Thứ Ba, 1 tháng 6, 2021
ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ "XÃ HỘI DÂN SỰ" ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA
Tác động đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân của tôn giáo đối với QP-AN
Hầu hết tín đồ các tôn giáo ở nước ta đều suy
nghĩ và hành động theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, có
niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ sở
vững chắc tạo nên thế trận lòng dân, cơ sở để xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân và thế trận an ninh nhân dân. Song hiện nay, một số chức sắc tôn giáo đi
ngược lại lợi ích chung của dân tộc và cách mạng, ngấm ngầm hoặc công khai kích
động tín đồ không thực hiện các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước như: không
nộp thuế, không thực hiện nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ quân sự…, làm ảnh hưởng
không nhỏ tới khả năng khai thác, huy động nguồn nhân lực, vật lực phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt các thế lực thù địch đang tăng
cường mua chuộc, kích động, lôi kéo đồng bào nhẹ dạ, cả tin, truyền đạo trái
phép, phát triển tín đồ, tập hợp lực lượng, nhất là ở các địa bàn chiến lược
như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ…nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, phá vỡ thế trận lòng dân, mưu đồ ly khai, dựng ngọn cờ, tạo cớ để
kêu gọi các thế lực từ bên ngoài can thiệp, xâm lược nước ta.
Vì vậy, chúng ta cần nhận rõ tác động của tình
hình tôn giáo đến quốc phòng, an ninh ở nước ta hiện nay, bao hàm cả mặt tích
cực và mặt tiêu cực, để có giải pháp hiệu quả phát huy mặt tích cực, đồng thời
hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, nhằm xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, và an ninh nhân dân vững chắc.
Âm
mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng chống phá cách mạng nước ta của các
thế lực thù địch
Âm
mưu: chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch đã và đang thực hiện âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo cùng
với vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền làm “ngòi nổ” để thực hiện “diễn biến
hòa bình”. Bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
Thủ
đoạn: thực hiện âm mưu trên,
các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là:
ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh
các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo,
như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc
tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra
đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay
hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để
lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào
nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn
giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm
nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn
giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách
mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền
Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế
giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để
can thiệp vào nội bộ nước ta.
Đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề tôn giáo
là một bộ phận nằm trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật
đổ của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây
là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và lâu dài, được tiến hành trên những mặt
chủ yếu sau:
Trên
lĩnh vực chính trị tư tưởng:
thực hiện tuyên truyền vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo để
chống phá cách mạng, đồng thời làm cho các tín đồ hiểu rõ chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tuyên truyền cần nhận
thức rõ tôn giáo là một vấn đề tâm linh đã ăn sâu, bén rễ trong đời sống của
không ít người trong nhiều dân tộc qua nhiều thế hệ. Tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt
tôn giáo phù hợp với giáo lý, với truyền thống của dân tộc; nâng cao đạo đức,
nhân cách con người, sống “tốt đời, đẹp đạo” chủ động đấu tranh chống lại những
luận điệu xuyên tạc bóp méo sự thật, thay trắng, đổi đen lừa mị tín đồ của các
thế lực thù địch, phản động.
Trên
lĩnh vực kinh tế - xã hội: phải
gắn đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo với cuộc đấu tranh chống nghèo nàn,
lạc hậu. Một trong những thủ đoạn mà kẻ địch lợi dụng là dựa vào đời sống còn
khó khăn của các tín đồ để dụ dỗ, kích động họ chống lại chính quyền. Vì vậy,
đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải gắn với động viên các tín đồ tích
cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa,
tinh thần. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống địch lợi
dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, bởi các vấn đeè đó có mối quan heẹ
chặt chẽ, đa xen với nhau.
Trên
lĩnh vực đối ngoại: đây là
lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch lợi dụng để can
thiệp, chống phá nước ta. Chúng dựng lên cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt
nam”, “nhân quyền ở Việt Nam” để lừa bịp dư luận thế giới, trắng trợn, vu cáo
Nhà nước ta “đàn áp tôn giáo”… Do đó chúng ta cần quán triệt phương châm tích
cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc, bóp
méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Trên
lĩnh vực quốc phòng, an ninh:
đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được
biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi mưu đồ chính trị, khuấy lên những
khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ
trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên những vụ gây rối, bạo loạn ly
khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố chống đối từ bên trong, xây
dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính quyền của các thế lực thù địch,
phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn giáo đã tạo nên những “điểm
nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001 và tháng 4
năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh Tin lành Đề ga”, việc
truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tháng 5 năm 2001
và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng… Những vụ
việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến xây
dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân
dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu tranh chống dịch
lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt điểm, không để lây
lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực quốc
phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt
là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ tích cực phát triển
kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi tín đồ tôn giáo,
của mỗi địa phương và cả nước.
Đừng để tác phong “quan phụ mẫu” trỗi dậy khiến lòng dân ta thán
Tác động trên lĩnh vực kinh tế của tôn giáo đối với QP-AN ở nước ta hiện nay
Hiện nay nước ta có trên 24 triệu tín đồ,
ngoài ra còn hàng chục triệu người có tín ngưỡng khác nhau. Đa số các tín đồ
hăng hái lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần to lớn vào sự
nghiệp xây dựng đất nước. Trong quá trình lao động sản xuất, trình độ nhận
thức, ý thức chính trị, niềm tin, năng lực, hành động của tín đồ ngày càng được
nâng cao. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ tín đồ vẫn còn thụ động, trông đợi sự
cứu vớt của các lực lượng siêu nhiên, chưa tích cực lao động sản xuất, nên tình
trạng đói nghèo vẫn rình rập quanh họ. Một số tôn giáo đã huy động tín đồ đóng
góp tới 10% thu nhập để chi cho hoạt động của các giáo hội, đã làm ảnh hưởng
nghiêm trọng tới quá trình đầu tư tái sản xuất của đồng bào tôn giáo cũng như
của toàn xã hội. Đây là một nguy cơ tạo nên những bất ổn trong xã hội.
Tác động của tình hình tôn giáo trên lĩnh vực chính trị tinh thần đối với quốc phòng, an ninh ở nước ta hiện nay
Tác động của tôn giáo đến chính trị tinh thần
xã hội là quá trình làm tăng lên hay suy giảm niềm tin, ý chí của các thành viên
trong xã hội, làm thay đổi trạng thái tâm lý, tinh thần trách nhiệm trước yêu
cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước.
Do thành tựu công cuộc đổi mới đất nước vừa
qua đem lại, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo hiện nay
đã được cải thiện rõ rệt. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn
giáo ngày càng được hoàn thiện và được tuyên truyền rộng rãi trong đồng bào có
đạo, đã tạo được niềm tin, sự phấn khởi của tín đồ, chức sắc các tôn giáo đối
với cách mạng. Sự đồng thuận trong xã hội giữa tín đồ các tôn giáo được củng cố
trên nền tảng lợi ích, mục tiêu chung đã tạo cơ sở vững chắc để xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân
trong xây dựng củng cố quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên các tín đồ, chức sắc các tôn giáo là những người có niềm tin tôn giáo và mức độ niềm tin đó ở mỗi người khác nhau. Nhìn chung các tín đồ tôn giáo đều phụ thuộc vào giáo lý, thần quyền; một bộ phận tín đồ lạc hậu dễ bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc, lôi kéo, hoặc khống chế vì mục đích chính trị phản động. Đáng chú ý là một số chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan, lợi dung sơ hở, yếu kém trong quản lý Nhà nước để tuyên truyền, kích động lôi kéo đồng bào có đạo chống đối chính quyền. Nghiêm trọng hơn một số chức sắc, tôn giáo còn công khai tuyên truyền xuyên tac quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo gây lên sự hiểu lầm, thiếu tin tưởng của một bộ phận tín đồ. Ở một số vùng có tôn giáo, khối đại đoàn kết toàn dân tộc có nguy cơ bị rạn nứt nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng duy trì huy động tiềm lực chính trị, tinh thần vào sự nghiệp củng cố quốc phòng, anh ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực trạng công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay
Thực hiện đường lối, chính sách tôn giáo của
Đảng, Nhà nước từ khi tiến hành công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước dến nay, công tác tôn giáo đã đạt được nhiều
thành tựu tiến bộ:
1) Công tác tôn giáo đã động viên được đồng
bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua
yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ
2) Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp
tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.
3) Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng
được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc
theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp
nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng
cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.
4) “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực
thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh
tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời
đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]
[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46
Quốc hội, người đại diện chân chính cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
Xu hướng tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu tôn
giáo, hiện nay cùng với sự biến đổi nhanh chóng, sâu sắc trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội đã dẫn đến sự biến đổi của tôn giáo. Tình hình tôn giáo trên thế
giới hiện nay đã và đang biến đổi theo bốn xu hướng chủ yếu là: “toàn cầu hóa”,
“dân tộc hóa” “đa dạng hóa” và “thế tục hóa”
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ trước, sang đầu thế kỷ XXI càng phát triển với tốc độ
cao hơn đã làm biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc mọi mặt của đời sống nhân loại, làm
cho xu hướng hòa bình, hợp tác để phát triển giữa các quốc gia, dân tộc trở
thành xu hướng lớn của thời đại ngày nay. Trong bối cảnh đó, các cường quốc đế
quốc tư bản chủ nghĩa cũng như các nước khác đều ra sức cạnh tranh nhằm tạo ảnh
hưởng, nâng cao hơn vị thế của mình trên trường quốc tế. Tương tự như vậy, các
tôn giáo cũng có tham vọng mở rộng ảnh hưởng của nó, làm cho xu hướng “toàn cầu
hóa tôn giáo” đã và đang diển một cách mạnh mẽ.
Hiện nay, Kitô giáo, Hồi giáo đang mở rộng
ảnh hưởng ở bốn châu lục là châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ; còn Phật Giáo
không chỉ mở rộng ảnh hưởng ở địa bàn truyền thống là châu Á mà còn mở rộng và
đang ảnh hưởng mạnh mẽ ở châu Âu, châu Úc đến cả Canađa và Mỹ. Bên cạnh xu
hướng toàn cầu hóa, lại xuất hiện xu hướng dân tộc hóa tôn giáo, biểu hiện ở sự
trở về đối với tôn giáo truyền thống để bảo vệ bản sắc dân tộc chống lại sự lấn
lướt, áp đặt của các tôn giáo lớn ngoại nhập. Xu hướng này đã và đang ngày càng
được coi trọng ở nhiều quốc gia, dân tộc. Không ít quốc gia, dân tộc đã dùng
phương pháp kích thích tôn giáo truyền thống trong nước phát triển để chống lại
sự xâm lăng của tôn giáo bên ngoài, coi đó là biểu tượng giữ vững bản sắc văn
hóa và sự gắn kết dân tộc. Cùng với xu hướng quốc tế hóa, dân tộc hóa, là xu
hướng đa dạng hóa tôn giáo. Sự hình thành xu hướng này đã do sự phát triển của
kinh tế- xã hội và khoa học kỹ thuật làm nảy sinh nhiều tôn giáo mới với nhiều
sắc thái khác nhau. Các tôn giáo mới xuất hiện cùng với các tôn giáo truyền
thống, tôn giáo du nhập đồng thời tồn tại, phát triển trong một quốc gia, tạo
nên bức tranh đa sắc phức tạp của tôn giáo thời hiện đại. Mặt khác sự liên
minh, liên kết tôn giáo cũng đang diễn ra mạnh mẽ tạo nên sự đa dạng phong phú
nhưng cũng không kém phần phức tạp trong đời sống tinh thần của nhân loại ít
nhất là ở thế kỷ XXI. Cuối cùng là xu thế thế tục hóa tôn giáo - đó là một quá
trình gồm hai mặt cả tích cực và tiêu cực, song đều có cái chung làm cho niềm tin
tôn giáo sát hơn với đời sống hiện thực của con người. Mặt tích cực thể hiện ở
sự đề cao cái thiện, chống cái ác vì hòa bình, tiến bộ xã hội; mặt tiêu cực thể
hiện ở các hiện tượng làm tầm thường hóa ý nghĩa thiêng liêng của tín ngưỡng,
tôn giáo như:lợi dụng tôn giáo để hoạt động phản văn hóa, kích thích lối sống
bản năng thấp hèn, tiến hành các hoạt động ly khai, khủng bố.
Ở nước ta hiện nay, tình hình tôn giáo cũng
đang diễn ra sự biến đổi theo bốn xu hướng trên của các tôn giáo thế giới. Các
tôn giáo do nhu cầu, lợi ích khác nhau đều tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình,
làm cho tình hình tôn giáo diễn biến rất phức tạp. Trong những năm gần đây các
tôn giáo phát triển cả về số lượng tín đồ, cơ cấu tổ chức và sự hình thành các
tôn giáo mới. Đáng chú ý là đạo Tin lành ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc…Ở Tây
Nguyên sau năm 1975 chỉ có khoảng 50.000 tín đồ đạo Tin lành, đến nay đã có
trên nửa triệu. Ở Tây Bắc, Đạo Tin lành những năm 80 của thế kỷ XX mới chỉ có
mầm mống, đến nay đang phát triển mạnh với trên 100.000 tín đồ và một phần ba
trong số bản người H’Mông có đạo Tin lành. Sự phát triển của các tôn giáo nói
chung, và sự phát triển của Đạo Tin lành vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, địa
bàn trọng yếu đòi hỏi chúng ta cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, ngăn
ngừa có hiệu quả sự lợi dụng của vấn đề tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng
nước ta của các thế lực thù địch.
Do thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước
vừa qua đem lại, đời sống vật chất và tính thần của đồng bào tôn giáo hiện nay đã
được cải thiện rõ rệt. Đồng bào các tôn giáo luôn phát huy tinh thần tương
thân, tương ái, đồng hành cùng dân tộc lên án đấu tranh với các hành động xâm
phạm chủ quyền biển, đảo, tích cực tham gia các phong trào thi dua vì an ninh
Tổ quốc…Sự đồng thuận trong xã hội giữa tín đồ các tôn giáo, giữa người theo
tôn giáo và không theo tôn giáo được củng cố trên nền tảng lợi ích, mục tiêu
chung đã tạo cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng
cao sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân trong xây dựng, củng cố quốc
phòng an ninh. Tuy nhiên các tín đồ, chức sắc các tôn giáo là những người có
niềm tin tôn giáo và mức độ niềm tin đó ở mỗi người khác nhau. Nhìn chung các
tín đồ tôn giáo đều phụ thuộc vào giáo lý, thần quyền, một bộ phận lạc hậu dễ
bị kẻ xấu lợi dụng mua chuộc, lối kéo, hoặc khống chế. Một số chức sắc tôn giáo
có tư tưởng cực đoan, lợi dụng sơ hở, yếu kém trong quản lý nhà nước để tuyên
truyền, kích động lôi kéo đồng bào có đạo chống đối chính quyền. Nghiêm trọng
hơn một số chức sắc tôn giáo còn công khai tuyên truyền, xuyên tạc quan điểm,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo
gây lên sự hiểu lầm, thiếu tin tưởng của một bộ phận tín đồ. Ở một số vùng có
tôn giáo, khối đại đoàn kết dân tộc có nguy cơ bị rạn nứt nghiêm trọng, ảnh
hưởng lớn đến khả năng duy trì, huy động tiềm lực chính trị tinh thần vào sự
nghiệp củng cố quốc phòng và an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Về “sức mạnh mềm” Việt Nam
Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
+ Tín ngưỡng, tôn giáo mang tính quần chúng,
nhưng ở cấp độ tâm lý tôn giáo, có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp
nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh, của tôn giáo khác. Hành vi tôn giáo
ít nhiều mang tính thực dụng và theo tính cổ truyền truyền thống. Tâm lý tôn
giáo không chỉ sâu đậm trong những tín đồ tôn giáo mà còn cả trong những số
đông những người không theo tôn giáo.
+ Các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong
xã hội đều du nhập từ bên ngoài vào và nhiều ít được “Việt hóa”. Ngoài tín
ngưỡng truyền thống và tàn dư tín ngưỡng nguyên thủy gắn với đời sống tâm linh
của người Việt, các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, dù “tự nhiên” như Phật Giáo
hay “áp đặt” như Thiên Chúa giáo vẫn hòa quyện với văn hóa dân tộc, tạo nên một
nền văn hóa thống nhất nhưng đa diện, phong phú. Ở một số thời điểm lịch sử
nhất định, giữa các tôn giáo ở nước ta cũng có sự “bất hòa” do các thế lực thực
dân, đế quốc âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị. Song nhìn chung
tôn giáo ở Việt Nam có sự hòa hợp, chung sống hòa bình. Các tín đồ dù thuộc tôn giáo nào đều có chung mục
đích sống “tốt đời, đẹp đạo’ tích cực góp phần vào sự nghieẹp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền được thông tin của người dân
Việt nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn
giáo, hiện nay ở nước ta có 16 tôn giáo với 43 tổ chức giáo hội, với hơn 24
triệu tín đồ, chiếm gần 27% dân số cả nước. Mỗi tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta
có quá trình hình thành, phát triển mang những dấu ấn lịch sử tín ngưỡng và
giáo lý khác nhau. Các tín ngưỡng bản địa hình thành, phát triển từ rất sớm gắn
liền với đời sống xã hội, ăn sâu, bám rễ trở thành nét văn hóa của người Việt
như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu, thờ Thành hoàng… Cùng với
tín ngưỡng, các tôn giáo ở nước ta cũng rất đa dạng, có tôn giáo du nhập từ bên
ngoài vào (Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Tin Lành), có tôn giáo nội sinh (Cao
Đài, Hòa Hảo…) tạo nên bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo nhiều màu sắc phong phú,
đa dạng.
Phật
giáo, du nhập vào Việt Nam
(khoảng thế kỷ thứ I sau Công nguyên) từ Trung Quốc, Ấn Độ, được người Việt
tiếp nhận rất tự nhiên và phát triển trở thành tôn giáo mang tính phổ biến,
rộng rãi. Phật giáo phát triển cực thịnh, trở thành “quốc đạo” vào thời Lý -
Trần, nhưng suy giảm vào cuối thời Hậu Lê. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, Phật giáo
có sự phục hồi phát triển trên địa bàn cả nước, với nhiều tông phái khác nhau.
Công
giáo du nhập vào nước ta từ
thế kỷ XVI, bởi các nhà truyền giáo phương Tây, nhưng chỉ thực sự phát triển từ
khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Vì thế, quá trình tồn tại, phát triển, hoạt
động của Công giáo Việtt Nam luôn chịu sự ảnh hưởng và bị các thế lực thù địch,
phản dộng lợi dụng, chi phối.
Tin
lành vào Việt Nam từ năm
1911, do Liên Hiệp Phúc âm và Truyền giáo Mỹ tiến hành. Quá trình phát triển
của Đạo Tin lành gắn liền với sự can thiệp xâm lược của Mỹ, nên bị chi phối bởi
những mục đích chính trị của Mỹ. Hiện nay đạo Tin lành phát triển mạnh ở các vùng
dân tộc Tây Nguyên, Tây Bắc với nhiều nhánh, phái khác nhau.
Đạo
Hồi vào nước ta từ thế kỷ
thứ XVI, chủ yếu trong người Chăm với hai dòng chính là Chăm Bà Ni ở Ninh Thuận
và Chăm IxLam ở An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai tôn giáo nội sinh là Đạo Cao Đài do Lê Văn Chiêu sáng lập năm 1925 và Phật giáo Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ sáng
lập năm 1939. Ngoài ra, ở nước ta còn có nhiều tổ chức tôn giáo khác cũng đang
hình thành, biến đổi, phát triển.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo qua các văn kiện quan trọng
Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, tín
ngưỡng của Đảng, Nhà nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới đến nay, được thể hiện
trên nhiều văn kiện quan trọng như: Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết chuyên đề
và nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng, các chỉ thị, luật, các pháp lệnh…, trong
đó gắn vấn đề tôn giáo với QP-AN, được tập trung vào các văn kiện uan trọng sau:
- Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là
Đại hội XII, XIII.
- Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990
của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban
chấp hành trung uơng Khoa IX về công tác tôn giáo.
- Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL
- UBTVQH11, tháng 6/2004
- Hiến pháp nước CHXHCNVN (2013)
- Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14
Trên các văn kiện, nhiều quan điểm, chính
sách về tôn giáo và chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã được đổi
mới về căn bản và mang tính “đột phá”, lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra. Đó là
các quan điểm: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn
đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc
xây dựng xã hội mới; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận
động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống chính trị và
toàn dân và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo
chống phá cách mạng. Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và
công tác tôn giáo đã chuyển chủ yếu từ nhận thức tôn giáo là chính trị, là nhạy
cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng tôn giáo, sang tôn giáo là nhu cầu của nhân
dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và tôn giáo có những giá trị tích cực.
Nhận thức của Đảng về tôn giáo như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với
trước đây. Đó là những căn cứ quan trọng của đường lối, quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta về tôn giáo gắn với quốc phòng an ninh.
Về chủ nghĩa dân túy và đấu tranh ngăn ngừa những biểu hiện của nó ở Việt Nam hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy giá trị của tôn giáo
Theo Hồ Chí Minh, giáo lý các tôn giáo dù
khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cao tính nhân đạo, hướng thiện của con
người. Người viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo
đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[1].
Tư tưởng bác ái của Chúa Giêsu, tư tưởng từ bi, hỷ xả, vô ngã vị tha của Đức
Phật và tư tưởng nhân nghĩa của Khổng Tử có sự tương đồng với lý tưởng độc lập
dân tộc và CNXH. Người tran trọng và đề cao nhân cách, sự đóng góp của các vị
sáng lập tôn giáo đối với tiến bộ của nhân loại và đề nghị mọi người học tập
noi gương.
Với
các tín đồ tôn giáo, nhiều
lần Hồ Chí Minh khẳng định: Tín đồ các tôn giáo ở Việt nam căn bản là yêu nước.
Đối
với các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng và đánh giá cao vị trí, vai trò
của họ trong tổ chức tôn giáo; khuyến khích, động viên họ tham gia vào sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Người cũng luôn trân trọng
những đóng góp dù nhỏ của các vị chức sắc, nhà tu hành và khích lệ họ tiếp tục
cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.
- Chống
lợi dụng tôn giáo và bài trừ mê tín dị đoan
Chống
lợi dụng tôn giáo
Ở Việt Nam, tôn giáo là lĩnh vực luôn bị chủ
nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với bọn phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối
đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng. Để vừa bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng của nhân dân, vừa đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo vì
mục đích xấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ranh giới rạch ròi giữa một bên là
đồng bào tôn giáo chân chính yêu nước với bên kia là những kẻ “giáo gian” vì
cam tâm làm tay sai cho gặc, hại nước, phản chúa. Trên cơ sở phan biệt rõ giữa
tín đồ chân chính và những kẻ “giáo gian” như vậy, Người chủ trương: “bảo vệ tự
do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo đã phản
Chúa, phản nước”[2].
Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh, trong việc đấu
tranh chống lợi dụng tôn giáo không được cứng nhắc, vì rất dễ mắc sai lầm,
trúng ý đồ chia rẽ của địch. Người nhấn mạnh: do các thế lực phản động luôn tìm
cách lợi dụng tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên một bộ phận
người Việt Nam đã sa ngã, bám theo chân giặc giày xéo quê hương, còn tuyệt đại
quần chúng nhân dân đều có lòng yêu nước. Hơn nữa theo Người, ngay cả trong số
những người lầm đường lạc lối, không ít người cũng do hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị
lừa mị, nếu được đánh thức lòng yêu nước sẽ trở về với Tổ quốc, với đồng
bào.Với một số đồng bào như vậy, Hồ Chí Minh chủ trương: vận động, đánh thức
lòng yêu nước, lương tâm con người Việt Nam để họ tỉnh ngộ và quyay về với con
đường chính nghĩa. Đối với những người đã biệt hối cải, quoay về với Tổ quốc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định luôn mở rộng vòng tay chào đón và họ “sẽ được
hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”[3].
Đồng thời Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể:
“Không được bảo thủ báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta
cần phait dùng chính sách klhoan hồng. Lấy lời khôn, lẽ phải mà bày cho họ”[4].
Tinh thần khoan dung tôn giáo của Người đã lan tỏa trong đồng bào các tôn giáo,
giúp họ nhận thức rõ chính - tả, nâng cao cảnh giác trước kẻ thù; đồng thời lay
động và khích lệ lòng yêu nước của các chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, giúp
nhiều người trong số họ vượt qua mặc cảm, dấn thân phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân
Bên cạnh việc kiên quyết đấu tranh chống lợi
dụng tôn giáo vào mục đích chính trị phản động. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan
tâm đến việc bài trừ mê tín dị đoan, Theo Người: Điều quan trọng đầu tiên là
phải phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa
bảo tồn, phát huy những giá trị thuần phong, mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các
tri thức khoa học.
Theo Người mê tín dị đoan tồn tại rất dai
dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhẫn nại và đặc biệt là phải hết sức khéo
léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân.
Để bài trừ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng, điều quan trọng đầu tiên là phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng nếp sống văn hóa mới, trong đó vừa bảo tồn, phát huy những giá trị thuần
phong mỹ tục, vừa tích cực phổ biến các tri thức khoa học. Mặt khác, theo
Người, mê tín dị đoan tồn tại rất dai dẳng, nên để khắc phục cần kiên trì, nhân
nại và dặc biệt là phải hết sức khéo léo, tế nhị vì nó liên quan đến đời sống
tâm linh của quần chúng nhân dân.
Tóm lại: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
tôn giáo có nội dung rất phong phú và chứa đựng những giá trị khoa học, giá trị
nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của Người được cụ thể hóa trong chính sách “tín
ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” và được hiện thực hóa trong thực tiễn cách
mạng có tác dụng to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết đồng bào các tôn giáo xung
quoanh Đảng, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.