Thứ Hai, 5 tháng 4, 2021

ĐỒNG CHÍ PHẠM MINH CHÍNH TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội khóa XIV, được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021.

ĐỒNG CHÍ NGUYỄN XUÂN PHÚC TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC CHỦ TỊCH NƯỚC

 Sáng nay, 5-4, thực hiện chương trình Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIV, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo kết quả thảo luận tại Đoàn và giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội về dự kiến nhân sự để bầu Chủ tịch nước.

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2021

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG BÀI VIẾT BÔI NHỌ LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Lợi dụng việc Đại tướng Lê Đức Anh, Nguyên Chủ tịch nước từ trần, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tán phát nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới; bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Lê Đức Anh. Điển hình: Trên trang blog Tiếng dân, đối tượng Trần Văn với bài “Đại tướng không có chỗ trong lòng dân”; đối tượng Nguyễn Hữu Vinh với bài “Chính thức: Thêm một chú vào địa ngục”; trên blog VOA tán phát bài “Lê Đức Anh làm tướng giỏi, làm chính trị tồi?”; trên facebook Việt Tân tán phát bài “Lê Đức Anh, 64 chiến sĩ Gạc Ma đang chờ đón ông”… Đây là những bài viết hoàn toàn sai sự thật, phản ánh sự hằn học đến tột cùng của những kẻ chống đối chế độ.

Những công lao của Đại tướng Lê Đức Anh luôn được Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ghi nhận. Trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng, với Đảng, với quân đội, Đại tướng Lê Đức Anh đã kinh qua nhiều cương vị công tác: Tư lệnh Quân khu 9; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 kiêm Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở Mặt trận Tây Nam; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sau này là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng dù ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào đồng chí cũng luôn thể hiện là người giàu lòng dũng cảm, trí thông minh, quyết đoán, nhất là trong những giai đoạn khó khăn của đất nước; suốt cuộc đời, đồng chí luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và quân đội lên trên hết; toàn tâm cống hiến cho Đảng, cho dân tộc; luôn giữ trọn danh hiệu và khí tiết của người Cộng sản. Đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Campuchia, vào công cuộc đổi mới đất nước cũng như tham gia khởi xướng, đề xuất nhiều quyết sách quan trọng để chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và sự bao vây, cấm vận của nước ngoài những năm 80, 90 của thế kỷ trước. Đánh giá về công lao và cống hiến to lớn của đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư đã nhận định: “Đồng chí Lê Đức Anh là một trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước ta. Vốn là cán bộ chỉ huy quân đội, đã trải qua thực tế chiến đấu gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn ở Campuchia, nên ở anh, quan điểm giai cấp rất vững vàng và rõ ràng. Sinh hoạt và lối sống giản dị, mẫu mực”. Những đóng góp to lớn của Đại tướng sẽ luôn được lịch sử ghi nhận, không một cá nhân, một thế lực thù địch nào cả ở trong nước lẫn ngoài nước có thể xuyên tạc, phủ nhận! Xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ danh dự cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là hành động sai trái, không thể dung thứ.

Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Điều 8 Luật An ninh mạng nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi: “Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc”. Như vậy, các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, bôi nhọ danh dự cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch là hành động trái với pháp luật và cần phải được cơ quan chức năng xử lý thích đáng. Những hành động bịa đặt, vu cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch như đối với đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; đặc biệt, những thông tin sai trái này được tung ra có chủ đích khi đồng chí đại tướng Lê Đức Anh vừa qua đời nên đã thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội bởi sự lan tỏa của mạng internet và mạng xã hội.

Thương tiếc đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nhà lãnh đạo tài ba, người có tầm nhìn chiến lược, đóng góp nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mỗi cán bộ Đảng viên cần phải có chính kiến, kiên quyết phản bác lại những thông tin sai trái về cuộc đời Đại tướng, đồng thời đề nghị cơ quan chức năng cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ tung tin bịa đặt về Đại tướng để tiếng thơm của Đại tướng còn mãi với non sông Việt Nam chúng ta.

 

Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Vậy thì vấn đề cơ bản của chính quyền là gì? là chính quyền đó thuộc về ai? phục vụ cho ai?

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Chính quyền đó là của dân, phục vụ lợi ích của dân. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người nói: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[1].


Sau khi chúng ta giành được độc lập tháng 8/1945, Người đã xác định: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại: Quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân”[2].

ĐỪNG BIẾN VIỆC TƯỞNG NHỚ CÔNG CUỘC PHỤC SINH CỦA THIÊN CHÚA THÀNH DỊP ĐẤU TỐ CHÍNH QUYỀN!

 Đó là một vấn đề được nói đến sau khi nhiều người theo dõi Bài giảng lễ của cha Anton Đặng Hữu Nam (hiện đang tạm nghỉ mục vụ tại Tòa Giám mục Giáo phận Vinh) tại thánh lễ Chúa Phục sinh Giáo xứ Lộc Mỹ, xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, Nghệ An (https://fb.watch/4FdOXPCkdN/) sáng ngày 4/4/20201.

Cha Anton đã dành thời gian khá dài để đề cập tới những vấn đề chính trị trong mối tương quan với nhà nước, chế độ và lên tiếng tấn công, lên án nhà nước, giới chức địa phương. Ngài dành những lời lẽ nặng nề như việc Đảng, nhà nước đang dẫn dắt dân tộc, người dân như thằng đui dẫn thằng mù đi...

Và với một lối nói như thế thì đủ biết cha Anton đã có thái độ, cách hành xử như thế nào tới chế độ. Và xin thưa trong khi chính quyền chưa có những phản ứng lại thì điều dễ thấy những điều như thế đang làm dơ bẩn, làm mất đi tính linh thiêng của thánh lễ, của Cung thánh. Thánh đường là nơi rao giảng, nói Lời Chúa nhưng cha Anton lại biến đó thành diễn đàn chống nhà nước, đó là một điều mà với bất cứ ai cũng khó mà chấp nhận cho được.

Thánh lễ phục sinh sẽ trở nên thánh thiện hơn khi Lời Chúa được hiện sinh và ngược lại. Đó là lí do lí giải vì sao chúng ta nên lên án những hành vi thiếu chuẩn mực, không đúng đắn nơi thánh đường như thế.

NHỮNG VIÊN GẠCH XÂY ĐẢO TRƯỜNG SA

 

Có thể các đồng chí & các bạn chưa biết những viên gạch để xây dựng các công trình trên Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa đều được in hình Quốc huy khẳng định chủ quyền Việt Nam

Viên gạch được thiết kế rất đặc biệt và được nung theo đơn đặt hàng riêng: gạch chỉ có hai lỗ, rất dày và nặng khoảng 1kg. Điểm nhấn ấn tượng nhất là được in nổi hình quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đây là một trong những viên gạch đầu tiên được vận chuyển ra xây dựng chùa ở đảo Song Tử Tây, ngôi chùa đầu tiên của Quần đảo Trường Sa.

Những viên gạch được nâng niu, cẩn trọng từng động tác khi chuyển xuống đảo

CÓ PHẢI VIỆT NAM CHỈ BIẾT QUAN NGẠI?

 

“Trung Quốc điều 200 tàu cá "dân quân" ở Song Tử Đông, Philippines đưa máy bay và tàu chấp pháp ra ngăn cản, Việt Nam thì chỉ biết quan ngại, lo lắng"

"Việt Nam hèn kém, không dám lên tiếng, chỉ dám bày tỏ quan ngại. Máy bay đâu, tàu ngầm đầu, sao không bắn đi mà mặc cho Trung Quốc ngang nhiên thế".

Vậy, có thực là Việt Nam chỉ biết quan ngại hay không?

Cùng thời điểm mà Trung Quốc điều 200 tàu đóng "tránh" thời tiết xấu ở gần Song Tử Đông, thì Việt Nam chính thức công bố cảng dầu khí lớn bậc nhất Đông Nam Á tại giàn khoan Sao Vàng - Đại Nguyệt, gần bãi Tư Chính. Ngoài việc phục vụ việc phát triển kinh tế, Sao Vàng - Đại Nguyệt còn đóng vai trò là một "ngọn đuốc giữa biển" khẳng định chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại Biển Đông.

Trước đó, giàn khoan Sao Vàng - Đại Việt đã hòa những dòng khí đốt đầu tiên vào đường ống tiếp bờ Nam Côn Sơn 2, đánh dấu việc Việt Nam chính thức thực hiện quyền khai thác kinh tế tại vùng này, mặc cho Trung Quốc nhiều lần đăng đàn phản đối. “Sao Vàng” là ngôi sao trên lá cờ đỏ sao vàng. Còn “Đại Nguyệt” chính là “vầng trăng lớn” đối đầu với “mặt trời lớn” - Trung Quốc, được lấy cảm hứng từ câu đối “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô” của Mạc Đĩnh Chi. Nghĩa gốc của câu đối là: “Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rụng” mặt trời. Hàm ý của câu đối là một nước nhỏ cũng có thể chiến thắng một nước lớn.

Cần biết rằng, vào những năm 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc từng đề xuất Việt Nam cùng khai thác dầu mỏ tại bãi Tư Chính. Trung Quốc sẽ bỏ vốn đầu tư, nhân lực, thiết bị, còn Việt Nam chỉ việc công nhận chủ quyền Trung Quốc tại bãi Tư Chính và "ngồi đợi tiền về". Nhưng Việt Nam chưa bao giờ đồng ý và luôn giữ một thái độ rất kiên quyết, nhiều lần điều tàu thực thi chủ quyền khiến tàu thăm dò Trung Quốc phải rút về.

Trung Quốc từng mong muốn chiếm đóng phi pháp bãi Tư Chính. Nhưng Trung Quốc chưa bao giờ làm được điều này cả, mà chính Việt Nam đã khẳng định được chủ quyền lãnh thổ, thực thi quyền lợi kinh tế tại đây. Từ tiền đề đã có từ Tư Chính, trong thời gian sắp tới, Việt Nam sẽ tiếp tục khởi động dự án tại mỏ Cá Voi Xanh - rất gần quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

Cũng trong những ngày này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định chi hơn 4800 tỷ đồng, tương đương khoảng 210 triệu USD kéo điện lưỡi quốc gia ra Côn Đảo. Mục đích của việc kéo điện này nhằm đảm bảo nguồn cung điện ổn định cho sự phát triển kinh tế của Côn Đảo, đảm bảo an ninh quốc phòng. Đây là một trong những dự án kéo điện ra hải đảo tốn kém nhất Đông Nam Á và bị nhiều người Việt cho là lãng phí.

Nhiều người thường bảo “tư nhân hóa ngành điện”, nhưng nếu tư nhân hóa ngành điện, thì liệu có doanh nghiệp nào bỏ vốn hàng ngàn tỷ đồng đầu tư cho một khu vực hải đảo chỉ với khoảng 10 ngàn dân hay không? Mà nếu chấp nhận bỏ vốn đầu tư, rồi bán điện với giá 400 ngàn/1 số điện, liệu nhân dân có dám dùng không?

Phú Quốc, Kiên Hải, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Bạch Long Vĩ… là những tiền đồn của Tổ Quốc, có giá trị quan trọng về chủ quyền lãnh thổ của Tổ Quốc. Tiền đồn có mạnh, thì đất liền mới vững.

Tờ Economictimes từng nhận định rằng, tham vọng của Việt Nam là muốn biến Côn Đảo thành một “cơ sở hậu cần” của quân đội Việt Nam, nơi mà các máy bay SU có thể cất và hạ cánh, và quan trọng hơn, các tàu ngầm Việt Nam có thể xuất hiện và đóng quân. Hiện nay, Malaysia và Indonesia nhiều lần bắt bớ ngư dân Việt Nam vô lý, việc xây dựng Côn Đảo thành một “cơ sở hậu cần” khiến cho ngư dân Việt Nam thêm an tâm khi hoạt động kinh tế tại thềm lục địa phía Nam, các lực lượng Việt Nam có nơi cập bờ để tiếp liệu thay vì phải vào tận các cảng đất liền.

Cũng chính tờ này, khẳng định rằng Việt Nam đã và đang tôn tạo, xây dựng các đảo tại Trường Sa như Đá Tây hay Sinh Tồn để có thể phòng thủ và tấn công trước Trung Quốc. Ngoài ra, các đảo Phan Vinh và Nam Yết đều ghi nhận sự gia tăng về diện tích, xuất hiện thêm nhiều nhà chứa tên lửa, trạm thông tin liên lạc, tòa nhà hành chính...

Trung Quốc từng đề nghị Philippines “cùng khai thác” tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Tổng thống Duterte đồng ý và bày tỏ sự vui mừng, mặc cho người dân và đồng minh phản đối gay gắt. Trung Quốc cũng gửi lời đề nghị tương tự nhưng Việt Nam đáp lại bằng lời từ chối thẳng thừng và còn điều tàu ra chấp pháp, khiến tàu Trung Quốc phải rút lui.

Trung Quốc điều tàu thăm dò vào bãi Tư Chính, Việt Nam đáp lại bằng cách xây dựng dàn khoan 14 ngàn tấn - lớn nhất từ trước đến nay, tiến hành khai thác dầu khí và xây dựng cảng cho tàu siêu trọng cập bến.

Trung Quốc luôn khẳng định bãi Tư Chính là của họ, nhiều lần điều tàu ra xâm lấn và thăm dò, nhưng Việt Nam mới là quốc gia duy nhất cho đến nay hiện diện, thực thi quyền chủ quyền và quyền kinh tế tại đây. Nếu Việt Nam sợ hãi hay quan ngại bằng mồm, thì đã chấp nhận đề nghị "cùng chia sẻ bãi Tư Chính" vào năm 1994 rồi.

Trên mặt ngoại giao, chúng ta “quan ngại” và nói chuyện đúng sai dựa trên luật pháp quốc tế. Quan ngại không có nghĩa là sợ hãi và thoái lui. Mà đằng sau đó, là những nỗ lực khẳng định chủ quyền không ngừng nghỉ và bền bỉ.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC Ý NGHĨA LỊCH SỬ 30/4

 

Trên một số Website, blog như dân làm báo xuất hiện một số bài viết của các phần tử phản động, cố tình xuyên tạc rằng: Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta là cuộc nội chiến giữa một bên là chính quyền Sài Gòn, được Mỹ và một số nước phương Tây hậu thuẫn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ. Quân dân miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào ở miền Nam. 

Cần khẳng định rằng, đây là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử hết sức lố bịch của những kẻ vô ơn, bội nghĩa với dã tâm xấu xa. Chiến thắng 30/4/1975 đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến cứu nước lâu dài, khó khăn và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của Nhân dân ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Cuộc đấu tranh anh dũng của quân và dân hai miền Nam, Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, là cuộc đấu tranh chính nghĩa để thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại tự do, độc lập cho toàn thể Nhân dân ta đã được sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Mỹ. Đây hoàn toàn không phải là “dụ dỗ dân miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào miền Nam” như sự xuyên tạc, bịa đặt của những kẻ đội lốt “dân chủ, nhân quyền”.

Là công dân Việt Nam - một dân tộc Anh hùng, bất khuất, yêu hòa bình, chắc chắn không ai có thể chấp nhận những luận điệu bôi đen lịch sử về Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975, mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Những luận điệu đó hoàn toàn đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nguyện vọng của Nhân dân. Vì vậy, mỗi chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

HẢI QUÂN VIỆT NAM SẴN SÀNG BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG MỌI TÌNH HUỐNG

 

Giữa muôn trùng sóng gió, vượt lên tất cả mọi khó khăn gian khổ, lực lượng hải quân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biển, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc.

Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; bảo vệ đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Đây là nội dung quan trọng của chuyên đề "Những nhận thức mới và tư duy mới về quốc phòng Việt Nam" được phổ biến trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mới đây.

Trong đó, nội dung lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt; bảo vệ đất nước, giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra đã được Quân chủng Hải quân biến thành những hành động cụ thể để sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Tại quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, tàu hộ vệ tên lửa mang tên vua Quang Trung là loại tàu chiến có chức năng tàng hình, săn tàu ngầm, chống hạm, chống ngầm, chống các loại tàu chiến mặt nước, được trang bị các loại vũ khí tiên tiến.

Các tình huống chiến đấu được tổ chức diễn tập. Ngay khi tàu đang chạy với tốc độ cao nhất, trực thăng phối hợp các tình huống cất cánh, hạ cánh khẩn cấp. Từng cán bộ chiến sĩ hải quân đều nỗ lực tuyệt đối với nhiệm vụ của mình.

Trên các đảo của quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, công tác sẵn sàng chiến đấu cũng được thực hiện ở cấp độ cao nhất. Trong hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt, ở từng vị trí, mỗi cán bộ chiến sĩ đều ra sức rèn luyện.

Lực lượng tinh nhuệ, trang bị hiện đại, bản lĩnh chiến đấu vững vàng là những yêu cầu mà quân chủng Hải quân đặt ra để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc. Để thực hiện nhiệm vụ này, người lính hải quân đang phải hi sinh rất nhiều những nhu cầu của cá nhân. Giữa muôn trùng sóng gió, vượt lên tất cả mọi khó khăn gian khổ, lực lượng hải quân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biển, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc./.


VACCINE PHÒNG COVID-19 VÀ CÂU CHUYỆN "Ý ĐẢNG LÒNG DÂN"

 

Đại dịch COVID-19 đã và đang có những tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội. Song ở góc nhìn khác, những kết quả trong “cuộc chiến” phòng, chống dịch bệnh và nhất là những nỗ lực của Đảng trong việc nhập khẩu và triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19 đã thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Đảng đối với Nhân dân...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi. Vì vậy, cán bộ Ðảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”. Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã luôn quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống của Nhân dân. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ luôn luôn hướng tới sự ổn định và phát triển xã hội, đem lại hạnh phúc cho thực sự cho Nhân dân.

Đặc biệt, trước sự nguy hiểm của dịch bệnh COVID-19, Đảng đã huy động sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh có hiệu quả. Các đợt dịch từng bước được khống chế, kiểm soát, qua đó đã giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19 đối với đời sống và sức khỏe của người dân. Không chỉ nỗ lực phòng, chống dịch bệnh, với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng COVID-19 đại trà tại một số địa phương vào đầu tháng 3/2021 vừa qua, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về những biện pháp phòng, chống dịch mang tính lâu dài, hiệu quả. Đồng thời, Việt Nam cũng có một chiến lược hết sức phù hợp, khoa học, không vội vàng, ồ ạt trong việc mua và tiêm vaccine, cũng không phụ thuộc vào một loại vaccine nào mà tiếp tục đàm phán với nhiều nhà sản xuất. Song song việc nhập khẩu vaccine, chúng ta cũng đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển vaccine COVID-19 nội địa... Chiến lược đúng đắn này của Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của Đảng ta, một Đảng luôn biết lo cho dân, luôn vì dân.

Trước đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta đã xác định, "Tập trung kiểm soát đại dịch COVID-19, tiêm chủng đại trà vaccine COVID-19 cho cộng đồng...", là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung triển khai thực hiện ngay sau Đại hội. Đây là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm của Đảng ta trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nguồn lực hạn chế. Với quyết định đó, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine COVID-19 đại trà cho toàn dân.

Thực tế là vậy, nhưng đáng buồn là liên quan đến chuyện vaccine, một số đài, trang mạng từ nước ngoài lại đưa ra luận điệu sai trái, xuyên tạc như: “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine COVID-19”; “Lộ trình tiêm vaccine ưu tiên chưa thấy nhắc đến người nghèo, các nhóm yếu thế. Những người đó chưa biết đến bao giờ mới có cơ hội tiếp cận vaccine”... Thậm chí, cái gọi là Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc xuyên tạc sự thật, xếp Việt Nam vào số các chính phủ lợi dụng COVID-19 vi phạm nhân quyền, Việt Nam tạo ra những “bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của Chính phủ”...

Cần phải nhắc lại, ngày 09/02/2021, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1210/QÐ-BYT về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vaccine phòng COVID-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vaccine phòng COVID-19 toàn cầu) hỗ trợ. Theo đó, Bộ Y tế xác định 11 nhóm đối tượng cần tiêm vaccine phòng COVID-19 sau khi vaccine hỗ trợ chuyển đến Việt Nam (khoảng 4,8 triệu liều), trong đó có ba nhóm là: "Người trên 65 tuổi; những người mắc các bệnh mãn tính; người tại vùng dịch theo chỉ định dịch tễ". Tiếp đó, ngày 26/02/2021, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Nghị quyết 21/NQ-CP (Nghị quyết 21) về mua và sử dụng vaccine phòng COVID-19 giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan, địa phương liên quan thực hiện việc mua, nhập khẩu, tiếp nhận viện trợ, tài trợ, quản lý và sử dụng vaccine phòng COVID-19 trong năm 2021 cho người từ 18 tuổi trở lên với số lượng khoảng 150 triệu liều. Nghị quyết 21 quy định rất cụ thể về 9 nhóm được xác định là các đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí, trong đó có ba nhóm: "Người mắc các bệnh mãn tính, người trên 65 tuổi", "Người sinh sống tại các vùng có dịch", "Người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội"....

Mới đây, khi báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Nguyễn Thanh Long, Bộ trưởng Bộ Y tế đã cho biết, trong năm 2021, Việt Nam sẽ có khoảng 90 triệu liều vaccine, bảo đảm đủ tiêm cho hầu hết người dân. Nguồn vaccine từ chương trình COVAX (cơ chế vaccine quốc tế toàn cầu do WHO đứng đầu và các đối tác) có thể cung cấp cho Việt Nam 30 triệu liều, nguồn nhập khẩu của hãng AstraZeneca với số lượng 30 triệu liều, của hãng Pfizer 30 triệu liều, vaccine của Nga 60 triệu liều. Đối với vaccine do Việt Nam sản xuất theo tiến độ đến năm 2022 thì Việt Nam sẽ có vaccine.

Như vậy, Việt Nam có đủ cơ sở đáp ứng mục tiêu tiêm vaccine phòng COVID-19 cho toàn dân trong năm 2021-2022. Đến nay, vaccine phòng COVID-19 đã và đang được triển khai tiêm tại 12 tỉnh, thành phố: Hải Dương, Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Gia Lai, Long An, Đà Nẵng, Hòa Bình, Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Theo Bộ Y tế, tính đến hết ngày 01/4, cả nước đã có trên 51.200 lượt người được tiêm vaccine phòng COVID-19. Hoàn toàn không có việc Việt Nam chậm trễ, bị động, Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine phòng COVID-19... như các thế lực phản động đang cố tính xuyên tạc, chống phá.

Có thể thấy, chủ trương nhập khẩu và triển khai từng bước tiêm vaccine phòng COVID-19 đại trà đã thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Đảng đối với Nhân dân... Chủ trương này đồng thời cũng thể hiện sự thống nhất “ý Đảng lòng dân” trước những khó khăn, thử thách do đại dịch COVID-19 gây ra.

Chủ trương của Đảng, Nhà nước là sẽ tiêm vaccine phòng COVID-19 đại trà cho toàn dân với ngân sách, nguồn lực và lộ trình cụ thể. Song, phòng, chống COVID-19 là “cuộc chiến” lâu dài, khó khăn; nhiều cam go phức tạp... Để ngăn chặn và đẩy lùi dịch, bệnh đòi hỏi chúng ta cần phát huy sức mạnh toàn dân, xã hội hóa thêm các nguồn lực cùng chung tay phòng, chống dịch COVID-19, xây dựng “thế trận lòng dân đẩy lùi dịch bệnh”./.

 

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

Dân chủ ở Việt Nam



1. Dân chủ trong mục đích cách mạng và bản chất nhà nước


Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng “long trời, lở đất” tháng 8/1945 giành chính quyền về tay nhân dân, mặc dù gặp khó khăn chồng chất khó khăn, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng lúc phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, Chính phủ lâm thời đã chú trọng chuẩn bị tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên.

 HIỂU CHO ĐÚNG

''TỰ DO – DÂN CHỦ"
Lướt trên mạng thấy bài viết
hãy, xin chia sẻ với mọi người để hiểu như sau:
Tự do tức là quyền được làm những gì mình muốn. Dân chủ nhất là quyền tự làm chủ cá nhân của chủ thể và không ai có thể ép buộc sự mọi quyết định của chủ thể đối với tất cả các diễn biến xung quanh chủ thể.
Như vậy
Trên cơ sở đó thì người Việt Nam cũng đạt được sự tự do như bất cứ con người ở đâu đó trên thế giới. Tuy vậy để đạt được sự tự do “thượng đẳng” thì thế giới chỉ có thể quay về thời kỳ đồ đá. Tức là thời kỳ không phân chia bất cứ địa giới hoặc lãnh thổ nào đó.
Vậy nếu muốn đạt được “tự do” phải như sau:
- Muốn đi bất cứ nơi đâu trên thế giới cũng không cần xin phép ai.
- Muốn lấy bất cứ vật phẩm của ai đó thì lấy và không cần xin phép.
- Muốn giết ai thì giết cũng không cần hỏi.
- Muốn ………………………
- Muốn ………………………….
Vậy nếu muốn đạt được “Dân chủ” phải như sau:
- Tôi có quyền đi ra đường không cần mặc quần áo.
- Tôi có quyền thích cô gái nào là “hốt” thôi
- Tôi có quyền đi xe bên đường ngược chiều miễn tôi thích
- Tôi có quyền vào lớp học và chửi thầy cô
- Tôi có quyền chửi cha mắng mẹ những người sinh ra tôi
- Tôi có quyền …………………………………………
- Tôi có quyền …………………………………………
(ai đó có thể kể thêm dùm tôi được không?)
Bạn nghĩ ra sao khi một xã hội đạt được điều kiện tự do và dân chủ như thế. Bạn có nghĩ tại sao lịch sử tính cả trước công nguyên thì thế giới ít nhất cũng có 4000 năm văn minh mà chiến tranh thực sự mới chấm dứt chưa tròn 100 năm không? Đó là vì sự tự do thượng đẳng muốn làm gì thì làm. Đó là sự tự do của kẻ mạnh tự do áp đặt những kẻ yếu phải nghe theo mình.
Chính vì thế, khi chiến tranh kết thúc chính là lúc mọi hệ thống tạm thời được sắp xếp lại. Không thể có chuyện “tự do” làm điều gì đó mà mình thích, cũng không thể có cái quyền muốn làm gì thì làm. Xã hội được đặt vào những khuôn mẫu để hình thành nề nếp và giảm bớt sự ham muốn và lợi ích của con người. Điều đó đặt ra việc hình thành những bộ máy quản lý hệ thống khuôn mẫu đó. Chính vì thế mà các nước đều có cái gọi là “Chính phủ” và “Pháp luật”.
Nhưng, chỉ có Chính phủ và Pháp luật không thì chưa đủ. Trải qua thời gian sẽ nhận thấy rằng mọi hình thức ham muốn của con người sẽ tăng dần theo quyền lợi. Vì vậy mới có thêm bộ khung mới là Hiến Pháp và Quốc Hội hay Thượng viện hoặc Hạ viện để hạn chế các quyền lực của cá nhân đó. Chính vì vậy mà bất cứ con người ở bất cứ quốc gia nào đều phải tuân thủ các nguyên tắc đó khi ở trên quốc gia của mình.
Việt Nam và rất nhiều các quốc gia khác đều phải thiết đặt các khung điều luật nhằm duy trì sự tồn tại của cả một dân tộc cả một quốc gia. Vì thế, đối với Việt Nam là một Đất nước ảnh hưởng nhiều từ nho giáo. Tất cả các phong tục tập quán đều ảnh hưởng sâu vào sự hình thành ý thức hệ trong mỗi con người Việt Nam. Trải qua bao nhiêu năm tháng chiến tranh thì ý độc lập đã thấm sâu vào mỗi con người Việt Nam. Đất nước Việt Nam phải được tự do, phải do chính người Việt Nam làm chủ.
Vậy thì, với việc ý thức “tự do” “dân chủ” như trên nếu không trong khuôn khổ nào đó. Nếu không thượng tôn pháp luật mà ai muốn làm gì thì làm rồi Đất nước ta sẽ ra sao? Các nhà “tự do”, các nhà “dân chủ” thường hay đưa ra luận điểm là dân phải được tự do làm gì dân muốn, dân phải làm chỉ thực sự. Vậy thì tôi xin nêu ra một số điều cơ bản về “tự do” “dân chủ” của Việt Nam thật sự khác biệt so với phần còn lại của thế giới.
1. Thứ nhất phải nói đến sự an toàn của Việt Nam: ở Việt Nam bạn sẽ không phải lo lắng vì bỗng đâu có tiếng súng ở sau lưng. Và đặc biệt ở Việt Nam thì bạn đã thấm nhuần câu “chín người mười ý” cho nên bạn phải thấy vui mừng khi Đất nước ta may mắn là một thể thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Quân đội và Công an cũng không tách rời hệ thống chính trị đó. Liên quan đến vụ cướp chính quyền của Quân đội Myanmar thì bạn nghĩ sao. Một quốc gia với hơn 90 đảng phái lẽ ra theo lý thuyết của các nhà “tự do, rân chủ” đang kêu gào thì đúng ra phải phát triển và đi lên chứ phải không nào? Bạn nghĩ sao nếu Việt Nam cũng như vậy? Xin thưa rằng ở Việt Nam nếu đa đảng thì với độ “láu cá” của người Việt Nam sẽ đưa Đất nước đi về đâu? Trong một tập thể thôi bạn cũng phải có người “trưởng” và người “phó” ví dụ như “Tổng thống” và “phó tổng thống” phải không nào. Bạn nghĩ sao nếu hai người ngang nhau? Nếu bạn là một nhân viên của một nơi có hai người ngang nhau sẽ ra sao? Nói rộng ra ở Việt Nam nếu đa đảng chắc sẽ giống Đài Loan bây giờ, quốc hội Đài Loan bây giờ 2 đảng đấm đá nhau mỗi ngày, chứ chưa nói đến Myanmar có hơn 90 đảng phái. Do đó, tự do không đồng nghĩa với việc ai muốn làm gì thì làm. Vẫn buộc phải tuân thủ một chuẩn mực xã hội nhất định. Khi bạn vượt
2. Thứ hai: Một điều đặc biệt mà tôi phải nhắc đến là người dân Việt Nam vẫn được làm ăn buôn bán tự do với hình thức buôn bán nhỏ mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Thời gian qua cũng nhấn mạnh về việc lấn chiếm lòng lề đường nhưng khi xét lại rất nhiều người trưởng thành từ những gánh hàng rong mà thành tài cho nên đã tạm thời chựng lại và ổn định từ từ. Đó là điển hình cho sự tự do mà hầu như các nước khác không thể có. Họ cũng chẳng phải nộp thuế cho nhà nước đó chính là sự TỰ DO – DÂN CHỦ cơ bản khác hoàn toàn hệ thống tư bản rồi nhé. Bạn sẽ khó mà thấy được quốc gia nào như thế đâu. Đó là một điều đặc trưng văn hóa của Việt Nam góp phần ổn định giá so với mức lương. Bạn có bao giờ nghĩ nếu một ngày nào đó ra đường không còn các hàng quán xá, các ghánh hàng rong thì sẽ như thế nào? Vẫn biết rằng phương thức thanh toán qua thẻ có thể kiểm soát được tham nhũng và làm ổn định xã hội mà các nước tiến bộ đã làm cách đây hơn 40 năm rồi. Nhưng làm thế cần một nền tảng (sau giải phóng thì Việt Nam bắt đầu bằng những gì sơ khai nhất hay nói cách khác là từ con số 0) đồng bộ hơn nữa khi ở Việt Nam chưa tới 70 các tỉnh thành hoàn thiện cơ sở để thực hiện. Và quan trọng nhất thì điều đó sẽ khó cho các cơ sở kinh doanh nhỏ, các hình thức buôn bán hàng rong nên tôi cam đoan rằng giá cả sẽ tăng vùn vụt.
3. Thứ ba phải nói đến việc lực lượng chức năng gặp khó khăn trong việc xử lý nhân dân: Với yếu tố đặc biệt do người Việt Nam ảnh hưởng bởi nho giáo nên thường “láu cá” khi ra xã hội. Song song đó cụm từ “tự do” “dân chủ” đã ảnh hưởng đến việc lực lượng chức năng khi kiểm soát an ninh, trật tự. Bạn có thể nhận thấy rằng không một quốc gia nào mà người dân “đanh đá” với lực lượng chức năng như vậy. Nhưng khi lực lượng chức năng xử dụng biện pháp mạnh thì dân lại nói là “công an đánh người” hoặc câu “chính quyền chèn ép dân”. Vậy thì tôi xin hỏi các nước khác họ bắn luôn thì chắc là tự do hơn Việt Nam chăng? Tôi xin lấy một ví dụ điển hình như sau:
Khi bạn đi đường, bạn bị CSGT bắt và giữ phương tiện giao thông. Tôi dám cá rằng chẳng người nào dám nói: "anh cứ giam cho đúng luật đi" tôi chắc rằng sẽ không có điều đó. Đầu tiên bạn sẽ nghĩ rằng bị giam xe, bị phạt nặng, rồi rườm rà đi làm thủ tục. Tôi nghĩ bạn sẽ cầm "ví" (bóp) để giải quyết cho nhanh phải không nào?
Bạn đến bệnh viện, bạn chờ quá lâu, tôi nghĩ bạn sẽ tìm phương án nào đó để khám cho nhanh phải không?
Bạn đến cơ quan chức năng, bạn làm thủ tục nhưng lâu, tôi nghĩ bạn cũng sẽ tìm phương án nào đó cho nhanh phải không?
Vậy thì, điều đầu tiên bạn nghĩ đến là gì? Vậy thì bạn đòi hỏi dân chủ gì trong những trường hợp láu cá này? Riêng tôi, tôi hỏi mọi người muốn phòng chống tham nhũng, cái sai đó muốn sửa thì sửa từ trên xuống hay từ dưới lên. Điều đó có lẽ khó ai trả lời phải không. Sự láu cá đó sẽ luôn như vậy và sẽ mãi như thế. Bất kể trời tây hay ta rồi sẽ vẫn như thế, tuy nhiên công nghệ ngày càng phát triển, tôi tin sẽ khắc phục được trong tương lai.
Còn rất nhiều nội dung để nói về tự do dân chủ của Việt Nam nhưng tôi chắc chắn rằng những bạn phản động sẽ dẫn chứng việc Đảng và Nhà nước độc tôn. Xin thưa rằng đúng là Đảng và Nhà nước độc tôn trên cách nhìn sơ qua. Nhưng cơ bản rằng đó là tính THỐNG NHẤT của một bộ máy điều hành. Nhìn từ góc độ Myanmar khi đất nước xảy ra hỗn loạn thì có hơn 90 đảng phái kích động nhân dân đập phá, phản đối để rồi cơ sở hạ tầng và cuộc sống nhân dân bị đảo lộn thậm chí nguy hiểm. Đối với các quốc gia đa đảng nhưng quyền lực lại giao cho một người như là tổng thống hay thủ tướng và mọi thứ chỉ có một người quyết định. Thế nhưng, ở Việt Nam mặc dù có 1 đảng nhưng các vấn đề quan trọng đều phải bàn bạc và có tham mưu từ cấp dưới chứ một cá nhân không thể quyết tất cả. Đó là một sự khác biệt của Việt Nam.
Vâng, có lẽ bài viết quá dài và đủ ký tự. Một lần nữa xin khẳng định với mọi người và nhất là những người chống phá Đảng – Nhà nước Việt Nam rằng:
Một là: Việt Nam chỉ cần một CHÍNH ĐẢNG THỐNG NHẤT
Hai là: Không thể có TỰ DO theo kiểu thích làm gì thì làm, vẫn phải tuân thủ một chuẩn mực xã hội nhất định cho phép phù hợp với tập tính, tập quán của dân tộc.
Ba là: Không thể có chuyện DÂN CHỦ hiểu theo nghĩa là dân muốn làm gì thì làm tức là dân chủ. Vẫn phải tuân thủ hiến pháp và quy định tại bất cứ tổ chức nào dù nhỏ nhất đến lớn nhất.
Bốn là: Nói về Chủ nghĩa xã hội thì hơi quá xa nhưng chỉ cần nghĩ đến Chủ Nghĩa Dân Tộc và câu nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” mà Bác Hồ đã gầy dựng thì tất cả sẽ chiến thắng.
Hãy lấy câu chuyện “Bó đũa” để làm vấn đề kết câu chuyện. Cá nhân không thể tách rời tập thể, xã hội. Tự do và dân chủ vẫn phải theo hướng tập thể và chuẩn mực xã hội mới vững bền.
Vâng, xin cảm ơn mọi người đã đọc.

THÁI BÁ TÂN - KẺ BIẾN CHẤT

Ông Tân à, ông làm thơ thì mặc xác nhà ông, nhưng ông đụng đến các tượng đài lịch sử; đụng đến anh linh của các Anh hùng dân tộc là ông phạm trọng tội đấy


Dù ông lớn tuổi, nhưng với tôi thì ông chỉ là thằng trẻ ranh ăn cháo đá bát, ông tỏ ra lập lờ với tư duy rẻ rách khi cho rằng 10 cô gái Ngã Ba Đồng Lộc "chết tức tưởi"; rằng không gọi là chiến công và không cần xây tượng đài...


Luận điệu của ông cũng giống như lũ dân chủ cuội, bọn phản động khi yêu cầu hoả táng thi hài Bác Hồ, ông nên nhớ, để có được Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do như hôm nay là biết bao AH Liệt sĩ đã ngã xuống, mỗi nhành cây, ngọn cỏ ở chiến trường đều thấm đẫm máu xương của các thế hệ cha anh. Vì thế, việc xây dựng tượng đài và nhân dân tưởng nhớ, tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc là cần thiết và đúng với truyền thống người Việt Nam "Uống nước nhớ nguồn", vậy tại sao ông lại bội bạc, mất nết, đổ đốn khi đăng bài thơ này?


"Nghệ thuật vị nhân sinh", nhưng mỗi người dân chúng tôi đang cảm thấy bị tổn thương, phẫn nộ khi chứng kiến bài thơ dc làm từ tâm địa xấu xa, ác độc và bẩn thỉu của ông


Tôi khẳng định: Bản thân ông và bất cứ kẻ nào quay lưng và xuyên tạc lịch sử cũng sẽ bị trả giá mà thôi, tiền thì ai cũng quý, nhưng vì mấy đồng tiền mà bán rẻ lương tâm và bẻ cong ngòi bút thì đê tiện lắm Tân à./

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2021

Đánh mất tuổi thanh xuân vì những điều viển vông, đen tối



 - Thời gian qua, cái gọi là Voice - tổ chức bị cho là ngoại vi của Việt Tân đã xây dựng, quảng bá 3 nhân vật Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long bằng mỹ từ "những ngôi sao" “đấu tranh dân chủ”. Sự thật, họ chỉ là những kẻ "bán nước cầu vinh", đánh mất tuổi thanh xuân cho những điều viển vông, đen tối.

XUYÊN TẠC CÔNG TÁC TỔ CHỨC BẦU CỬ LÀ CÓ TỘI VỚI NHÂN DÂN

 


Trên một số trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết “xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Chúng còn rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Cùng với đó, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

Trong lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

Với âm mưu phá hoại, các thế lực phản động, chống đối luôn tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Đồng thời, chúng còn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm làm nước ta suy yếu dần từ bên trong./.

ĐỪNG BỊ KẺ ĐỊCH LỢI DỤNG, LÔI KÉO

 


Trước thềm diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, một số tổ chức tự xưng là “nhà dân chủ” tiến hành kích động, xúi giục bày ra chiêu trò “tự ứng cử” làm ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị bầu cử. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết:

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”. Từ việc hiểu đúng về pháp luật để chúng ta không bị kẻ địch lợi dụng, lôi kéo, kích động dẫn đến vi phạm pháp luật./.

CHIÊU TRÒ GÂY RỐI PHÁ HOẠI CUỘC BẦU CỬ

 


Trước mỗi lần tổ chức bầu cử, những chiêu trò “tự ứng cử”, hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ký tên ảo, tung hô, ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử. Năm 2016, trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021, chúng ta cũng đã được chứng kiến một “làn sóng” tự ứng cử của các “nhà dân chủ” và một số văn nghệ sĩ biến chất. Khi không đủ điều kiện và bị loại qua các vòng hiệp thương, các đối tượng này lên mạng xã hội rêu rao những luận điệu hết sức sai trái như: chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải trải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội…

Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

Ngoài ra, những thông tin được các đối tượng xấu đưa ra đã trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài xuyên tạc, biến tướng, vu khống, công kích công tác bầu cử của Việt Nam. Pháp luật nước ta quy định công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định. Không ai có quyền cản trở việc công dân thực hiện những quyền này./.

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VÔ VĂN CỨ

 


Những ngày qua, trên các trang mạng xã đội do một số cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Chúng đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”…

Từ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ …

Những luận điệu, nhận định của kẻ xuyên tạc là hoàn toàn sai sự thật. Việt Nam luôn khẳng định rằng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước.Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v... Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Qua đây, mỗi người dân cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu nham hiểm bịa đặt, xuyên tạc vô căn cứ của kẻ thù./.

Chúng ta đã từng bước kiểm soát thành công đại dịch Covid-19

Sau một thời gian dài rêu rao “Việt Nam giấu dịch” bất thành, ra sức “tạo sóng cồn trong chậu nước” nhưng dư luận chẳng mấy quan tâm, mấy “nhà dân chủ" tự phong và vài ba “học giả” quốc tế đã “tắt điện toàn tập” trước sự thật về thành công của công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam. Vừa rồi, nhân sự kiện Đảng ta công bố, lấy ý kiến của nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, họ lại lợi dụng điều này, hy vọng “vớt vát” sự chú ý của dư luận vào những phân tích vô lối, ngụy khoa học trước đó. Bằng những luận điệu “nhai đi, nhai lại”, họ nói: “Cộng sản Việt Nam đã ăn may quá lớn. Bộ máy cai trị độc đảng bỗng phát huy giá trị khi phát đi những mệnh lệnh thắt chặt kiểm soát quyền con người”; “tư tưởng phong kiến, tư duy bảo thủ, lạc hậu, sự tách biệt với thế giới giúp cộng sản Việt Nam chống dịch Covid-19 dễ hơn các nước phương Tây và các nước Đông Á”. TS Lê Hải Bình, Phó trưởng ban chuyên trách Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương cho rằng: “Luận điệu đó chỉ là những tiếng nói yếu ớt của một số nhà phân tích và bình luận phương Tây, với định kiến vốn có về chủ nghĩa xã hội và các đảng cộng sản. Thành công của Việt Nam trong phòng, chống đại dịch Covid-19 đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao”. “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”-đó là mô hình quản trị, cơ chế vận hành hợp lý, khoa học đối với mọi vấn đề xã hội của đất nước ta. Trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19, cơ chế đó đã tỏ rõ là một mô hình vận hành hiện đại, hiệu quả. Theo TS Lê Hải Bình, thành công của Việt Nam rất phù hợp với tiêu chí “quản trị quốc gia tốt” do Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra. 8 nội dung căn bản của tiêu chí đó là: (1) “sự tham gia (participatory); (2) định hướng đồng thuận (consensus oriented); (3) trách nhiệm giải trình (accountable); (4) sự minh bạch (transparent); (5) sự kịp thời (responsive); (6) tính hiệu lực (effective) và hiệu quả (efficient); (7) tính bình đẳng và không loại trừ chủ thể nào (equitable and inclusive); (8) tuân thủ pháp quyền (follows the rule of law). Soi vào 8 nội dung này, Việt Nam đã không chỉ đáp ứng đầy đủ mà còn thực hiện “quản trị quốc gia” trước một thách thức an ninh phi truyền thống chưa từng có bằng một chiến lược thông minh và hiệu quả, trở thành hình mẫu cho nhiều quốc gia trên thế giới. Cụ thể, Việt Nam đã huy động được mọi nguồn lực, phát huy tốt nhất lực lượng vật chất và tinh thần cho phòng, chống dịch. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo, huy động sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, sự tham gia của toàn dân. Báo The Nation (Hoa Kỳ) thừa nhận, Việt Nam đã gọi chiến dịch phòng, chống Covid-19 là “Cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 2020” với sự huy động tất cả nguồn lực của đất nước. Với sự vào cuộc đó, Việt Nam đã tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý và thể chế đối phó với dịch bệnh, đồng thời nhấn mạnh mục tiêu bảo vệ sức khỏe người dân, bảo vệ quyền con người. Mọi thông tin liên quan đến dịch Covid-19 và hoạt động phòng, chống dịch của Chính phủ, chính quyền các cấp được công bố đầy đủ, cập nhật thông tin rõ ràng, dễ truy cập và dễ hiểu đối với mọi người dân. Những quyết sách của Việt Nam đều nhanh chóng, kịp thời. Công cuộc phòng, chống dịch tạo được sự đồng thuận sâu sắc, rộng lớn trong toàn xã hội. Những chỉ đạo, quyết định của Đảng, Nhà nước bảo đảm công bằng và không loại trừ chủ thể nào; qua đó đã phát huy hiệu lực và hiệu quả rất cao; trách nhiệm giải trình được thể hiện qua trách nhiệm trong nội bộ các cơ quan Đảng, Nhà nước và trách nhiệm đối với toàn xã hội... Cho đến nay, trong khi đại dịch Covid-19 vẫn hoành hành trên thế giới, nhiều quốc gia bắt buộc phải tái phong tỏa trở lại thì Việt Nam vẫn vững vàng, gần 60 ngày không có ca mắc mới trong cộng đồng. Nhân dân ta vừa phòng, chống đại dịch Covid-19, vừa chung tay phòng, chống thiên tai và sạt lở đất chưa từng có ở miền Trung; đồng thời ra sức phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với tình hình dịch bệnh; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân, là một trong số ít quốc gia có kinh tế tăng trưởng dương năm 2020. Những thành tựu đáng kể nêu trên không chỉ bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc về kết quả phòng, chống đại dịch Covid-19 tại Việt Nam mà còn khẳng định rõ ràng hơn bao giờ hết về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lâu nay, những kẻ thiếu thiện chí với Việt Nam vẫn ra sức khuếch đại luận điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không có khả năng lãnh đạo phát triển kinh tế”. Tuy nhiên, thành tựu không thể phủ nhận trong gần 35 năm đổi mới, nhất là thành tựu chèo lái đất nước vững bước vượt qua đại dịch toàn cầu đã khẳng định bản lĩnh, tầm nhìn và khả năng lãnh đạo của Đảng ta. Đặc biệt, trong những ngày qua, những đợt bão chồng bão, lũ chồng lũ kèm theo sạt lở đất nghiêm trọng diễn ra ở miền Trung nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đoàn kết muôn lòng như một, vừa kiên cường chống thảm họa, thiên tai, vừa chung tay san sẻ yêu thương; vừa tìm kiếm nạn nhân mất tích, vừa cứu trợ đồng bào trong vùng bị cô lập, nỗ lực khắc phục hậu quả để khôi phục sản xuất, đời sống, quyết không để ai bị tụt lại phía sau. Đã có nhiều cơ quan báo chí quốc tế đặt câu hỏi: Vì sao Việt Nam tiềm lực không bằng các nước phát triển châu Âu, châu Mỹ mà lại vững vàng trước đại dịch và thiên tai như vậy? Những lời khen ngợi của bạn bè như “kỳ tích”, “bất ngờ”, “bài học quý báu”, “hình mẫu”... chính là những lời phản bác đanh thép nhất dành cho những người thiếu thiện chí với Việt Nam. Hình ảnh những cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an, dân quân tự vệ không ngại gian khổ, hy sinh; có mặt kịp thời để cứu giúp nhân dân trong tâm bão, lũ đã trả lời cho câu hỏi của bạn bè năm châu về sức mạnh nội sinh của Việt Nam. Sức mạnh mà Việt Nam có được, trước hết là sức mạnh của mô hình thể chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Thể chế đó ngày càng ổn định, thực thi quản trị quốc gia tốt với một nền kinh tế có sức chịu đựng và ứng biến linh hoạt, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; một nền an ninh nhân dân-quốc phòng toàn dân vững mạnh đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại dịch Covid-19 và thiên tai đã gây thiệt hại to lớn về người và của đối với Việt Nam nhưng trong muôn vàn khó khăn và thử thách đó, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc lại được phát huy cao độ. Có thể nói, từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới cho đến nay, chưa bao giờ sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với Đảng lại lớn mạnh như thời điểm này. Đó là nguồn lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ sẽ cuốn phăng mọi âm mưu, luận điệu xuyên tạc lạc lõng về những thành tựu mà nhân dân và đất nước ta đã đạt được trong thời gian qua!

uốt 75 năm qua, Quốc hội Việt Nam ngày càng hoạt động hiệu quả, nỗ lực hết sức để mọi quyền lực Nhà nước đều của dân, do dân, vì dân...

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng nhất của Quốc hội (QH) Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định QH là cơ quan lập hiến và lập pháp. Hiến pháp năm 2013 (hiện hành) đã khẳng định, QH là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện quyền lập hiến, lập pháp. Lý giải về vấn đề nêu trên, PGS, TS Lê Minh Thông, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH cho rằng, quyền lập pháp được giao cho QH xuất phát từ vị trí đặc biệt của QH trong cấu trúc quyền lực Nhà nước Việt Nam. Bởi QH là cơ quan thực hiện dân chủ đại diện cao nhất của nhân dân. So với cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền tư pháp trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, QH với vai trò là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là đại biểu cao nhất cho cử tri toàn quốc thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của cử tri cả nước. Các ĐBQH vừa là đại biểu của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, các vùng lãnh thổ, vừa là đại biểu của cả nước, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ lợi ích của dân tộc và đất nước. Mọi quyết định của QH trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân không chỉ do nhân dân ủy quyền, mà còn nhân danh nhân dân-chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của nhân dân và vì quyền, lợi ích của người dân. Về thực chất tính tối cao của quyền lực QH xuất phát từ quyền chủ thể tối cao của nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Với vị trí đặc biệt như vậy, hoạt động lập pháp của QH chính là xuất phát từ ý chí, nguyện vọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, không thể có chuyện các luật, nghị quyết của QH ban hành lại đi ngược lợi ích của nhân dân. Có một số người phát biểu trên mạng xã hội cho rằng “quy trình làm luật ở Việt Nam không theo luật và chẳng giống ai”. Có lẽ họ đã không biết được quy trình xây dựng luật tại Việt Nam chặt chẽ và công khai, minh bạch theo quy định của Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình này bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn. Hằng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, UBTVQH lập và trình QH xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở chương trình đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chương trình này. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của QH có trách nhiệm thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật trên cơ sở ý kiến của các ĐBQH, ý kiến của nhân dân, các chuyên gia, đối tượng chịu tác động, các cơ quan, tổ chức hữu quan, UBTVQH với tư cách là cơ quan chuẩn bị và chủ trì kỳ họp QH có trách nhiệm cho ý kiến đối với các dự án luật. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH cũng tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. Với một số dự án luật quan trọng, phức tạp, UBTVQH còn tổ chức hội nghị các ĐBQH chuyên trách và các chuyên gia đóng góp. Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng, mang tính quyết định trong việc hoạch định chính sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung của dự án luật. Theo trình tự này, QH đã nắm trọn quyền lập pháp, từ khâu xây dựng chương trình, trình dự án, lấy ý kiến góp ý, thẩm tra, chỉnh lý và thông qua luật. Quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay cũng tương đồng và phù hợp với quy trình xây dựng luật ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì thế, ý kiến một số người cho rằng QH chỉ là cơ quan thông qua luật là không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình QH với các dự án luật đã được các cơ quan của QH thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và QH thông qua thì chất lượng được nâng cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là về các chính sách, cả về mặt nội dung cũng như hình thức văn bản. Thực tế đã chứng tỏ QH Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu quả. ĐBQH nhấn nút biểu quyết thông qua luật trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của cử tri. Thế nhưng, vẫn có người lại đưa ra luận điệu lạc lõng là "QH Việt Nam chỉ thảo luận, thông qua những nội dung theo quyết định của Đảng, việc thảo luận dự án luật chỉ để “cho vui". Luận điệu này khó có thể thuyết phục được những người quan tâm, theo dõi hoạt động của QH và đông đảo cử tri Việt Nam. Trên thực tế, những vấn đề quan trọng, trong đó có các dự án luật mà QH xây dựng, thông qua đều có dấu ấn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là điều bình thường, bởi theo Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, cũng theo quy định của Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều hướng tới nhân dân, vì nhân dân. Bởi vậy, việc QH Việt Nam thảo luận về những vấn đề do Đảng lãnh đạo là đúng Hiến pháp, vì nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Thực tế, trước khi thông qua luật hoặc nghị quyết, các ĐBQH đều được thảo luận, tranh luận dân chủ, thẳng thắn. Những nội dung không thuộc bí mật quốc gia đều được công bố công khai, minh bạch cả về tài liệu lẫn các ý kiến thảo luận. Những đạo luật lớn liên quan tới các vấn đề lớn của đất nước được đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm như: Hiến pháp, Luật Đất đai... đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp các buổi thảo luận để cử tri, nhân dân theo dõi, giám sát. Những ai thường xuyên theo dõi hoạt động QH đều biết rằng, các dự án luật khi đưa ra QH thảo luận đều có những ý kiến đồng tình, ý kiến phản bác. Tất cả ý kiến dù đồng tình hay phản bác đều được trân trọng, tiếp thu, giải trình đầy đủ và QH chỉ quyết định theo đa số. Mấy nhiệm kỳ gần đây, không dự án luật nào mà tất cả các ĐBQH đều nhất trí. Một số dự án luật chỉ khoảng 70% ĐBQH nhấn nút đồng ý khi thông qua; thậm chí có dự án luật không được thông qua. Như vậy, trong số những đại biểu nhấn nút không đồng ý, chắc chắn có đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, không thể có chuyện ĐBQH là đảng viên đều phải nhấn nút biểu quyết đồng ý theo “chỉ đạo”. Cũng có những nội dung sau khi thảo luận, tranh luận đã bị QH bác bỏ, chẳng hạn việc QH chưa đồng ý thành lập Tòa án Nhân dân khu vực, Viện Kiểm sát Nhân dân khu vực khi thông qua các luật tổ chức liên quan tới hai ngành này. Tại Kỳ họp thứ tám, QH khóa XIV, cơ quan soạn thảo đề xuất mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Tuy nhiên, sau khi các ĐBQH nhận được ý kiến của cử tri đã thảo luận rất sôi nổi về vấn đề này. Kết quả biểu quyết cho thấy, đa số ĐBQH không nhất trí mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ. Mới đây nhất, vào tháng 11-2020, tại Kỳ họp thứ mười, khi UBTVQH xin ý kiến ĐBQH về các vấn đề liên quan đến dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi) và dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đã có tới 302 đại biểu không đồng ý (62,79%) việc tách nội dung bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong Luật Giao thông đường bộ hiện hành để ban hành luật riêng. 321 đại biểu không đồng ý (66,74%) với đề xuất của Chính phủ trong việc thay đổi thẩm quyền quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe từ Bộ Giao thông vận tải sang Bộ Công an. Tại cuộc họp báo ngay sau kết thúc kỳ họp, đồng chí Nguyễn Trường Giang, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của QH cho biết: “Qua thăm dò xin ý kiến, có kết quả như vậy là làm đúng theo tinh thần mới, thể hiện tính dân chủ và quy định chung của QH. Ủy ban Pháp luật cũng không có quyền bác luật, mà chính QH sẽ quyết định. Ủy ban Pháp luật sẽ tham mưu và thẩm tra theo đúng quy định của pháp luật”. Đó là những ví dụ cụ thể khẳng định QH Việt Nam không “thảo luận cho vui” mà thảo luận dân chủ, quyết định theo đa số, theo ý nguyện của cử tri và nhân dân. Những luận điệu nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân với QH chẳng thể nào làm thay đổi được thực tế. Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được QH khóa XIV thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 1-1-2021 tạo cơ sở pháp lý cho tiến trình đổi mới công tác xây dựng pháp luật ở nước ta. Luật có những quy định mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn để Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức, ĐBQH chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, để MTTQ Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ý kiến phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, giải trình, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, toàn diện, là cơ sở xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Trong quá trình xây dựng pháp luật, chúng ta đã tham khảo và bảo đảm các bộ luật, luật, nghị quyết được ban hành phải tương thích với luật pháp quốc tế. Thế nhưng không thể bê nguyên xi luật pháp quốc tế về Việt Nam. Đã từng có những luận điệu của thế lực thù địch “gợi ý” rằng "chỉ cần lấy nguyên luật pháp của quốc tế về áp dụng ở Việt Nam để đỡ tốn tiền làm luật". Đây là quan điểm sai lầm và vô cùng nguy hiểm bởi chúng ta là người Việt Nam. Chúng ta phải xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện đất nước Việt Nam, bảo đảm lợi ích lâu dài của Tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Trước những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất quy trình xây dựng pháp luật của QH, xuyên tạc lịch sử 75 hào hùng của QH, mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, nhận diện và cảnh giác trước những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch để chủ động phòng tránh, không để bị tác động, gây hoang mang tư tưởng hoặc thay đổi nhận thức chính trị vì những luận đó. Đặc biệt, đối với mỗi ĐBQH cần phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm trước cử tri, thận trọng khi phát ngôn để các thế lực thù địch không thể “thêm mắm, thêm muối” lợi dụng nhằm đạt được những mục đích xấu xa, đen tối của chúng.