Giữa
lúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vui mừng, phấn khởi khi Đại hội lần thứ
XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp, lại có những kẻ hậm hực “bới lông tìm
vết”. Không tìm thấy những thiếu sót trong đại hội, họ bèn “soi” vào nhân sự Bộ
Chính trị và “phát hiện” ra rằng nhiệm kỳ này chỉ có một phụ nữ, trong khi
nhiệm kỳ XII có 3. Thế là họ phán trên mạng xã hội rằng: “Đây là bước thụt lùi
về bình đẳng giới”.
Đúng
là những người này “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”. Có lẽ họ không biết
hoặc cố tình không biết trong Bộ Chính trị nhiệm kỳ Đại hội IX, Đại hội X không
có đại biểu nữ. Đến nhiệm kỳ XI, khi Hội nghị lần thứ nhất của Ban chấp hành
(BCH) Trung ương bầu Bộ Chính trị mới có 1 đại biểu nữ, đến gần giữa nhiệm kỳ
mới bổ sung thêm 1 đại biểu nữ nữa. Điều đáng nói hơn là tại Đại hội XIII, trong
số Ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ, tăng 1 đại
biểu so với nhiệm kỳ khóa XII. Trong 63 bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc
Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có tới 9 người là nữ thuộc các tỉnh: Lạng Sơn,
Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An
Giang. Đây là số lượng nữ bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay. Theo
thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ
sở, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%.
Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp
trong tổng số lao động nữ có việc ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm
kỳ trước. Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam
khẳng định: “Một trong những thành công rất nổi bật của công tác lãnh đạo, chỉ
đạo đại hội đảng các cấp thời gian vừa qua là cán bộ nữ tham gia cấp ủy cả 3
cấp đều tăng về số lượng và chất lượng. Đây là điều hết sức đáng vui mừng. Điều
đáng vui mừng hơn nữa là có hơn 4.200 cán bộ nữ được lựa chọn, giới thiệu và
bầu giữ chức vụ cán bộ chủ chốt trong Đảng và chính quyền ở cả 3 cấp này”.
Tại
Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, số lượng đại biểu nữ cũng tăng
trong nhiệm kỳ gần đây. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV đạt 26,72% và đến
nay là 27,1%, tăng 2,3% so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh
đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so
với nhiệm kỳ trước). Việc bố trí lãnh đạo nữ trong Quốc hội kỳ này chiếm gần
40%. Đây là minh chứng cho thấy sự ưu việt trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ,
giải phóng con người của Đảng, Nhà nước ta và cũng cho thấy sự vươn lên của phụ
nữ Việt Nam, đưa vị thế phụ nữ Việt Nam tham gia Quốc hội đứng thứ hai khu vực
châu Á-Thái Bình Dương, đứng thứ 6 ở châu Á.
Ý
kiến cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm đến sự tiến bộ của phụ nữ
là hoàn toàn không có cơ sở. Trong suốt hơn 90 năm từ khi thành lập đến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới, được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ.
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội.
Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không
giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Vì vậy, sự nghiệp
giải phóng phụ nữ không chỉ là công việc riêng của phụ nữ mà gắn liền với sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Chỉ
tính riêng trong 15 năm trở lại đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác
quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ, như Chỉ thị số
37-CT/TW, ngày 16-5-1994, của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về một số vấn đề công
tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của
Bộ Chính trị “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”. Đặc biệt, trong Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị
"về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng" đã nhấn mạnh về cơ cấu cán bộ nữ: “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp
ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ... Cấp ủy các
cấp, nhất là người đứng đầu phải chủ động và có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo
việc rà soát, đánh giá để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ nữ, cán bộ
trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy
khóa mới; đồng thời, có giải pháp hiệu quả chuẩn bị nguồn cán bộ cả trước mắt
và lâu dài”.
Từ
các chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm
tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Sự
nghiệp giải phóng phụ nữ để “nam nữ bình quyền” được khẳng định nhất quán từ
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 đến Hiến pháp
năm 2013, quy định rõ: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có
chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”, “Nhà nước, xã hội và gia
đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình
trong xã hội”, “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”.
Việt
Nam cũng đã ký kết tham gia Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt
đối xử chống lại phụ nữ (Công ước CEDAW) và đã được từng bước luật hóa trong
văn bản pháp luật và các chính sách có liên quan đến bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của phụ nữ, như: Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;
Luật Hôn nhân và gia đình; Bộ luật Hình sự; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật,...
Ông
Jesper Morch, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam đã đánh giá: “Việt Nam là
nước dẫn đầu khu vực châu Á-Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua
việc cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ
và nam giới. Sự chênh lệnh về tỷ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam là
rất thấp. Tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm”.
Mục
tiêu bình đẳng giới đã được ghi rõ trong Luật Bình đẳng giới của Việt Nam là
“xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát
triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực
chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”.
Thực
tế hiện nay, nhiều người vẫn có cái nhìn sai lệch về bình đẳng giới. Đã có
những ý kiến cho rằng, “bình đẳng giới thì phụ nữ phải làm những công việc
“dành cho đàn ông” và ngược lại”. Họ không nhớ rằng, thiên chức của người phụ
nữ và nam giới khác nhau. Trên thực tế, một số công việc chỉ phù hợp với phụ
nữ, không phù hợp với đàn ông ví dụ như giáo viên mầm non. Một số công việc lại
chỉ cơ bản phù hợp với nam giới, không phù hợp với phụ nữ ví dụ như lái tàu
ngầm... Một phụ nữ muốn ở nhà làm nội trợ, làm mẹ, làm vợ, chăm sóc con cái,
chẳng có gì là mâu thuẫn với các phong trào nữ quyền nếu như bạn ấy hoàn toàn
muốn như vậy và không bị ép buộc.
Phụ
nữ và cả nam giới sẽ không cảm thấy bất bình đẳng khi mà họ được sống vui vẻ,
làm được những gì họ mong muốn trong cuộc đời mình. Có người suy nghĩ rằng,
“bình đẳng giới là đấu tranh cho phụ nữ, chống lại đàn ông”. Điều này là không
đúng. Về mặt pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết các
nước trên thế giới thì bình đẳng giới là đấu tranh cho mọi giới tính, cho tất
cả mọi người. Mục tiêu của bình đẳng giới là giới tính không phải giới hạn.
Trong xã hội hiện nay, đã có nhiều đàn ông đang phải chịu không ít bất công,
hạn chế, khuôn mẫu xuất phát từ giới tính của mình. Ví dụ như những khuôn mẫu
về sự nam tính, đàn ông phải mạnh mẽ, kiềm chế cảm xúc, phải là trụ cột gia
đình... Những niềm tin đó đang khiến nhiều người phải chịu gánh nặng, không
được sống đúng với con người thật của mình. Đã từng có các đức ông chồng bị các
bà vợ đánh đập, xỉ nhục. Cũng có trường hợp nam giới bị lạm dụng, xâm hại tình
dục... Bình đẳng thực chất chỉ đạt được khi đấu tranh cho những quyền lợi chính
đáng của tất cả các giới tính.
Vào
đúng dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ năm nay, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
về Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030. Mục tiêu cụ thể
của chiến lược, trong lĩnh vực chính trị, đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030
đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh
đạo chủ chốt là nữ; trong lĩnh vực kinh tế, lao động, tăng tỷ lệ lao động nữ
làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 và khoảng 60% vào năm 2030; giảm
tỷ trọng lao động làm xuống dưới 30% vào năm 2025 và dưới 25% vào năm 2030; tỷ
lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30%
vào năm 2030.
Rất mong những người
còn có cái nhìn hẹp hòi, sai lệch, thiển cận về bình đẳng giới ở Việt Nam hãy
nghiên cứu kỹ chiến lược nói trên để nhìn nhận lại vấn đề này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét