Thứ Năm, 25 tháng 3, 2021

Kiên định mục tiêu kép của Chính phủ

 


Trước và trong thời gian diễn ra Đại hội XIII của Đảng, không ít phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và trang cá nhân của nhiều đối tượng cực đoan trên mạng xã hội (MXH) rộ lên những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc về nhân sự, các nội dung văn kiện, Điều lệ Đảng và công tác tổ chức đại hội... nhằm mưu đồ phá hoại. Đến nay, cơn “bão” thông tin xấu độc nhằm vào Đại hội XIII của Đảng gần như tắt ngấm. Sự thành công rất tốt đẹp Đại hội XIII của Đảng chính là bằng chứng thuyết phục nhất đẩy lùi, chặn đứng những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội, phản động. Qua đó giúp chúng ta thêm một lần nữa thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Với chiêu bài bám vào dòng thời sự chủ lưu, diễn biến tình hình đời sống KT-XH trong nước và những biến động trong môi trường quốc tế, các thế lực thù địch tạo cớ theo kiểu “mượn gió để gây bão”. Khi “gió” đã thành “bão” thì nhân cơ hội “bẻ măng”. Chiêu bài không mới nhưng luôn tỏ ra đắc dụng trong không ít trường hợp, vì vậy nó luôn được áp dụng ở những mức độ, phạm vi, quy mô khác nhau, tùy theo diễn biến của tình hình.

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp tạo nên bầu không khí phấn khởi, lạc quan, tin tưởng bao trùm lên đời sống xã hội của toàn dân và kiều bào yêu nước khắp nơi trên thế giới. Khí thế thi đua mừng xuân, mừng Đảng, mừng Đại hội XIII thành công diễn ra sôi nổi, rộng khắp, tạo nên xung lực mới cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Hiện thực sống động ấy khiến những phần tử cơ hội, chống đối không khỏi cay cú, nên lập tức chuyển hướng tuyên truyền, kích động chống phá. Dịch Covid-19 tái bùng phát ở một số địa phương thời điểm giáp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021 đến nay chính là cái cớ để các thế lực thù địch bám vào. Bắt đầu là việc tung tin thất thiệt về dịch bệnh nhằm gây tâm lý hoang mang, lo ngại trong cộng đồng; tiếp đó, thông qua các hình thức như “đối thoại”, “phỏng vấn”, “bàn tròn”, “trực tuyến”, “luận bàn”... nhiều đối tượng và nhóm đối tượng ra sức thực hiện các sản phẩm truyền thông xuyên tạc. Những clip được thực hiện với cái gọi là “sự thật”, “khách quan”... thực chất chỉ là trò đánh tráo khái niệm, bóng gió, ám chỉ, lấy các sự việc, sự kiện liên quan đến dịch bệnh và những khó khăn của một số lĩnh vực trong nền kinh tế để công kích, xuyên tạc nghị quyết của Chính phủ, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta...

Để tăng độ "nóng" cho các luận điệu xuyên tạc, một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại tiếp tục lôi kéo, sử dụng các đối tượng bất mãn, có tư tưởng chống đối trong nước và tâng bốc họ bằng các loại danh xưng tự phong, như: “Nhà nghiên cứu”, “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động môi trường”, “chuyên gia của dân oan”... Thông qua miệng lưỡi của các loại “nhà” này, họ cố tạo ra uy tín giả để xuyên tạc luận điểm, ngụy tạo luận chứng, bịa đặt luận cứ... vẽ ra bức tranh đen tối, tiêu cực về đời sống KT-XH để lèo lái dư luận. Tuy nhiên, khi vào trang cá nhân trên MXH của một số loại “nhà” này thì thấy, không ít đối tượng đã lợi dụng chiêu trò để đánh bóng tên tuổi, bán hàng online, kinh doanh kiếm tiền. Mục tiêu của nhiều đối tượng dạng này là trở thành những “Kols” (Kols là từ viết tắt của Key Opinions Leaders, nghĩa là những người có tầm ảnh hưởng lớn trên cộng đồng mạng, thường được mời tham gia các chiến dịch truyền thông để tạo sức lan tỏa). Lợi dụng quyền dân chủ và tự do ngôn luận, họ không ngừng đánh bóng tên tuổi để trở thành “Kols”, xâm hại lợi ích quốc gia, ám chỉ, bịa đặt, gây tổn hại uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân... Đây là chiêu trò rất nguy hiểm. Một số đối tượng hoạt động vi phạm pháp luật, bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra theo Điều 331 Bộ luật Hình sự thời gian gần đây, như: Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thị Bích Thủy (Bích Thủy TV), Phan Bùi Bảo Thi... chính là những “Kols” dạng này. Sự vào cuộc kịp thời của các cơ quan chức năng và tính nghiêm minh của pháp luật đã có tác dụng răn đe, thức tỉnh nhiều người. Tuy nhiên, vẫn còn không ít đối tượng, vì nhiều lý do, vẫn tiếp tục bị lôi kéo, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động trên không gian mạng theo kiểu lấp lửng, giả giả thật thật, u u minh minh, nhằm ám chỉ, bịa đặt, xâm hại quyền lợi, danh dự tổ chức, cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đáng tiếc, từ những thông tin kiểu dẫn dụ ấy, một số cá nhân, trong đó có cả một số người trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, hưu trí... lại cả tin hùa theo, phát ngôn thiếu suy nghĩ kiểu ngẫu hứng cá nhân, bỡn cợt, đả kích, gây hoang mang dư luận.

Không khó nhận ra chân tướng của những chiêu trò này để phân biệt đâu là vàng, đâu là thau, đâu là hàng xi mạ bóng bẩy. Trong đối tượng có đối tác và trong đối tác có đối tượng. Hãy nhìn cách họ thể hiện thái độ, bày tỏ quan điểm cá nhân trên không gian mạng để chúng ta có cách ứng xử phù hợp. Cách tốt nhất là cùng nhau tẩy chay, đấu tranh thẳng thắn với những đối tượng có hành vi lệch lạc về tư tưởng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời góp ý chân thành, thẳng thắn với những cá nhân có biểu hiện dao động, bị lôi kéo, dụ dỗ. Bảo vệ môi trường văn hóa tư tưởng lành mạnh, nhất là trên không gian mạng, phải bắt đầu từ những việc làm mang tinh thần xây dựng, theo phương châm lấy xây để chống...

Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ vừa ban hành đầu năm 2021 thể hiện quyết tâm cao, hành động quyết liệt, nhất quán thực hiện hiệu quả mục tiêu kép, vừa PCD bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển KT-XH. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tổng cầu phù hợp, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng; đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo dõi sát diễn biến tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời dự báo và chuẩn bị phương án, kịch bản, biện pháp, đối sách ứng phó hiệu quả với những biến động, vấn đề mới phát sinh. Tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu năm 2021 là: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5%; GDP bình quân đầu người khoảng 3.700USD; tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45-47%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội khoảng 4,8%...

Từ kinh nghiệm và kết quả ứng phó, khống chế dịch Covid-19 trong năm 2020, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn có niềm tin vững chắc vào sự thành công trong nhiệm vụ PCD Covid-19 từ đợt tái bùng phát này. Hiện chỉ còn tỉnh Hải Dương tình hình dịch đang diễn biến phức tạp, còn ở những địa phương khác, hầu hết các ổ dịch đã được khống chế hiệu quả. Thực hiện mục tiêu kép, các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn được duy trì, phát triển trong trạng thái bình thường mới. Ở những địa phương và những lĩnh vực kinh tế (nhất là khu vực nông nghiệp-nông thôn) ít chịu tác động của dịch bệnh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh không những được giữ vững mà còn tăng tốc phát triển mạnh mẽ. Hiệu quả vượt bậc của chiến lược tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm, gồm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương là một điển hình. Chiến lược tái cơ cấu này đã và đang tạo nên những bước đột phá vượt bậc, đưa hàng loạt sản phẩm và vùng sản phẩm nông nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, nâng cao năng suất, hiệu quả và đặc biệt là giá trị sản phẩm cao gấp hàng chục lần so với sản xuất truyền thống trước đây.

Có thể thấy, bên cạnh những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19 như: Kinh doanh du lịch, dịch vụ giải trí... nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế đã biến khó khăn thành cơ hội để bứt phá vượt lên. Hoàn toàn không có chuyện đời sống xã hội sẽ “toang”, nền kinh tế sẽ “sập” như những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các phần tử cực đoan, thế lực thù địch đã và đang rêu rao. Chúng ta tin tưởng dịch Covid-19 sẽ sớm được khống chế. Những mục tiêu về KT-XH Chính phủ đề ra trong năm 2021 sẽ trở thành hiện thực bằng sự kiên định, quyết liệt, đoàn kết, thống nhất thực hiện mục tiêu kép trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và kiều bào yêu nước trên toàn cầu.

Tư duy hẹp hòi, thiển cận về bình đẳng giới ở Việt Nam

 


Giữa lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vui mừng, phấn khởi khi Đại hội lần thứ XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp, lại có những kẻ hậm hực “bới lông tìm vết”. Không tìm thấy những thiếu sót trong đại hội, họ bèn “soi” vào nhân sự Bộ Chính trị và “phát hiện” ra rằng nhiệm kỳ này chỉ có một phụ nữ, trong khi nhiệm kỳ XII có 3. Thế là họ phán trên mạng xã hội rằng: “Đây là bước thụt lùi về bình đẳng giới”.

Đúng là những người này “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết trong Bộ Chính trị nhiệm kỳ Đại hội IX, Đại hội X không có đại biểu nữ. Đến nhiệm kỳ XI, khi Hội nghị lần thứ nhất của Ban chấp hành (BCH) Trung ương bầu Bộ Chính trị mới có 1 đại biểu nữ, đến gần giữa nhiệm kỳ mới bổ sung thêm 1 đại biểu nữ nữa. Điều đáng nói hơn là tại Đại hội XIII, trong số Ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ, tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII. Trong 63 bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có tới 9 người là nữ thuộc các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay. Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước. Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam khẳng định: “Một trong những thành công rất nổi bật của công tác lãnh đạo, chỉ đạo đại hội đảng các cấp thời gian vừa qua là cán bộ nữ tham gia cấp ủy cả 3 cấp đều tăng về số lượng và chất lượng. Đây là điều hết sức đáng vui mừng. Điều đáng vui mừng hơn nữa là có hơn 4.200 cán bộ nữ được lựa chọn, giới thiệu và bầu giữ chức vụ cán bộ chủ chốt trong Đảng và chính quyền ở cả 3 cấp này”.

Tại Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, số lượng đại biểu nữ cũng tăng trong nhiệm kỳ gần đây. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 26,72% và đến nay là 27,1%, tăng 2,3% so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy sự vươn lên của phụ nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ hai khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đứng thứ 6 ở châu Á.

Ý kiến cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm đến sự tiến bộ của phụ nữ là hoàn toàn không có cơ sở. Trong suốt hơn 90 năm từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Vì vậy, sự nghiệp giải phóng phụ nữ không chỉ là công việc riêng của phụ nữ mà gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chỉ tính riêng trong 15 năm trở lại đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ, như Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16-5-1994, của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đặc biệt, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị "về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng" đã nhấn mạnh về cơ cấu cán bộ nữ: “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ... Cấp ủy các cấp, nhất là người đứng đầu phải chủ động và có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, đánh giá để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy khóa mới; đồng thời, có giải pháp hiệu quả chuẩn bị nguồn cán bộ cả trước mắt và lâu dài”.

Từ các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ để “nam nữ bình quyền” được khẳng định nhất quán từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, quy định rõ: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”, “Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”, “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.

Việt Nam cũng đã ký kết tham gia Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW) và đã được từng bước luật hóa trong văn bản pháp luật và các chính sách có liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, như: Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Hình sự; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,...

Ông Jesper Morch, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam đã đánh giá: “Việt Nam là nước dẫn đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua việc cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ và nam giới. Sự chênh lệnh về tỷ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam là rất thấp. Tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm”.

Mục tiêu bình đẳng giới đã được ghi rõ trong Luật Bình đẳng giới của Việt Nam là “xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.

Thực tế hiện nay, nhiều người vẫn có cái nhìn sai lệch về bình đẳng giới. Đã có những ý kiến cho rằng, “bình đẳng giới thì phụ nữ phải làm những công việc “dành cho đàn ông” và ngược lại”. Họ không nhớ rằng, thiên chức của người phụ nữ và nam giới khác nhau. Trên thực tế, một số công việc chỉ phù hợp với phụ nữ, không phù hợp với đàn ông ví dụ như giáo viên mầm non. Một số công việc lại chỉ cơ bản phù hợp với nam giới, không phù hợp với phụ nữ ví dụ như lái tàu ngầm... Một phụ nữ muốn ở nhà làm nội trợ, làm mẹ, làm vợ, chăm sóc con cái, chẳng có gì là mâu thuẫn với các phong trào nữ quyền nếu như bạn ấy hoàn toàn muốn như vậy và không bị ép buộc.

Phụ nữ và cả nam giới sẽ không cảm thấy bất bình đẳng khi mà họ được sống vui vẻ, làm được những gì họ mong muốn trong cuộc đời mình. Có người suy nghĩ rằng, “bình đẳng giới là đấu tranh cho phụ nữ, chống lại đàn ông”. Điều này là không đúng. Về mặt pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới thì bình đẳng giới là đấu tranh cho mọi giới tính, cho tất cả mọi người. Mục tiêu của bình đẳng giới là giới tính không phải giới hạn. Trong xã hội hiện nay, đã có nhiều đàn ông đang phải chịu không ít bất công, hạn chế, khuôn mẫu xuất phát từ giới tính của mình. Ví dụ như những khuôn mẫu về sự nam tính, đàn ông phải mạnh mẽ, kiềm chế cảm xúc, phải là trụ cột gia đình... Những niềm tin đó đang khiến nhiều người phải chịu gánh nặng, không được sống đúng với con người thật của mình. Đã từng có các đức ông chồng bị các bà vợ đánh đập, xỉ nhục. Cũng có trường hợp nam giới bị lạm dụng, xâm hại tình dục... Bình đẳng thực chất chỉ đạt được khi đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng của tất cả các giới tính.

Vào đúng dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ năm nay, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Mục tiêu cụ thể của chiến lược, trong lĩnh vực chính trị, đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ; trong lĩnh vực kinh tế, lao động, tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030; giảm tỷ trọng lao động làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030; tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030.

Rất mong những người còn có cái nhìn hẹp hòi, sai lệch, thiển cận về bình đẳng giới ở Việt Nam hãy nghiên cứu kỹ chiến lược nói trên để nhìn nhận lại vấn đề này.

Nhận diện rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá Việt Nam

 


Có thể nói, chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Giữa lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó.

Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ XHCN hay TBCN đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.

Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng.

Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII và thành công tốt đẹp Đại hội XIII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.

Thực tế đã khẳng định cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng. Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh, đó là sự thống nhất một ý chí, một quyết tâm chống tham nhũng trong toàn Đảng. Chính quyết tâm chính trị của Đảng là lời hiệu triệu lòng dân và những cán bộ, đảng viên đồng lòng trong cuộc chiến này. Kết quả của cuộc đấu tranh PCTN thời gian qua cho thấy quần chúng nhân dân và toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí quyết tâm, nỗ lực đấu tranh PCTN của Đảng... Nhưng cũng cần phải thấy ngay rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao.

Đại hội XIII của Đảng đã thành công tốt đẹp, để góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tế cuộc sống, thời gian tới, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

 


Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ (CTCB) là vấn đề được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đặc biệt quan tâm khi đề ra nhiệm vụ, giải pháp để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ (ĐNCB) các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Quyền lực trong CTCB nằm ở hai chủ thể: Quyền lực của cơ quan quản lý cán bộ và quyền lực của người cán bộ có thẩm quyền trong CTCB. Công tác cán bộ là của Đảng, trực tiếp và thường xuyên là của cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền. Về nguyên tắc, CTCB là của tập thể lãnh đạo; cá nhân, kể cả người đứng đầu cấp ủy đảng không có quyền quyết định, nhưng với chức trách, thẩm quyền nhất định của thành viên trong tập thể lãnh đạo, sự lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB vẫn có thể xảy ra, nhất là ở người đứng đầu tập thể lãnh đạo.

Các dạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB thường xảy ra, như: Sử dụng thẩm quyền của người đứng đầu để lợi dụng cơ chế tập thể, hợp lý hóa ý đồ cá nhân về CTCB; Lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm cố ý làm trái trong tuyển dụng, tiếp nhận, đánh giá, nhận xét, quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, bầu cử, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ… thiếu công tâm, khách quan, chuẩn xác, không bảo đảm quy trình, thủ tục, thậm chí trái quy định. Tác động, can thiệp, yêu cầu đối tượng tiếp nhận người thân trong gia đình vào làm việc; được nâng lương, đề bạt, bầu, bổ nhiệm trái quy định, không đúng tiêu chuẩn, hoặc được đi tham quan, học tập không đúng chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước. Lợi dụng vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình “gợi ý” đối tượng thuộc quyền lãnh đạo, quản lý để vụ lợi; nhận hoặc gợi ý đối tượng tài trợ tiền, tài sản để chạy chức, chạy quyền; yêu cầu hoặc gợi ý đối tượng cho vay, mượn tiền, tài sản dưới mọi hình thức trái quy định; nhận các giá trị vật chất, tinh thần của đối tượng trái quy định.  Chỉ đạo cấp dưới thực hiện hoặc không thực hiện chức trách nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong CTCB để nâng đỡ, hoặc trù dập đối tượng trái nguyên tắc, quy định của Đảng và Nhà nước…

Những biểu hiện lạm quyền, lộng quyền trên là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng tiêu cực, yếu kém trong CTCB, mà Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ: “…Việc  sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình, nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”.

Để xảy ra tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB có nhiều nguyên nhân, trong đó việc kiểm soát quyền lực trong CTCB còn những thiếu sót, hạn chế, chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu. Thể chế CTCB còn những bất cập, sơ hở cho kiểm soát quyền lực. Một số quy định chưa thật chặt chẽ trong quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ đã bị lợi dụng khá phổ biến, dẫn đến tình trạng “đúng quy trình” nhưng không đúng người xảy ra ở không ít nơi, gây bức xúc dư luận trong những năm qua.

Việc kiểm soát quyền lực của cấp trên đối với cấp dưới còn lỏng lẻo, thiếu thường xuyên, trong khi kiểm soát của cấp dưới, của nhân dân chưa thật sự hiệu lực, hiệu quả. Kiểm soát bên trong tổ chức bị suy yếu, không ít tập thể lãnh đạo, như ban thường vụ cấp ủy mất sức chiến đấu, bị người đứng đầu thao túng trong CTCB. Một số chế tài xử lý khi có lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB còn thiếu cụ thể, mạnh mẽ, nên chưa phát huy tác dụng ngăn chặn, răn đe; thường đến khi gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí rất nghiêm trọng mới có thể xử lý được.

Cơ quan chuyên trách kiểm soát quyền lực nói chung, kiểm soát quyền lực trong CTCB nói riêng chưa đủ mạnh, cũng tạo ra những sơ hở, bất cập cho kiểm soát quyền lực đối với người đứng đầu. Sự lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB thường đi liền với tham nhũng. Đặc biệt, tham nhũng trong CTCB rất nguy hiểm, vì quy mô gây tổn hại về kinh tế cho xã hội không thua kém tham nhũng trong kinh tế, nhưng đặc biệt nguy hại vì nó phá hoại đường lối CTCB, đường lối xây dựng Đảng, xây dựng chế độ mới của Đảng, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ - “cái gốc” của mọi công việc. Chính vì vậy, để chống tham nhũng trong CTCB phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ.

Để thực hiện được điều này, cần có cơ chế kiểm soát đa chiều: Kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức, trách nhiệm; kiểm soát bên trong của tổ chức kết hợp kiểm soát bên ngoài của nhân dân, xã hội; kiểm soát của bên trên đối với bên dưới, kết hợp với kiểm soát của bên dưới đối với bên trên; kiểm soát trong Đảng, đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; trong mọi tổ chức của xã hội. Kiểm soát của tổ chức thúc đẩy sự tự kiểm soát của cá nhân cán bộ; kiểm soát của cơ quan chuyên trách việc kiểm soát quyền lực kết hợp với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của cơ quan báo chí, dư luận xã hội trong và ngoài tổ chức đó…

Trước hết, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về kiểm soát quyền lực trong CTCB.  Kiểm soát quyền lực đã đến lúc phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và chế độ mới, gắn liền với cuộc đấu tranh chống suy thoái, tham nhũng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Đồng thời, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, tự quản lý, kiểm soát chính mình trước những tham vọng quyền lực và cám dỗ lợi ích vật chất. Tổ chức đảng có trách nhiệm thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, khuyến khích tự tu dưỡng, rèn luyện, tự quản lý, kiểm soát chính mình trước những tham vọng, cám dỗ của quyền lực.

Cần quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình CTCB; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong CTCB. Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong CTCB theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm. Điều chỉnh các quy định, quy chế CTCB, trong đó xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong đánh giá, lựa chọn, giới thiệu, bố trí sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo hướng coi trọng đánh giá, lựa chọn của cấp trưởng đối với cấp phó; coi trọng đánh giá của người đứng đầu đối với thủ trưởng các đơn vị trực thuộc. Nghiên cứu, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong tất cả các khâu khác của CTCB, trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền trong CTCB. Phải thiết lập đồng bộ cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong và bên ngoài. Bên trong cần bảo đảm hiệu lực kiểm soát của tập thể lãnh đạo cùng cấp thông qua chế độ chất vấn và bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với người đứng đầu; cấp trên có quyền đình chỉ tư cách của người đứng đầu cấp dưới khi phát hiện sai phạm nghiêm trọng trong CTCB. Cơ quan tổ chức cấp trên có cơ chế giám sát, kiểm tra thường xuyên CTCB thuộc trách nhiệm người đứng đầu. Bên ngoài cần thiết lập cơ chế để nhân dân và báo chí giám sát người đứng đầu thuận tiện, hiệu lực, kịp thời.

Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong CTCB, nhất là trong các khâu tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Dân chủ, công khai, minh bạch là hết sức quan trọng để kiểm soát quyền lực trong CTCB. Cần quy định rõ tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị có tính định lượng cụ thể để tạo ra sự công khai, minh bạch, để có cơ sở giám sát, kiểm tra. Đổi mới mạnh mẽ cách đánh giá, bổ nhiệm, bầu cử, giới thiệu bầu cử theo hướng dân chủ thật sự. Trong bổ nhiệm, bầu cử, giới thiệu bầu cử cần thực hiện chế độ bắt buộc có ít nhất hai ứng cử viên trở lên cho mỗi chức danh. Xây dựng cơ chế chịu trách nhiệm của người giới thiệu bổ nhiệm cán bộ, nếu giới thiệu đúng sẽ có chế độ khen thưởng và ngược lại nếu giới thiệu bổ nhiệm sai thì phải xem xét trách nhiệm. Thực hiện việc giới thiệu bổ nhiệm cán bộ bằng văn bản và quy định việc chịu trách nhiệm về người mà mình giới thiệu.

Cần tăng cường kiểm tra, giám sát CTCB và cán bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi sai trái, lạm quyền trong CTCB.  Tiếp tục đồng bộ hóa các quy định của Đảng, Nhà nước về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm, nhằm kiểm soát chặt chẽ quyền lực và triển khai thực hiện nghiêm túc. Thực hiện chế độ cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ; giám sát từ dưới lên, giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. xử lý nghiêm minh, kịp thời các trường hợp lạm dụng quyền lực để răn đe các ý đồ lạm dụng quyền lực.   

Chú trọng thiết lập cơ quan kiểm soát quyền lực đủ mạnh. Quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực. Nếu không có cơ quan kiểm soát quyền lực thì rất nguy hiểm khi mà người đứng đầu lộng quyền, tha hóa. Cơ quan kiểm tra, thanh tra phải có tính độc lập và đủ thẩm quyền để kiểm soát quyền lực trong CTCB.

Cần kiên quyết phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam với mục đích tạo ra khoảng trống về tư tưởng, đưa ý thức hệ tư sản thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Một trong những vấn đề bị các thế lực thù địch tấn công nhiều nhất là vai trò lãnh đạo, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, cần nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 90 năm qua.

Biểu hiện đó là các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng việc chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng CNXH. Những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam theo các hướng chủ yếu sau:

Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước.

Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập” vì Đảng có “một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do, dân chủ. Chúng cho rằng: Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Chúng lập luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là theo “chế độ đảng trị = đảng chủ”, “thể chế Việt Nam hiện nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Hiến pháp của Việt Nam là không chính danh, chỉ là Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”.

Như một thông lệ, trước thềm các kỳ đại hội của Đảng, các thế lực thù địch lại tấn công mạnh mẽ vào vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những luận điệu xuyên tạc. Điển hình là trước khi Đại hội XIII diễn ra, đã có những luận điệu vu khống cực kỳ phản động: Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản. Từ việc đưa ra luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch còn lên tiếng đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo của Đảng.

Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”.

Trọng tâm của sự công kích, chống phá cương lĩnh, văn kiện của Đảng là sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về con đường đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Dễ dàng nhận thấy thực chất của sự chống phá này là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường XHCN mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tạo ra sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Bên cạnh những luận điệu phủ nhận về đường lối lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch còn ra sức tấn công vào công cuộc xây dựng Đảng hiện nay. Chúng cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu giật gấu vá vai. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã. Chúng còn dự đoán tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng: Trước tình hình cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông.

Ngoài ra, trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là linh hồn của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao, cấp chiến lược của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động phản biện xã hội, nhất là vào dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng XIII.

Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tự công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Trước thềm Đại hội XIII, đến hẹn lại lên, các thế lực thù địch ra sức đồn đoán về tình hình nhân sự của Đại hội Đảng, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ những đồng chí có tên trong danh sách bầu cử Đại hội Đảng các cấp, nhất là nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện sự chống phá này là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các lãnh tụ của Đảng nói riêng và công tác nhân sự của Đảng nói chung.

Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện.

Từ việc nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta càng cần phải tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc để tiếp thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cũng như vận mệnh và tương lai của đất nước.

Suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch là Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân. Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, nhất là kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, tôn trọng hiện thực khách quan, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường XHCN.

Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012), Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016), có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc tự sửa mình và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cũng không vì thế mà đưa ra những lời rêu rao theo kiểu chụp mũ, vô căn cứ là “không ai muốn sống ở Việt Nam”, “những kẻ lắm tiền, nhiều của là thành phần cán bộ có chức có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi”.

Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là sự kế thừa các bản Hiến pháp trước đó như Hiến pháp năm 1980, năm 1992 đồng thời thể hiện ý chí, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn hợp hiến và hợp pháp. Hơn nữa, chính nhân dân Việt Nam đã tin tưởng lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng trong suốt thời gian qua. Hơn nữa, mối quan hệ của Đảng với Nhân dân là mối quan hệ máu thịt bởi Đảng vì Nhân dân là phấn đấu, tôi luyện, trưởng thành, lấy hạnh phúc cho Nhân dân là mục tiêu phấn đấu; ngược lại, Nhân dân cũng luôn vững tin theo Đảng, cùng chung tay giúp sức xây dựng và chỉnh đốn Đảng, sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn. Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân chính là nguồn gốc sức mạnh và nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Do đó, luận điệu phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội của các thế lực thù địch là hoàn toàn trái với nguyện vọng, sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội của chúng ta.

Tóm lại, nhận diện các quan điểm sai trái về Đảng Cộng sản Việt Nam để chúng ta - những người cộng sản luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quan trọng hơn nữa, chúng ta cũng có dịp nhìn lại hành trình hơn 90 năm ra đời và phát triển của Đảng, cảm thấy tự hào về những thành tựu to lớn, nổi bật của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời không được chủ quan, lơ là trước những sai lầm, khuyết điểm để có ý thức xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam để mỗi đảng viên thêm vững tin vào Đảng, luôn trọn một niềm tin theo Đảng, cùng sát cánh bên Đảng để vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần phát huy sức mạnh tổng hợp

 


Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN, Đảng và nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt mức tăng 5,98%; tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản... đứng nhóm hàng đầu thế giới. Năm 2020, nước ta thuộc số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương (đạt 2,91%) bất chấp tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế vĩ mô ổn định, nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước được tổ chức thành công, năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN 2020 với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực…

Những kết quả đạt được đó đã minh chứng, khẳng định sự đúng đắn, kiên định về đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Đó cũng là câu trả lời đanh thép, rõ ràng, cụ thể đáp trả lại những tư tưởng, ý kiến đòi “xét lại” lịch sử, xuyên tạc phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới và cách mạng Việt Nam.

Việt Nam hiện có khoảng 62 triệu người kết nối Internet, đứng thứ 7 thế giới về số người sử dụng Internet, trong đó hơn 60 triệu tài khoản facebook, với đặc điểm đa số đối tượng kết nối, sử dụng tài khoản mạng xã hội là người trẻ, số người cao tuổi, hưu trí đọc tin bài qua mạng xã hội và Internet có xu hướng tăng nhanh. Đây vừa là thuận lợi vừa là thách thức của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không gian thông tin được mở rộng không giới hạn thì không gian chống phá cũng mở rộng và lực lượng chống phá ngày càng đa dạng với phương thức, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, hiện đại...

Dù được tiến hành với “muôn hình vạn trạng”, các chiêu trò – hình thức, nhưng mục đích cuối cùng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhắm tới vẫn là chống phá Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN Việt Nam. Từ hai mục tiêu lớn này, chúng đưa ra những nội dung, triển khai “đánh” vào nền tảng, đường lối của Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước, vào bản chất chế độ, vào khâu yếu của cán bộ, đảng viên, “đánh” vào hạn chế của thực trạng xã hội... Nội dung và thủ đoạn đánh phá cụ thể của chúng rất đa dạng, lợi dụng diễn biến tình hình, những vụ việc phức tạp, nổi cộm, vấn đề dư luận xã hội quan tâm để suy diễn, quy chụp, khuếch đại, chống phá.

Chúng tập trung mũi đột phá tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, phủ định hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử hoặc chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Chúng tấn công vào cơ sở khoa học và lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, cổ xúy các hoạt động núp dưới bóng “xã hội dân sự”, “bảo vệ nhân quyền”… Chúng triệt để khai thác thông tin sơ hở trên báo chí, truyền thông, phát ngôn của một số đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan, bộ, ngành; khai thác khoảng trống thông tin, vụ việc phức tạp, nhạy cảm để tuyên truyền xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật. Tận dụng không gian mạng và sự đa dạng của các loại hình dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, chúng ra sức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước thông qua các ứng dụng, dịch vụ website, blog, Facebook, Twitter, Youtube, Instagram... với thủ đoạn lồng ghép, pha trộn thông tin “thật - giả”, cắt ghép hình ảnh, video về các đồng chí lãnh đạo cấp cao để công kích, xuyên tạc nói xấu; trích dẫn các bài phỏng vấn, ý kiến của các nhân vật nổi tiếng, có tư tưởng bất mãn, cơ hội chính trị để dẫn dụ, thu hút dư luận.

Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Trong thời gian tới, nhất là triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt hiệu quả cao, cần tập trung triển khai tới các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị đưa nhiệm vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng vào trong các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Coi trọng công tác tư tưởng, quán triệt tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng; tăng cường giáo dục lý luận chính trị, nâng cao phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo các cấp, cán bộ quản lý báo chí, truyền thông có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp, bản lĩnh và kỹ năng đối thoại và phát ngôn khi có những vấn đề nổi cộm đòi hỏi sự lên tiếng và giải quyết của các cơ quan liên quan.

Tăng cường xây dựng thế trận an ninh thông tin nhân dân trên không gian mạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị. Nâng cao khả năng tự phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các thủ đoạn, hoạt động tuyên truyền tán phát các thông tin xấu độc, sai sự thật, quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giáo dục góp phần nâng cao nhận thức và báo chí, truyền thông làm nền tảng, trụ cột để xây dựng thành trì thế trận các tầng lớp nhân dân có sức đề kháng vững chắc, bồi đắp nền tảng tinh thần, lý tưởng cao đẹp, lan tỏa sâu rộng nhân lên những tấm gương, điển hình tập thể, cá nhân tiên tiến. Lấy báo chí, truyền thông làm lực lượng nòng cốt để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng và nhân lên sức mạnh đấu tranh từ tiếng nói chính thống; lan tỏa rộng rãi trên không gian mạng và các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và bảo vệ môi trường thông tin xã hội lành mạnh, phát triển bền vững.

Các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, nhất là các cơ quan nghiên cứu lý luận, chú trọng xây dựng hệ thống luận cứ sắc bén phản bác các quan điểm sai trái; bảo vệ và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải chỉ rõ những hành vi, âm mưu chống phá, thủ đoạn xấu độc, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các thông tin sai lệch, tin giả, quan điểm sai trái, thù địch liên quan vấn đề, lĩnh vực quản lý của mỗi cơ quan bộ ngành, địa phương. Từ đó, làm cơ sở chủ động công tác đấu tranh, phản bác có sức thuyết phục sâu sắc.

Các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương vào cuộc chỉ đạo xây dựng trận địa thông tin và hợp đồng binh chủng các lực lượng, đặc biệt là các lực lượng công tác tuyên giáo các cấp. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên nghiệp nắm vững quan điểm, đường lối, được đào tạo bài bản về công nghệ, về các kỹ năng thủ thuật thông tin, truyền thông. Phát huy vai trò của mỗi cấp, mỗi cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng và tổ chức đào tạo, tập huấn. Công tác đào tạo tập huấn bao gồm cao cấp lý luận chính trị và đào tạo đặc biệt, trang bị kiến thức lý luận và thực tiễn một cách trực tiếp và cụ thể, phải đào tạo kỹ năng phương pháp đấu tranh nhạy bén, sáng tạo trong những tình huống cụ thể, vấn đề cụ thể hoặc tiêu biểu, liên hệ và vận dụng trên thực tế.

Xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và cơ chế bảo vệ lực lượng, bảo vệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, bảo vệ những điều tốt đẹp, bảo vệ người tốt, việc tốt và đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xấu độc. Để xây dựng thế trận lòng dân, trước hết cần phát huy vai trò cấp ủy, người đứng đầu vừa chỉ đạo thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị vừa chỉ đạo lấy công tác tuyên truyền, vận động đi tiên phong, làm nòng cốt trong xây dựng và tăng cường niềm tin của nhân dân; làm sống động và lan tỏa những mô hình hay, gương người tử tế, nhất là những tấm gương lãnh đạo các cấp, cán bộ, đảng viên hy sinh, tận tụy với công việc, gần dân, giúp đỡ dân.

Đảng cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả của hệ thống chính trị, chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý theo hiệu quả công việc, chất lượng và số lượng sản phẩm công việc. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất, trình độ trí tuệ và năng lực thực tiễn là nhiệm vụ “then chốt của then chốt” để xây dựng và bảo vệ Đảng trong sạch, vững mạnh và làm trụ cột gây dựng, phát triển thế trận lòng dân. Tiếp tục chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; từng bước chuẩn hóa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phát triển, ủng hộ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm cán bộ vì người mà không vì công việc. 

TỰ HÀO TIẾN BƯỚC DƯỚI CỜ ĐẢNG QUANG VINH

 Hôm nay 26-3-2021 là dấu mốc quan trọng và mang ý nghĩa sâu sắc, đánh dấu 90 năm xây dựng, trưởng thành, cống hiến của tổ chức Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước. Với tình cảm tự hào, phấn chấn, hòa chung không khí sôi nổi của Tháng Thanh niên năm 2021, hàng triệu đoàn viên, thanh niên, cán bộ đoàn, hội trên cả nước đã và đang tích cực thi đua lập thành tích cụ thể, thiết thực trên mọi lĩnh vực, cùng toàn dân vừa phòng, chống đại dịch Covid-19, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng.

Có phải “Nguyên tắc tập trung, dân chủ là lỗi thời”?

Nguyên tắc tập, chung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng; nếu phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận Đảng từ bản chất.

Các thế lực thù địch thường rêu rao, tuyên truyền các luận điệu xung quanh nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, đó là: nguyên tắc tập chung, dân chủ chủ yếu hướng tới “tập chung”, còn “dân chủ” là thứ yếu, hình thức; nguyên tắc này không có thật và không bao giờ thực hiện được; việc đặt ra nguyên tắc đó là sai lầm, làm mất dân chủ và như vậy,  cũng có nghĩa nguyên tắc đó đã “lỗi thời”....

Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm vì nó cố ý đánh đồng giữa vấn đề “đa nguyên”, “đa đảng” với dân chủ và phát triển. Thực chất luận điệu của chúng là muốn đa nguyên, đa đảng,. chia quyền lãnh đạo, tiến tới chiếm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. chúng ta thường thấy chúng kêu gào xóa bỏ điền 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, việc đấu tran với luận điệu trên là không khoan nhượng với thái độ dứt khoát, cương quyết./.

DÂN QUÂN

ĐỒNG CHÍ LÊ THANH NGHỊ

 


Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Thanh Nghị là tấm gương sáng về tinh thần cách mạng kiên trung ái quốc, sống và chiến đấu suốt đời cho lý tưởng cao cả, là niềm tự hào của mảnh đất Gia Lộc anh hùng, của quê hương Hải Dương giầu truyền thống cách mạng, xứng đáng cho chúng ta và thế hệ mai sau noi theo.

ĐỒNG CHÍ LÊ THANH NGHỊ

 


Trong 78 năm cuộc đời, có gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Thanh Nghị luôn thể hiện một tấm gương chiến sĩ cộng sản mẫu mực, kiên trung. Trọn một đời trung với Ðảng, hiếu với dân và những cống hiến to lớn trong suốt chặng đường làm cách mạng, đồng chí được Ðảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, được công nhận là nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Ðảng và cách mạng Việt Nam.

ĐỒNG CHÍ LÊ THANH NGHỊ

 


Sinh ngày 06.3.1911 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở làng Thượng Cốc, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Người lãnh đạo kiên cường của Đảng, nhà nước, giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người học trò trung thành của ChỦ tịch Hồ Chí Minh, người đã có những cống hiến to lớn, xuất sắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của mình để phục vụ Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

THANH NIÊN

 


Ai cũng có một thời tuổi trẻ, nên đều hiểu sức bật mạnh mẽ của tuổi thanh xuân “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Tương lai của quốc gia dân tộc, gia đình đều phụ thuộc phần lớn vào thanh niên. Do vậy, ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ của chúng ta đã luôn quan tâm đến thế hệ trẻ (thanh, thiếu niên), người chủ tương lai của đất nước. Các thế hệ thanh niên đã qua, đã cống hiến làm nên nhiều chiến tích, thành công lớn cho đất nước, nhất là đã xây dựng nền móng, bệ phóng vững chắc cho thế hệ thanh niên tiếp theo. Bây giờ, là cơ hội ngàn vàng, để thanh niên phát huy tài năng, công sức, trí tuệ trong xây dựng đất nước giầu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng cải thiện, hạnh phúc./.

 

Phải chăng “Một đảng lãnh đạo là mất dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài”

Nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam là một thuộc tính cố hữu trong bản năng chống cộng của các thế lực thù địch. Những luận điệu thường thấy của chúng là: “Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là vi phạm nền dân chủ” (!); Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội” tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!); “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” (!), v.v..

Vậy chế độ “độc đảng” (hay một đảng) lãnh đạo, cầm quyền là thế nào? Đây là vấn đề không mới, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan, đó là điều kiện và hoàn cảnh lịch sử mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng các giai cấp, các bộ phận trong xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh một đảng lãnh đạo, cầm quyền thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển. Thực tiễn cho thấy dân chủ, phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng đảng có ở trong nước đó - có nước nhiều đảng mà vẫn mất dân chủ, chậm phát triển... Vấn đề là bản chất, năng lực, uy tín cũng như lợi ích mà đảng lãnh đạo, cầm quyền đại diện, bảo vệ. Nếu độc đảng lãnh đạo, cầm quyền có lợi ích riêng thì cần phải có đa đảng trong hệ thống chính trị, còn chỉ có một đảng là độc tài. Một đảng không có lợi ích riêng mà vì lợi ích chung khi lãnh đạo, cầm quyền thì đa đảng rất dễ gây bè phái, cục bộ, phân tán.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời hợp quy luật lịch sử, phản ánh điều kiện khách quan, chủ quan đã chín muồi trong dòng vận động lịch sử dân tộc. Đảng ra đời là kết quả của sự hợp nhất ba tổ chức cách mạng tiền thân: Đông Dương Cộng sảng Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Từ đó, chấm dứ tình trạng phân tán lực lượng, chia rẽ nội bộ, tạo sự thống nhất tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Thực tế, trước khi hợp nhất, ba tổ chức cách mạng đó hoạt động độc lập, đã có hiện tượng tranh chấp ảnh hưởng trong quần chúng và bài xích lẫn nhau. Mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đạo đưa đất nước phát triển phồn vinh. Vấn đề này đã được khẳng định nhất quán trong Điều lệ của Đảng.

Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tư tưởng dân chủ - giá trị chung của nhân loại, đồng thời nhận thức ngày càng rõ hơn vế dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, việc thực hiện dân chủ trong hệ thống chính trị, cũng như trong xã hội ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Thực tiễn trên thế giới cũng chỉ rất rõ: dân chủ không phụ thuộc và chế độ đa đảng hay một đảng và không phải ở quốc gia nào càng nhiều đảng thì càng có dân chủ tốt hơn. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 nước theo chế độ một đảng và không thể nói ở các nước đó không có dân chủ.

Sau 15 năm thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc, hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía bắc. Sau 35 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi đất nước mang tính cách mạng và đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế, kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa - xã hội có bước phát triển; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tựu quan trọng, sớm đạt được mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, chỉ số hạnh phúc ở Việt Nam thuộc nhóm nước cao nhất thế giới, được quôc tế đánh giá cao; chính trị ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; sức mạnh, uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được tăng lên...

Thắng lợi, thành tựu của đất nước Việt Nam 91 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là bằng chứng hùng hồn, không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Vậy sao vẫn có những người “không nhìn thấy”, “không nhận ra” chân lý hiển nhiên, sáng rõ đó? Chúng cố chứng minh “chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là đối lập với dân chủ, đồng nhất với độc tài, cản trở sự phát triển”, còn “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”; chúng yêu cầu Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo; đòi bỏ Điều 4 trong Hiến pháp... Thực ra, không phải chúng quá mu muội về đấu óc, không nhận ra điều đó, mà có hai khả năng: (1) Một số người vì nhận thức chưa đầy đủ, quá nhẹ dạ; một số người quá bất mãn với chế độ mà thiếu khách quan, sáng suốt nên nhận thức sai, vướng phải, tin vào những luận điệu, chiêu trò của các thế lực thù địch, phân rđộng dẫn đến nhìn nhận lệch lạc, sai bản chất của vấn đề và trượt đi ngày càng xa những lẽ phải, điều đúng đắn chân chính. (2) Một số người biết rất rõ chân lý trên, nhưng cố tình xuyên tạc, bịa đặt để chống phá Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc vì có động cơ chính trị xấu rõ ràng. Đối với tất cả những người đó đều là những kẻ làm tổn hại đến đất nước, cần phải lên án và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng./.

DÂN QUÂN