểm về đối tác, đối tượng là một nhận thức mới, phù hợp với tình hình thế giới với những mối quan hệ chính trị, lợi ích phức tạp, trong đó chỉ rõ, những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác.

Trên cơ sở nhận thức lý luận ấy, Đảng xác định việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, trong đó mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[6].

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng an ninh; xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Để bảo đảm nền tảng vững chắc cho quốc phòng, an ninh, Đảng chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Về xây dựng lực lượng, Đảng chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp giữa xây dựng lực lượng quân đội, công an chính quy, có sức chiến đấu cao với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, lực lượng an ninh bán chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội[7].

Về lĩnh vực đối ngoại, Đường lối nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Trong điều kiện thế giới đã có nhiều thay đổi, sự phát triển mới trong đường lối đối ngoại của Đảng ta chính là chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đường lối đối ngoại xây dựng trên cơ sở những đổi mới, sáng tạo trong nhận thức lý luận của Đảng thời gian qua đã mở ra điều kiện thuận lợi để đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mở mang quan hệ ngoại giao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chắt lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Trong quá trình Đổi mới, nhận thức của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được phát triển ngày càng đầy đủ và toàn diện. Cương lĩnh 2011 của Đảng nhấn mạnh: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”[8]. Từ nhận thức ấy, Đảng xác định phải từng bước xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo dân chủ được thực thi một cách toàn diện, đầy đủ trong thực tế cuộc sống; dân chủ đồng thời gắn với kỷ luật, kỷ cương xã hội và phải được thể chế hóa và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các quyền con người, bảo đảm cho cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển tự do của mỗi người dân. Nhân dân là chủ và thực quyền làm chủ của mình thông qua hoạt động của Nhà nước, hệ thống chính trị với các hình thức gián tiếp và trực tiếp. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trở thành nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng chủ trương phát huy vai trò, sức mạnh của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, giáo dục đạo đức cách mạng, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trên cơ sở những nguyên lý xây dựng đảng vô sản kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, bối cảnh chung của thế giới và đặc điểm cụ thể của Việt Nam, Đảng ta đã có những phát triển sáng tạo lý luận có ý nghĩa quan trọng về xây dựng Đảng, trong đó, vấn đề đầu tiên là nhận thức về tính chất của Đảng. Cương lĩnh 2011 xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[9].

Trong nhận thức mới về tính chất của Đảng, sự trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện lý tưởng cách mạng nhất quán theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam; tính chất đại diện rộng rãi cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc phù hợp với bối cảnh của thời kỳ quá độ và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đồng thời thể hiện tính dân chủ, nhân văn của một chính đảng cách mạng gắn bó máu thịt với nhân dân, với dân tộc. Đến lượt mình, nhận thức về tính chất của Đảng trở thành cơ sở cho Đảng đề ra và tổ chức thực hiện những chủ trương, giải pháp nhằm không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện về tư tưởng, tổ chức, cán bộ, đạo đức tư cách đảng viên nhằm đáp ứng với yêu cầu của Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện mới.

Từ nhận thức về nhà nước chuyên chính vô sản đến nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là bước phát triển lý luận đầy sáng tạo, vừa đảm bảo sự kiên định mục tiêu của cách mạng, phù hợp với những điều kiện, yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa kế thừa hợp lý thành tựu phát triển nhận thức của nhân loại về nhà nước trong lịch sử lâu dài, cho phép tiếp thu được những kinh nghiệm thực tế về xây dựng, quản lý nhà nước của các quốc gia trong thế giới hiện đại. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ và hoàn thiện. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, yêu cầu trách nhiệm của Nhà nước với nhân dân: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”[10].

*

Theo chỉ dẫn của V.I. Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và nhấn mạnh: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng và không ngừng nâng cao nhận thức lý luận, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối, tổ chức lực lượng cách mạng, chỉ đạo các hoạt động thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Đây chính là một vấn đề có tính quy luật, một trong những bài học quan trọng, điều kiện hàng đầu, không thể thiếu của những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự nghiệp Đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước hơn 30 năm vừa qua không nằm ngoài tính quy luật ấy.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc là logic tất yếu, hệ quả không tách rời của những thành tựu của Đảng trong đổi mới nhận thức lý luận, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tính chất, đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Những điều đặc biệt của Cách mạng Tháng Tám

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Ðảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã để lại bài học thành công trên các vấn đề rất căn bản và trọng yếu của một cuộc biến đổi chính trị, xã hội sâu sắc và triệt để. Ðó là bài học về giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào; bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy cao nhất chủ nghĩa yêu nước, vì lợi ích quốc gia, dân tộc; bài học về kiên định mục tiêu chiến lược đồng thời khôn khéo về sách lược với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị của lãnh tụ và đội tiền phong lãnh đạo; bài học về xử lý đúng đắn tình thế và thời cơ cách mạng.

Ngày 19/8/1945, Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, các lực lượng quần chúng cách mạng đánh chiếm Bắc Bộ Phủ (Ảnh tư liệu: Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc, phát huy nhân tố con người, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chân thành, thật sự tin cậy, tập hợp và đoàn kết các lực lượng nhân sĩ, trí thức tham gia tích cực vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc do Ðảng Cộng sản lãnh đạo. Là thành viên của Mặt trận Việt Minh, Hội Văn hóa cứu quốc từ năm 1943 đã tập hợp đông đảo trí thức, các nhà hoạt động văn hóa hướng theo mục tiêu cách mạng về văn hóa và sẵn sàng tham gia vào cuộc cách mạng chính trị, đánh đổ chế độ phong kiến, thực dân để xây dựng chế độ mới tiến bộ. Ðược sự giúp đỡ của những người cộng sản, Ðảng Dân chủ Việt Nam ra đời ngày 30/6/1944 tập hợp rộng rãi những trí thức yêu nước đấu tranh cho nền độc lập. Ở Nam Kỳ, tháng 5/1945, Xứ ủy (Tiền Phong) chủ trương lập tổ chức "Thanh niên tiền phong" do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh đạo với sự tham gia của đông đảo thanh niên, sinh viên. Nhóm Huỳnh, Mai, Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước) có ảnh hưởng lớn với ca khúc Lên đàng. Ở Bắc Kỳ, trí thức văn nghệ sĩ có hoạt động rất sôi nổi. Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, Nguyễn Ðình Thi với ca khúc Diệt phát xít và trong ngày Hà Nội khởi nghĩa là sự hào hùng của ca khúc 19 tháng 8 của Xuân Anh. Ðó là vũ khí đấu tranh có sức mạnh to lớn, độc đáo và sáng tạo.

Ðường lối của Ðảng, chính sách của Mặt trận Việt Minh có sức cổ vũ và lan tỏa rộng rãi. Trong những ngày diễn ra Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, lực lượng trí thức, thanh niên, sinh viên tham gia đông đảo, tích cực. Quốc dân Ðại hội Tân Trào họp ngày 16/8/1945 với hơn 60 đại biểu của cả nước, trong đó có những đại biểu trí thức, nhân sĩ tiêu biểu. Ủy ban Giải phóng dân tộc được thành lập do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch trong đó có nhiều trí thức yêu nước tiêu biểu như Cù Huy Cận, Nguyễn Ðình Thi, Dương Ðức Hiền, Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Ðang.

Cách mạng thành công, ngày 28/8/1945, tại Hà Nội, Ủy ban Giải phóng dân tộc từ Tân Trào trở thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị cho lễ tuyên bố độc lập và ra mắt Chính phủ. Ðiều đặc biệt là một số đảng viên cộng sản trong đó có Tổng Bí thư Trường Chinh (Ðặng Xuân Khu), đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã xin rút khỏi Chính phủ lâm thời để mời các nhân sĩ, trí thức tham gia Chính phủ. Ðó là việc làm cao cả. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: "Ðó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Ðó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính mà chúng ta phải học"(1). Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng ngoại giao với 15 thành viên trong đó có chín bộ trưởng là nhân sĩ, trí thức và nhiều người đã suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cụ Nguyễn Văn Tố, sinh năm 1889, người con của Hà Nội, làm Hội trưởng Hội truyền bá Quốc ngữ từ năm 1939, giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội và ngày 2/3/1946 được Quốc hội bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Chủ tịch Quốc hội), cụ đi kháng chiến và anh dũng hy sinh tháng 10/1947 ở Việt Bắc.

Ngày 6/1/1946, cử tri cả nước bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Nhiều nhân sĩ, trí thức được bầu làm đại biểu Quốc hội. Nhiều vị tham gia Chính phủ chính thức, tiêu biểu như cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà yêu nước nổi tiếng và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp (5-1946) đã ủy nhiệm cụ Huỳnh làm Quyền Chủ tịch. Các vị khác cũng mang hết trí tuệ, công sức tham gia Chính phủ: Phan Anh, Ðặng Thai Mai, Vũ Ðình Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Ngô Tấn Nhơn, Trần Ðăng Khoa, Trương Ðình Tri, Bồ Xuân Luật,... Chính phủ thật sự là hình ảnh của tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

Trong lịch sử thế giới, có những cuộc cách mạng đánh đổ chế độ phong kiến, đã xử tử hoặc bỏ tù vua, đàn áp những người của chế độ cũ. Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam có một điều đặc biệt là đã không diễn ra việc đó. Sau khi thoái vị (ngày 30/8/1945), cựu hoàng Bảo Ðại (Vĩnh Thụy) được mời làm Cố vấn tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Hà Nội, Chính phủ đã tạo điều kiện tốt nhất để Cố vấn Vĩnh Thụy làm việc. Trong hoàn cảnh đất nước phải chống thù trong, giặc ngoài, kinh tế khó khăn, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh cử đồng chí Lê Văn Hiến vào Huế thăm các thành viên của hoàng tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mời cựu Hoàng hậu Nam Phương chuyển ra Hà Nội cùng Cố vấn Vĩnh Thụy. Bà đã cảm ơn và xin được ở lại Huế. Bà đã tích cực tham gia ủng hộ Chính phủ và chế độ mới.

Một số vị quan của chế độ phong kiến tự nguyện, hăng hái tham gia vào bộ máy Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ Bùi Bằng Ðoàn, sinh năm 1889, từng là Tri huyện, Tuần phủ và năm 1933 là Thượng thư Bộ hình. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, cụ là thành viên Ban Cố vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội khóa I và tháng 11/1946 là Trưởng ban Thường trực Quốc hội tới khi qua đời (1955). Cụ Phan Kế Toại, sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945) giữ chức Khâm sai đại thần, nhiều lần liên lạc với Việt Minh, từ chức ngày 18/8/1945, sau Cách mạng đi kháng chiến, được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ; sau hòa bình (1954) được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ đến khi qua đời năm 1973. Các cụ Phạm Khắc Hòe, Vũ Ðình Hòe, bà Vĩnh Thụy (Nam Phương) và nhiều vị khác tham gia Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết và nhiều công việc khác của Nhà nước cách mạng.

Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3/9/1945). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chính sách tôn giáo: "Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết". Ðó là một chính sách đặc biệt gắn liền tự do tín ngưỡng với quyền tự do của đồng bào với tinh thần đoàn kết, hòa hợp các tôn giáo, không thành kiến, kỳ thị tôn giáo và nhận thức đúng đắn về tôn giáo. Ngày lễ Nô-en đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (25/12/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh có Thư gửi các vị linh mục và đồng bào Công giáo. Linh mục Phạm Bá Trực là đại biểu Quốc hội, rồi Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội (1946).

Những điều đặc biệt của Cách mạng Tháng Tám và Nhà nước cách mạng do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, có thể còn nhiều người chưa biết hoặc chưa hiểu rõ. Ðó là cuộc cách mạng đã dẫn tới ra đời Nhà nước cách mạng tiêu biểu cho sự đoàn kết hòa hợp dân tộc vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, của toàn dân. Cuộc Cách mạng Tháng Tám không chỉ thay đổi chế độ chính trị mà còn in dấu ấn sự ra đời của nền chính trị văn minh, đồng thời mang giá trị của chiều sâu văn hóa. Cuộc cách mạng đó là sự thống nhất không thể tách rời giữa lý tưởng, mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa yêu nước và lợi ích quốc gia, dân tộc chân chính.

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA _

 


Kể từ khi đổi mới đến nay, Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá đầy đủ, toàn điện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010 đến năm 2015, ngoài những văn bản do Quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dân tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách đân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mặc dù, số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các dân tộc thiểu số/vùng đân tộc thiểu số và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với đân tộc thiêu số nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đăng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là các văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với khu vực đồng bào đân tộc thiêu số/đồng bào dân tộc thiểu số được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế, chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp Trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/ thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bản triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tô chức thực hiện.

Trong những năm vừa qua, công tác tuyên truyền, phô biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc được thực hiện thường xuyên thông qua việc phố biến, giáo dục, quán triệt các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chính sách, đề án, dự án, kế hoạch, chương trình hành động của Chính phủ về dân tộc.

Để nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, căn cứ vào từng nhóm đối tượng cần được tuyên truyền, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở các cấp đã thông qua nhiều biện pháp, hình thức khác nhau thực hiện việc tuyên truyền để đảm bảo tính phù hợp, hiệu quả. Trong đó, nội dung tuyên truyền tập trung vào các quy định của pháp luật về dân tộc, tôn giáo, trách nhiệm tham gia bảo vệ, giữ gìn an ninh, quốc phòng, biên giới, chủ quyền quốc gia, biển, đảo, tài nguyên, khoáng sản và các lĩnh vực pháp luật khác gắn liền với đời sống, sản xuất của người dân đề đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện chính sách dân tộc, tạo chuyên biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung. Đồng thời, công tác tuyên truyền cũng đã chú trọng chống kỳ thị dân tộc; chống mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cục bộ, địa phương; khắc phục tâm lý mặc cảm, tự ti dân tộc; chống những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng còn rất chú trọng đến việc lựa chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền chuyên trách đủ trình độ, năng lực; đồng thời phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng (già làng, trưởng bản, trưởng họ, các chức sắc tôn giáo...) và những người gần gũi, gắn bó với cộng đồng (cán bộ y tế, giáo viên cắm bản...) cùng tham gia vào công tác tuyên truyền. Bên cạnh đó, các cơ quan có liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về lĩnh vực dân tộc cũng đã tăng cường đổi mới trang thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền (nhất là các thiết bị nghe, nhìn), để giúp đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ nhất. Đồng thời, để tăng thêm sức thuyết phục của công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về lĩnh vực dân tộc, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp cơ sở, thường xuyên gần gũi với dân, tìm hiểu tâm tư, nắm bắt nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số; vận động đồng bào đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, phản động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch; các địa phương đã tô chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong cùng dân tộc, trong cộng đồng làng, bản..., tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, song công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Ở một số địa bàn, công tác tuyên truyền chưa được chú trọng đúng mức, tổ chức tuyên truyền theo đợt, chưa có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng làm công tác tuyên truyền nên chưa chủ động trong kế hoạch và kỹ năng tuyên truyền, vì vậy, hiệu quả tuyên truyền còn thấp. Một số nội dung tuyên truyền không cụ thể, không sát hợp với thực tế cuộc sống; chưa phù hợp với dân trí, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số; các sản phẩm và hình thức tuyên truyền như: sách, báo, phát thanh, truyền hình... còn ít sử dụng tiếng nói và chữ viết của đồng - bào dân tộc thiểu số. Công tác định hướng tuyên truyền còn chậm, nhiều vụ việc xảy ra rồi mới đề cập, thậm chí không thống nhất trong thông tin, gây thắc mắc, ngộ nhận trong nhân dân, tạo dư luận không tốt trong xã hội.

Cùng với sự phát triển của đất nước, những năm vừa qua việc tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc đang có sự thay đổi căn bản, ngày: càng sát hợp, hiệu quả với thực tếở các vùng dân tộc thiểu số; từ chỗ thực biện chính sách chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho người dân/từng hộ dân đã chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ; một số vùng đã thực hiện chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển. Công tác tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cũng được quan tâm phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; phát huy được vai trò của người dân và các đối tượng thụ hưởng. Nhờ vậy, tạo ra sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá chính sách, cụ thể là:

Thứ nhất, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc các cấp tập trung mọi nguồn lực, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho vùng đân tộc và miễn núi; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề bức xúc tại các địa bàn vùng dân tộc thiểu số như: vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các địa bàn khó khăn; phát triển nguồn nhân lực, nâng cao đân trí gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động đối với vùng đồng bào đân tộc thiêu số.

Thứ hai, các cơ quan quản lý công tác dân tộc ở Trung ương đã chú trọng phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương (tăng cường phân cấp cho xã làm chủ đầu tư, đây mạnh phân quyền cho cộng đồng nhằm tăng cường sự tham gia và đề cao: vai trò kiểm tra, giám sát của người dân đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa trên địa bàn dân cư), để nâng cao cơ hội tiếp cận và hiệu quả thực hiện chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, quá trình này sẽ tạo điều kiện để nâng cao quyền lực cho các địa phương, tạo môi trường cam kết thuận lợi, quyền ra quyết định với những vấn đề của địa phương cho chính quyền các địa phương. _

Thứ ba, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp địa phương đã cụ thể hóa nghị quyết thành những chương trình, kế hoạch hành động cụ thể đồng bộ và thống nhất. Trong quá trình thực hiện đã có sự phân công, phân cấp, làm rõ trách nhiệm của từng bộ phận trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, cấp ủy, tô chức đảng và chính quyền các cấp địa phương và cán bộ làm công tác dân tộc thường xuyên quan tâm, nắm chắc diễn biến tâm tư, tình cảm của đồng bào các dân tộc; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc; phát huy dân chủở cơ sở, giải quyết kịp thời những bức xúc của nhân dân, nêu cao ý thức tự lực, tự cường và tạo niềm tin, sự đồng thuận của đồng bảo các dân tộc.

Thứ năm, các cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về công ` tác dân tộc phát huy trách nhiệm, nâng cao hiệu quả trong công tác tham mưu; coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống các cơ quan này (chú trọng đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số); xây dựng lực lượng cốt cán, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số.

Thứ sáu, các địa phương vùng dân tộc thiểu số đã quan tâm tới công tác quy hoạch, bố trí, sắp xếp dân cư, thực hiện phát triển sản xuất bền vững: lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư có trọng điểm, xây dựng các mô hình về phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

Trong những năm vừa qua, xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc tiếp tục được củng cố, kiện toàn từ Trung ương đến địa phương. Ở Trung ương, Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật. Ở các địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc tiếp tục được kiện toàn, cấp tỉnh có 52 cơ quan (các cơ quan của 49 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc Trung ương); ở cấp huyện, đã thành lập phòng dân tộc ở các huyện có ít nhất 5.000 người dân tộc thiêu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển, hoặc có đồng bào đân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh - quốc phòng, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào đân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Vì vậy, để phát huy hiệu quả của tô chức bộ máy này, Chính phủ đã chỉ đạo kiện toàn theo hướng tỉnh gọn, hiệu quả; tổ chức các vụ thuộc Ủy ban Dân tộc, các ban, phòng ở các địa phương quản lý nhà nước về công tác dân tộc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với chủ trương cải cách hành chính; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc nhằm mục tiêu: făng cường trách nhiệm phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu câu thực tiễn ở địa phương về công tác dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc ` Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thông tin cơ sở đữ liệu về công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã làm đầu mối, phối hợp hỗ trợ với ban/phòng dân tộc của các địa phương xây dựng hệ thống thông tin cơ sở đữ liệu về công tác dân tộc như: đữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam; về tình hình kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc thiểu số, tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số... Đây là cơ sở đữ liệu được thu thập, tổng hợp từ thực tiễn tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Các thông tin, dữ liệu này có công cụ phân tích dữ liệu theo khung đánh giá chính sách, có phân loại cụ thể chính sách theo tộc người, theo vùng và theo lĩnh vực. Vì vậy, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu rất hữu hiệu trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc là một nhiệm vụ trong chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra nhà nước. Tuy vậy, trong những năm qua, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc không phải là nhiệm vụ trọng tâm của Thanh tra nhà nước nên nhiệm vụ này chủ yếu do Thanh tra của Ủy - ban Dân tộc và Thanh tra của các bộ, ngành trực tiếp quản lý chính - sách có liên quan đến lĩnh vực dân tộc (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông...) thực hiện. Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc do cơ quan đân cử (các cấp) và người dân/cộng đồng thực hiện.

Để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực: hiện chính sách dân tộc, các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác đân tộc đã xây dựng chương trình, kế hoạch và định kỳ thanh tra, kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiêu số. Đặc biệt, khi xây dựng và ban hành các quy định, quy chế giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số đã chú trọng phát huy vai trò của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp và các tầng lớp nhân dân trong hoạt động giám sát theo phương châm: công khai, dân chủ, kỷ cương. Nhờ vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc đã được tiến hành ở tất cả các địa phương, các bộ, ngành có triển khai chính sách dân tộc. Qua đó kiến nghị, đề xuất để sửa đối một số chính sách cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, phát hiện và có sự chấn chỉnh những sai lệch để nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách dân tộc tại các địa bàn.

Tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc là công việc được các cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chính sách tiến hành thường niên, định kỳ. Qua đó đã đánh giá được thực trạng và kết quả thực hiện chính sách, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh, bố sung nội dung, cơ chế quản lý vận hành những chương trình, dự án cụ thể tại các địa bàn và cả những chính sách chung mang tầm vĩ mô. Tuy vậy, ở một số địa phương, công tác tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc vẫn chưa được chú trọng đúng mức, vẫn còn tiến hành mang tính hình thức, vì vậy chưa đánh giá được đầy đủ những thành tựu, hạn chế, rào cản trong thực hiện chính sách dân tộc nên chưa đề xuất được biện pháp phù hợp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.

Tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh

 


- Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng nhất quán, lâu dài trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

Ngay từ khi mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của chính phủ Người đã khẳng định: "Thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ra tuyên bố "tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết".

Ngày 09-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong đó ghi nhận: “Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng”.(6) 

Trong buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam (nǎm 1957), Người khẳng định lại: "Chúng tôi xin nói thêm hai điều, nói rõ để tránh sự hiểu lầm: Một là vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người".

- Tự do tôn giáo gắn liền với độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh, nước có độc lập thì tôn giáo mới được tự do, phát triển, "Từ ngày nước ta trở nên dân chủ cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng thì Phật giáo cũng phát triển thuận lợi. Thế là: Nước có độc lập, thì Đạo Phật mới dễ mở mang"[1];

"Trong lịch sử Việt Nam, lần này là lần đầu (Nôen 1945) mà đồng bào công giáo ta làm lễn Nôen vui vẻ, sung sướng trong nước Việt Nam độc lập, tự do. Tôi tin chắc rằng, dưới sự lãnh đọa sáng suốt của các vị giám mục Việt Nam, đồng bào công giáo quyết một lòng với nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do độc lập đó"[2]

- Khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Người luôn phê phán nghiêm khắc những thái độ, hành vi xâm phạm, hoặc làm phương hại đến quyền tự do chính đáng đó.

Sự tôn trọng đức tin của đồng bào có đạo và lòng thương yêu bà con có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ở Hồ Chí Minh làm cho những người không cùng quan điểm với Người cũng phải kín phục. Chính ông J.Sainteny đã viết trong cuốn sách "Đối diện với Hồ Chí Minh": "Về phần tôi phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào dù rất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào".

- Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những quan điểm của mình mà còn giáo dục cán bộ, Đảng viên cũng như đồng bào lương giáo phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đó.



[1] Hồ Chí MInh, tt. t.5, Sđd, tr.197

[2] Hồ Chí MInh, tt. t.4, Sđd, tr.121-122

 

Quan niệm của Hồ Chí Minh về tôn giáo

 


Tôn giáo là một bộ bộ phận của văn hóa

Đây là cách tiếp cận mới từ góc độ hoạt động sinh tồn của con người trong quá trình tồn tại, phát triển. Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa."[1]

- Chủ tịch Hồ Chí Minh coi các giá trị nhân bản của các tôn giáo là những di sản vǎn hoá tinh thần quý báu của nhân loại.

Bằng tri thức cách mạng, vốn hiểu biết về vǎn hoá sâu sắc và cái nhìn duy vật biện chứng, Người đã phát hiện và tiếp nhận cái thiện, cái mỹ, cái cốt lõi nhân vǎn trong các tôn giáo. Người đã viết: "Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy ".

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh - Người cộng sản, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam không dưới một lần ca ngợi những người sáng lập ra các tôn giáo một cách thành kính: Chúa Giê su dạy đạo đức và bác ái. Phật thích ca dạy đạo đức và từ bi. Khổng Tử dạy đạo đức và nhân nghĩa.

- Điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ là mưu cầu hạnh phúc cho loài người.

Người đã nhấn mạnh điểm chung giữa lý tưởng của chủ nghĩa Mác với tôn giáo và các học thuyết có tính tiến bộ, đó là mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Đây là một đặc điểm lớn được Hồ Chí Minh khai thác một cách triệt để và tài tình trong giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo.



[1] Hồ Chí Minh, tt, t.3, Nxb CTQG,  H.2002, tr.458

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam

 


Theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc gồm 5 tổ chức như sau:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc - trong việc ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực dân tộc trên cơ sở tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn với quyền hạn và trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện.

Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước, cụ thể:

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoạch định, xây đựng, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá; tuyên truyền, vận động việc thực hiện chính sách dân tộc theo quy định;

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan tới công tác dân tộc. Định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc;Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ giao.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, cụ thể là:

Xây dựng, ban hành và trình cấp có thâm quyền ban hành các chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực công tác do bộ, ngành quản lý để áp dụng đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, các dân tộc ít người, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt, hộ dân tộc thiểu số nghèo; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết.việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thuộc quyềnquản lý;

Định kỳ 6 tháng, 1 năm gửi báo cáo về tình hình công tác dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước do bộ, ngành chủ trì và gửi Ủy ban Dân tộc để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tô chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật ở địa phương, cụ thê: Hằng năm, xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác dân tộc. Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số; Xây dựng và tô chức thực hiện các chính sách, chương trình, đự án của địa phương đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; Định kỳ 6 tháng, 1 năm báo cáo về tình hình dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở địa phương mình gửi Ủy ban Dân tộc tổng hợp chung, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Cơ quan công tác dân tộc được tổ chức từ Trung ương, tỉnh và cấp huyện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiếu số hoạt động thống nhất theo sự chỉ đạo của Ủy ban Dân tộc.

Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội

 


Tôn trọng tự do, tín ngưỡng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một khái niệm dùng để chỉ quyền của con người được thực hiện các hành vi tôn giáo, theo đuổi một tín ngưỡng của cá nhân một cách tự do, con người được theo hoặc không theo một tín ngưỡng tôn giáo nào, những quyền tự do đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật mà Nhà nước hiện hành quy định. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền được các quốc gia trên thế giới thừa nhận và bảo đảm. Điều 18 trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 viết: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo, quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự dạy, hành đạo, thờ phụng, nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng”[1]

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo”,V.I.Lênin viết “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào, nghĩa là được làm người vô thần, như bất cứ người xã hội chủ nghĩa nào cũng thường là người vô thần. Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được”.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là xuất phát từ việc tôn trọng tự do tư tưởng - một trong những quyền cơ bản của công dân, chính là tôn trọng niềm tin của tín đồ vào một loại hình tôn giáo nào đó mà họ cần đến, vào một loại hình tín ngưỡng mà họ coi là nhu cầu không thể thiếu. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN.

Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Cần phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo, nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân là cơ sở để đoàn kết các lực lượng quần chúng có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Qua đó để tiến hành vận động quần chúng các tôn giáo và hàng ngũ giáo sĩ, chức sắc tôn giáo tham gia vào các hoạt động tiến bộ, yêu nước do Đảng lãnh đạo, tiến hành các hoạt hoạt động tuyên truyền, giáo dục, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thế giới quan duy vật khoa học quần chúng… Đồng thời đây là cơ sở để đấu tranh chống lại các luận điệu vu cáo, các hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Nhà nước XHCN.

Khắc phục và đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn những mặt tiêu cực của tôn giáo

Đây là một nguyên tắc nhưng cũng là yêu cầu quan trọng nhất cần phải quán triệt trong công tác giải quyết vấn đề tôn giáo của những người cộng sản. Chỉ có thế tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin - tư tưởng khoa học chân chính, chủ đạo trong chủ nghĩa xã hội mới có thể đi sâu vào quần chúng nhân dân, mới tạo được nền tảng cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng xã hội mới.

Trong Chống Đuy-rinh, Ăngghen đã cực lực phê phán thái độ bài tôn giáo cực đoan của Đuy-rinh: "Trong xã hội tự do, không thể có sự thờ cúng; bởi vì mỗi thành viên của xã hội đều khắc phục được cái quan niệm ấu trĩ nguyên thuỷ cho rằng ở đằng sau thiên nhiên hay bên trên thiên nhiên, có những đấng mà người ta có thể dùng những vật hy sinh hay những lời cầu nguyện để tác động đến". "Vì thế, hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa, được hiểu một cách đúng đắn, phải ... phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần, và do đó, phế bỏ tất cả những yếu tố cơ bản của sự thờ cúng"

Người cho rằng tôn giáo chỉ thực sự mất đi khi xã hội đã được cải tạo hoàn toàn: việc nắm giữ cũng như việc sử dụng các tư liệu sản xuất đã được lên kế hoạch, giúp xã hội tự giải phóng mình và giải phóng mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng nô dịch và áp bức bất công; khi không còn mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên nữa, mà cả mưu sự và thành sự đều từ con người mà ra cả... khi đó tôn giáo - sự phản ánh thế giới tự nhiên một cách sai lạc trong bộ não con người, sẽ tự mất đi, bởi nó sẽ chẳng còn gì để phản ánh nữa.

 Tuyệt đối không sử dụng các biện pháp bạo lực để xoá bỏ tôn giáo.

Mác, Ăngghen đã nhận định rất đúng về hậu quả của chính sách đàn áp tôn giáo theo chủ trương của Đuy-rinh: "giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó";

V.I.Lênin: "Ăngghen đã coi lời tuyên chiến ầm ĩ của họ (phái Blăng ky) với tôn giáo là dại dột. Tuyên chiến như thế là phương pháp tốt nhất làm khích động thêm sự quan tâm cảu người ta đối với tôn giáo, và làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự một cách khó khăn hơn"[2]

Vi phạm nguyên tắc này là cố tình đẩy xã hội tới chỗ phân chia, đẩy những người theo đạo vào chỗ buộc phải chống lại chính quyền nhân dân. Vi phạm nguyên tắc này cũng là đi ngược lại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vi phạm nghiêm trọng tới quyền thiết yếu nhất của con người: quyền được tự do; và trong đó có quyền được tự do theo hay không theo một tôn giáo. Chính quyền nhân dân nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là chính quyền của nhân dân nữa, tổ chức đảng nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là đảng cộng sản nữa. Bên cạnh đó, cần phải không ngừng phát huy những giá trị tốt đẹp, tích cực của tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa; cần phải nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.

Không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó có cả những người theo đạo và người không theo đạo.

Đó là yêu cầu hàng đầu để xây dựng đất nước và xã hội, nhưng cũng là một cách thức quan trọng để những người theo đạo hoà nhập vào với cuộc sống tích cực của xã hội, để họ dần nhận ra rằng cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất, để giúp họ chủ động tham gia vào các hoạt động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; chứ không phải luôn trong trạng thái thụ động, tiêu cực vì chỉ quan tâm tới việc sống sao bây giờ cho mai sau đến được với " nước Thiên Đường " hay " cõi Niết bàn ".

d. Không ngừng thực hiện công tác giáo dục tuyên truyền, giúp quần chúng nhân dân hiểu nắm được những lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận rõ những tư tưởng duy tâm là hoàn toàn không có căn cứ.

Việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học cũng như thế giới quan duy vật không chỉ đẩy lui những sai lầm trong nhận thức của tư duy tôn giáo, mà chủ yếu là góp phần nâng cao trình độ kiến thức cho toàn dân.

e. Kết hợp nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân theo đạo với nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống những thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, để tuyên truyền chống phá cách mạng. Cuộc đấu tranh này vừa phải khẩn trương, kiên quyết vừa phải thận trọng và có sách lược đúng, nếu không sẽ dễ dàng bị nhìn nhận là chính sách đàn áp tôn giáo.

+     Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo.

Khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thì chính trị ít nhiều đều in rõ trong các tôn giáo. Và từ đó hai mặt chính trị và tư tưởng thường thể hiện và có một quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo.

+ Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ, mâu thuẫn giữa cách mạng với phản cách mạng, giữa tiến bộ với phản động, phán ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp và mâu thuẫn giữa những thế lực lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng với lợi ích của nhân dân lao động.

+ Mặt tư tưởng phản ánh sự khác nhau về niềm tin, mức độ tin, phản ánh mâu thuẫn không mang tính đối kháng giữa những người có tín ngưỡng và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

+ Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thực chất là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này, trong thực tế không đơn giản, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai lệch bản chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen vào nhau. Có những hoạt động liên quan đến tôn giáo, chúng ta không thể phân biệt được đâu là mặt tư tưởng, đâu là mặt chính trị. Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, vấn đề tôn giáo thường bị yếu tố chính trị chi phối rất sâu sắc, nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần túy trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng “tả” hoặc “hữu” trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Phân biệt hai mặt này để có chủ trương, phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp những vấn đề liên quan đến tôn giáo.

+ Xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và an ninh quốc gia, nhà nước XHCN phải thường xuyên đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động trong tôn giáo. Ngày nay, các thế lực phản động đang lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở các nước XHCN còn lại. Điều đó nhắc nhở Đảng của giai cấp công nhân cần nêu cao cảnh giác, giải quyết kịp thời, cương quyết đối với những hoạt động lợi dụng tôn giáo chống CNXH, nhưng cũng phải hết sức khách quan, chính xác, tránh nôn nóng, vội vàng, chủ quan, định kiến.

Giải quyết vấn đề tôn giáo trên quan điểm lịch sử,

Tức là phải nhìn nhận vai trò, tác động của tôn giáo tới đời sống xã hội trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau là có thể rất khác nhau.

Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, mà nó luôn vận động và biến đổi không ngừng tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội – lịch sử cụ thể. Mỗi tôn giáo đều có lịch sử hình thành, có quá trình tồn tại và phát triển nhất định. Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đối với xã hội không giống nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Bởi vậy mối quan hệ với tôn giáo cũng cần phải rất linh hoạt và mềm dẻo: có những thời điểm phải biết đoàn kết các tôn giáo để chống lại những kẻ thù chung của cả dân tộc; nhưng trong thời điểm khác phải đẩy mạnh công cuộc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học.



[1] Bộ Công An, Tổng cục an ninh, 05/2009: Kỷ yếu Hội thảo Nhân quyền với vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội,tr.54

 

[2] V.I. Lênin, tt, t.17, Nxb TB, M.1981, tr.511

 

Phương pháp quản lý công dân tộc ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú

 


Phương pháp quán lý nhà nước về công tác dân tộc Quản lý nhà nước nói chung, nhất là quản lý nhà nước về công tác dân tộc là lĩnh vực phức tạp, do đó, trong thực tế thường không sử dụng một phương pháp đơn lẻ mà trong từng lĩnh vực, từng địa bàn và từng dân tộc khác nhau phải có những phương pháp quản lý phù hợp. Về cơ bản, các cơ quan chức năng thường áp dụng tông hợp ba nhóm phương pháp quản lý sau:

Nhóm phương pháp quản lý hành chính

Nhóm phương pháp quản lý hành chính là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ tô chức của hệ thống quản lý. Thông qua các quy chế, quy định, quyết định, chủ thê quản lý nhà nước về công tác dân tộc sẽ tác động trực tiếp đến các tập thể và cá nhân dưới quyền bằng các quyết định đứt khoát mang tính chất bắt buộc; đời hỏi cấp đưới phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng. Nhóm phương pháp này có vai trò quan. trọng trong công tác quản lý nhằm xác lập trật tự, kỷ cương trong tô chức; giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý một cách nhanh chóng và là khâu nối các phương pháp khác thành một hệ thống.

Nhóm phương pháp quản lý kinh tế

Nhóm phương pháp quản lý kinh tế là các phương pháp cơ. quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế bằng việc sử dụng các đòn bây kinh tế (tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt) để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ. Nhóm phương pháp này có vai trò quan trọng và là trung tâm trong công tác quản lý, vì nó tác động thông qua các lợi ích kinh tế, tạo ra sự quan tâm về vật chất thiết thân của mỗi cá nhân và tập thể, tạo ra động lực kinh tế trực tiếp khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người.

Nhóm phương pháp quản lý tâm lý - xã hội

Nhóm phương pháp quản lý tâm lý - xã hội (hay còn gọi lànhóm phương pháp quản lý “tâm lý - giáo dục”, “giáo dục”) là cách thức mà cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc tác động vào nhận thức và tình cảm của đối tượng quản lý nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Nhóm - phương pháp quản lý tâm lý - xã hội đựa trên cơ sở sự vận dụng các quy luật tâm lý, trong đó, đặc trưng là tính thuyết phục và kích thích tinh thần.

Ngoài các phương pháp nêu trên, do tính đặc thù của quản lý nhà nước về công tác dân tộc nên các cơ quan quản lý còn áp dụng một số phương pháp chuyên biệt, như: quản lý bằng pháp luật, quản lý bằng bộ máy tổ chức, quản lý bằng chính sách cụ thể (chương trình, mục tiêu, dự án...), quản lý bằng thanh tra, kiểm tra, tổng kết.