Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA _

 


Kể từ khi đổi mới đến nay, Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá đầy đủ, toàn điện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010 đến năm 2015, ngoài những văn bản do Quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dân tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách đân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mặc dù, số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các dân tộc thiểu số/vùng đân tộc thiểu số và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với đân tộc thiêu số nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đăng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là các văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với khu vực đồng bào đân tộc thiêu số/đồng bào dân tộc thiểu số được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế, chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp Trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/ thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bản triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tô chức thực hiện.

Trong những năm vừa qua, công tác tuyên truyền, phô biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc được thực hiện thường xuyên thông qua việc phố biến, giáo dục, quán triệt các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chính sách, đề án, dự án, kế hoạch, chương trình hành động của Chính phủ về dân tộc.

Để nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền, căn cứ vào từng nhóm đối tượng cần được tuyên truyền, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở các cấp đã thông qua nhiều biện pháp, hình thức khác nhau thực hiện việc tuyên truyền để đảm bảo tính phù hợp, hiệu quả. Trong đó, nội dung tuyên truyền tập trung vào các quy định của pháp luật về dân tộc, tôn giáo, trách nhiệm tham gia bảo vệ, giữ gìn an ninh, quốc phòng, biên giới, chủ quyền quốc gia, biển, đảo, tài nguyên, khoáng sản và các lĩnh vực pháp luật khác gắn liền với đời sống, sản xuất của người dân đề đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện chính sách dân tộc, tạo chuyên biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung. Đồng thời, công tác tuyên truyền cũng đã chú trọng chống kỳ thị dân tộc; chống mọi biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cục bộ, địa phương; khắc phục tâm lý mặc cảm, tự ti dân tộc; chống những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Cùng với đó, các cơ quan chức năng còn rất chú trọng đến việc lựa chọn, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền chuyên trách đủ trình độ, năng lực; đồng thời phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng (già làng, trưởng bản, trưởng họ, các chức sắc tôn giáo...) và những người gần gũi, gắn bó với cộng đồng (cán bộ y tế, giáo viên cắm bản...) cùng tham gia vào công tác tuyên truyền. Bên cạnh đó, các cơ quan có liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về lĩnh vực dân tộc cũng đã tăng cường đổi mới trang thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền (nhất là các thiết bị nghe, nhìn), để giúp đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ nhất. Đồng thời, để tăng thêm sức thuyết phục của công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về lĩnh vực dân tộc, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp cơ sở, thường xuyên gần gũi với dân, tìm hiểu tâm tư, nắm bắt nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số; vận động đồng bào đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, phản động, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch; các địa phương đã tô chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong cùng dân tộc, trong cộng đồng làng, bản..., tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, song công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về dân tộc vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Ở một số địa bàn, công tác tuyên truyền chưa được chú trọng đúng mức, tổ chức tuyên truyền theo đợt, chưa có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng làm công tác tuyên truyền nên chưa chủ động trong kế hoạch và kỹ năng tuyên truyền, vì vậy, hiệu quả tuyên truyền còn thấp. Một số nội dung tuyên truyền không cụ thể, không sát hợp với thực tế cuộc sống; chưa phù hợp với dân trí, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số; các sản phẩm và hình thức tuyên truyền như: sách, báo, phát thanh, truyền hình... còn ít sử dụng tiếng nói và chữ viết của đồng - bào dân tộc thiểu số. Công tác định hướng tuyên truyền còn chậm, nhiều vụ việc xảy ra rồi mới đề cập, thậm chí không thống nhất trong thông tin, gây thắc mắc, ngộ nhận trong nhân dân, tạo dư luận không tốt trong xã hội.

Cùng với sự phát triển của đất nước, những năm vừa qua việc tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc đang có sự thay đổi căn bản, ngày: càng sát hợp, hiệu quả với thực tếở các vùng dân tộc thiểu số; từ chỗ thực biện chính sách chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho người dân/từng hộ dân đã chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ; một số vùng đã thực hiện chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển. Công tác tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cũng được quan tâm phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; phát huy được vai trò của người dân và các đối tượng thụ hưởng. Nhờ vậy, tạo ra sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá chính sách, cụ thể là:

Thứ nhất, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc các cấp tập trung mọi nguồn lực, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho vùng đân tộc và miễn núi; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề bức xúc tại các địa bàn vùng dân tộc thiểu số như: vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các địa bàn khó khăn; phát triển nguồn nhân lực, nâng cao đân trí gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động đối với vùng đồng bào đân tộc thiêu số.

Thứ hai, các cơ quan quản lý công tác dân tộc ở Trung ương đã chú trọng phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương (tăng cường phân cấp cho xã làm chủ đầu tư, đây mạnh phân quyền cho cộng đồng nhằm tăng cường sự tham gia và đề cao: vai trò kiểm tra, giám sát của người dân đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa trên địa bàn dân cư), để nâng cao cơ hội tiếp cận và hiệu quả thực hiện chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, quá trình này sẽ tạo điều kiện để nâng cao quyền lực cho các địa phương, tạo môi trường cam kết thuận lợi, quyền ra quyết định với những vấn đề của địa phương cho chính quyền các địa phương. _

Thứ ba, cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp địa phương đã cụ thể hóa nghị quyết thành những chương trình, kế hoạch hành động cụ thể đồng bộ và thống nhất. Trong quá trình thực hiện đã có sự phân công, phân cấp, làm rõ trách nhiệm của từng bộ phận trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, cấp ủy, tô chức đảng và chính quyền các cấp địa phương và cán bộ làm công tác dân tộc thường xuyên quan tâm, nắm chắc diễn biến tâm tư, tình cảm của đồng bào các dân tộc; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc; phát huy dân chủở cơ sở, giải quyết kịp thời những bức xúc của nhân dân, nêu cao ý thức tự lực, tự cường và tạo niềm tin, sự đồng thuận của đồng bảo các dân tộc.

Thứ năm, các cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về công ` tác dân tộc phát huy trách nhiệm, nâng cao hiệu quả trong công tác tham mưu; coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống các cơ quan này (chú trọng đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số); xây dựng lực lượng cốt cán, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số.

Thứ sáu, các địa phương vùng dân tộc thiểu số đã quan tâm tới công tác quy hoạch, bố trí, sắp xếp dân cư, thực hiện phát triển sản xuất bền vững: lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư có trọng điểm, xây dựng các mô hình về phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

Trong những năm vừa qua, xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc tiếp tục được củng cố, kiện toàn từ Trung ương đến địa phương. Ở Trung ương, Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật. Ở các địa phương, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc tiếp tục được kiện toàn, cấp tỉnh có 52 cơ quan (các cơ quan của 49 tỉnh và 3 thành phố trực thuộc Trung ương); ở cấp huyện, đã thành lập phòng dân tộc ở các huyện có ít nhất 5.000 người dân tộc thiêu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển, hoặc có đồng bào đân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh - quốc phòng, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào đân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Vì vậy, để phát huy hiệu quả của tô chức bộ máy này, Chính phủ đã chỉ đạo kiện toàn theo hướng tỉnh gọn, hiệu quả; tổ chức các vụ thuộc Ủy ban Dân tộc, các ban, phòng ở các địa phương quản lý nhà nước về công tác dân tộc quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với chủ trương cải cách hành chính; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc nhằm mục tiêu: făng cường trách nhiệm phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu câu thực tiễn ở địa phương về công tác dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc ` Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thông tin cơ sở đữ liệu về công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã làm đầu mối, phối hợp hỗ trợ với ban/phòng dân tộc của các địa phương xây dựng hệ thống thông tin cơ sở đữ liệu về công tác dân tộc như: đữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam; về tình hình kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc thiểu số, tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số... Đây là cơ sở đữ liệu được thu thập, tổng hợp từ thực tiễn tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Các thông tin, dữ liệu này có công cụ phân tích dữ liệu theo khung đánh giá chính sách, có phân loại cụ thể chính sách theo tộc người, theo vùng và theo lĩnh vực. Vì vậy, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu rất hữu hiệu trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc là một nhiệm vụ trong chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra nhà nước. Tuy vậy, trong những năm qua, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc không phải là nhiệm vụ trọng tâm của Thanh tra nhà nước nên nhiệm vụ này chủ yếu do Thanh tra của Ủy - ban Dân tộc và Thanh tra của các bộ, ngành trực tiếp quản lý chính - sách có liên quan đến lĩnh vực dân tộc (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông...) thực hiện. Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc do cơ quan đân cử (các cấp) và người dân/cộng đồng thực hiện.

Để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực: hiện chính sách dân tộc, các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác đân tộc đã xây dựng chương trình, kế hoạch và định kỳ thanh tra, kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiêu số. Đặc biệt, khi xây dựng và ban hành các quy định, quy chế giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số đã chú trọng phát huy vai trò của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp và các tầng lớp nhân dân trong hoạt động giám sát theo phương châm: công khai, dân chủ, kỷ cương. Nhờ vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc đã được tiến hành ở tất cả các địa phương, các bộ, ngành có triển khai chính sách dân tộc. Qua đó kiến nghị, đề xuất để sửa đối một số chính sách cho phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, phát hiện và có sự chấn chỉnh những sai lệch để nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách dân tộc tại các địa bàn.

Tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc là công việc được các cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện chính sách tiến hành thường niên, định kỳ. Qua đó đã đánh giá được thực trạng và kết quả thực hiện chính sách, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh, bố sung nội dung, cơ chế quản lý vận hành những chương trình, dự án cụ thể tại các địa bàn và cả những chính sách chung mang tầm vĩ mô. Tuy vậy, ở một số địa phương, công tác tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc vẫn chưa được chú trọng đúng mức, vẫn còn tiến hành mang tính hình thức, vì vậy chưa đánh giá được đầy đủ những thành tựu, hạn chế, rào cản trong thực hiện chính sách dân tộc nên chưa đề xuất được biện pháp phù hợp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét