Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam

 


Theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-1-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc gồm 5 tổ chức như sau:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc - trong việc ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực dân tộc trên cơ sở tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn với quyền hạn và trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện.

Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước, cụ thể:

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoạch định, xây đựng, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá; tuyên truyền, vận động việc thực hiện chính sách dân tộc theo quy định;

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan tới công tác dân tộc. Định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc;Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ giao.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, cụ thể là:

Xây dựng, ban hành và trình cấp có thâm quyền ban hành các chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực công tác do bộ, ngành quản lý để áp dụng đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, các dân tộc ít người, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt, hộ dân tộc thiểu số nghèo; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết.việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thuộc quyềnquản lý;

Định kỳ 6 tháng, 1 năm gửi báo cáo về tình hình công tác dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước do bộ, ngành chủ trì và gửi Ủy ban Dân tộc để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tô chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật ở địa phương, cụ thê: Hằng năm, xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác dân tộc. Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số; Xây dựng và tô chức thực hiện các chính sách, chương trình, đự án của địa phương đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; Định kỳ 6 tháng, 1 năm báo cáo về tình hình dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở địa phương mình gửi Ủy ban Dân tộc tổng hợp chung, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Cơ quan công tác dân tộc được tổ chức từ Trung ương, tỉnh và cấp huyện thuộc vùng đồng bào dân tộc thiếu số hoạt động thống nhất theo sự chỉ đạo của Ủy ban Dân tộc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét