Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

CÁN BỘ CHIẾN DỊCH - CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỮNG VÀ THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Dân tộc và tôn giáo là hiện tượng của xã hội được phát triển lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề rộng lớn và phức tạp, có liên quan trực tiếp đến sự thống nhất và ổn định chính trị- xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia, dân tộc. Nắm vững và thực hiện tốt các vấn đề cơ bản của quan hệ dân tộc, tôn giáo và các quan điểm, giải pháp thực hiện quan hệ dân tộc tôn giáo có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược

                                             

                                              

 

Nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò của hệ thống chính trị trong giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

 


-Phát huy vai trò các cấp uỷ đảng, nhất là vùng DTTS, vùng có đạo trong giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo

Các cấp uỷ Đảng từ trung ương đến cơ sở, nhất là cấp cơ sở vùng DTTS, vùng có đạo quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, quy chế công tác dân tộc, tôn giáo của địa phương. Tập trung lãnh đạo thực hiện tốt các nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc. Kiện toàn nâng cao chất lượng các tổ chức, cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo. Tăng cường lãnh đạo xây dựng cơ sở chính trị vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số; chú trọng phát triển đảng viên trong cộng đồng tôn giáo và dân tộc thiểu số.

-Kiện toàn nâng cao chất lượng các tổ chức, đội ngũ cán bộ trong HTCT các cấp làm công tác dân tộc, tôn giáo.

+Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức về dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, công tác tôn giáo, nhất là ở vùng đồng bào DTTS, vùng tập trung đông đồng bào tôn giáo.

+Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chủ trương….thống qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn cho đội ngũ cán bộ…

-Phát huy vai trò chính quyền trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo

+Lãnh đạo chính quyền làm tốt công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, trong phát triển y tế, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo.

+Nâng cao hiệu quả quản lý đối với tổ chức tôn giáo và hoạt động của các chức sắc tôn giáo; đối với vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự liên quan đến tôn giáo; đối với hoạt động xã hội hoá giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo của các tôn giáo.

Đổi mới tổ chức và phát huy hiệu quả của Mặt trận tổ quốc các đoàn thể….tăng cường công tác kiêm tra giám sát thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo. Tranh thủ người có uy tín…

Bốn là, củng cố quốc phòng, an ninh, chủ động và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc và tôn giáo nhằm kích động quần chúng chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam

-Chủ động ngăn ngữa bạo loạn chính trị do các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và nhân quyền.

+ Phải làm tốt công tác quản lý địa bàn, xây dựng các phương án để chủ động phòng ngừa các hoạt động tôn giáo trái phép.

+Đẩy mạnh tuyên truyền và thực hiện các chương trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

+Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng công an, quân đội với các đoàn thể trong công tác dân tộc, tôn giáo để nắm chắc tình hình, quản lý chặt chẽ đối tượng, sẵn sàng các phương án chủ động đấu tranh ngăn chặn các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch.

+Tranh thủ giáo sỹ, vận động giáo dân thực hiện xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”

-Chủ động vạch trần những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoặc kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo nhằm “tôn giáo hoá dân tộc” của chúng.

-Kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức, các đối tượng có các hoạt động vi phạm pháp luật truyền đạo trái phép, hoặc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động quần chúng, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc.

THỰC HIỆN “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ” GẮN VỚI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh là người cộng sản mẫu mực, luôn thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ nêu ra và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và rèn luyện những phẩm chất “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, hướng lòng mình đến “chí công vô tư” để phụng sự Tổ quốc và nhân dân mà Người còn chính là hiện thân của những phẩm chất cao quý đó. Với Người, từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước đến khi trở thành Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh luôn nỗ lực làm việc và chi tiêu thật tiết kiệm; luôn thích các món ăn dân gian như dưa cà, mắm tép, cá kho và thường tránh các nghi thức đón tiếp linh đình, lãng phí; thường mặc bộ kaki, đi dép lốp cao su, dùng túi vải, mũ cát khi đi thăm đồng chí, đồng bào, kể cả khi đi công tác ngoài nước; thường chọn thăm bếp ăn của công nhân, nơi ở của người dân nghèo; không thích ở nhà của Phủ toàn quyền Đông Dương hay dinh thự cao cấp, đủ tiện nghi mà chọn căn phòng vốn là nơi ở của người thợ điện và sau đó là ngôi nhà sàn kiểu đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc thường sinh sống… Hồ Chí Minh luôn “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” từ trong suy nghĩ đến hành động; từ cuộc sống đời thường đến vị thế một nguyên thủ quốc gia và cho đến lúc đi xa. Lựa chọn cuộc sống cần kiệm, giản dị, chan chứa tình yêu thiên nhiên, không màng danh vọng, không ham của cải, chẳng ưa sự xa hoa và những nghi thức sang trọng, Hồ Chí Minh từng nói, người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng điều quan trọng là phải thiết thực và phù hợp, đúng thời, đúng hoàn cảnh. Người ăn mặc đều giản dị và tiết kiệm và đó là lối sống của Người…và Người đã từng nói với một đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng chân tình rằng: “Này chú! Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy. Đừng bỏ cái phúc ấy đi”[18]… Để góp phần chống nạn đói năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào cả nước nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, nhường cơm, sẻ áo: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”[19]. Không chỉ gương mẫu nhịn ăn, để dành gạo cho vào hũ gạo cứu đói, Người còn bán chiếc áo lụa đồng bào tặng lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét và đem số tiền tiết kiệm ít ỏi vốn là tiền nhuận bút của mình để mua nước ngọt tặng cho các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức năm 1967. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ một hiện vật đặc biệt (đăng ký 4875-Gi-1026) - Đó chính là thư chuyển số tiền 16.000 đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng cục Chính trị để mua thêm nước uống cho bộ đội phòng không trực chiến bên mâm pháo, làm nhiệm vụ bảo vệ bầu trời của Tổ quốc. Món quà của Người tuy nhỏ nhưng đã kịp thời động viên tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sỹ phòng không, giúp họ vượt qua mùa hè nóng nực và lập nhiều chiến công xuất sắc, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ… Tấm lòng, tình yêu thương bao la của Hồ Chí Minh với đồng bào, chiến sỹ không chỉ thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và tu dưỡng mà còn thể hiện đậm nét cuộc sống “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” của Người. Những điều Người nói, những việc Người làm và tấm gương đạo đức cách mạng “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” của Người không chỉ được khẳng định trong thực tiễn mà còn mang ý nghĩa, giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại, dù thế giới đã đi qua bao thăng trầm, thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng những gì Người nói, những việc Người đã làm với tâm hồn thanh cao là biểu hiện sự dung hợp hài hòa những phẩm chất tuyệt vời của một vị lãnh tụ của nhân dân, thuộc về nhân dân trong thời đại mới. Và trong thực tế, rất hiếm người “đạt tới sự thống nhất hài hoà giữa chủ nghĩa nhân đạo và tầm cao chính trị, giữa đức tính giản dị, khiêm tốn và sự hiểu biết sâu rộng, giữa tình cảm ấm áp và nghị lực phi thường đến mức tuyệt vời như Bác Hồ. Được gặp Người, quả thật là một điều sung sướng, vinh dự, một diễm phúc trong đời”[20]. Vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh là yêu cầu tất yếu mà mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng và thường xuyên rèn luyện để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, đó cũng là một trong những tiêu chuẩn để phân loại, đánh giá quá trình phấn đấu của mỗi người trong công tác và sinh hoạt đời thường. Với ý nghĩa đó, việc triển khai Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” những năm qua đã góp phần tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ngày 12/11/2013, Tổng thống Liên Bang Nga V. Putin đã đến Hà Nội thăm chính thức Việt Nam. Ông đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm: "Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”. Thực tế cho thấy, tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng lĩnh vực công tác, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã gắn việc rèn “tứ đức” với nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII); đặc biệt là tự soi mình và nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ trong quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mỗi cán bộ, đảng viên tại địa phương, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện nhiều tấm gương tập thể và cá nhân điển hình, được biểu dương trên các phương tiện truyền thông... Mỗi con người, mỗi tập thể mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” đã góp phần xây dựng những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, lao động sáng tạo, tạo động lực đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua mọi khó khăn thách thức, tiếp tục giành được những thành tựu mới. Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" sa vào quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, chạy chức chạy quyền, độc đoán, vi phạm kỷ luật,... Trong số đó, có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao vì thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, không thực hành "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" mà phạm tội dẫn đến bị khai trừ khỏi Đảng, truy tố trước pháp luật. Sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của những "con sâu mọt" ấy đã làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, làm suy yếu tổ chức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng... Vì vậy, tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 theo chương trình toàn khóa và theo chủ đề hằng năm gắn với thực hiện di huấn của Người trong Di chúc về “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta; trong đó, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau: Một là, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng về vai trò, ý nghĩa của việc thấm nhầm yêu cầu phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng trong cả hệ thống chính trị; đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc. Gắn thực hiện Chỉ thị 05 với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, coi đây là giải pháp đột phá để việc tự soi, tự sửa, tự rèn luyện đạo đức cách mạng nói chung, “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH” nói riêng trở thành việc là thường xuyên, liên tục của mỗi cán bộ, đảng viên. Hai là, tiếp tục thực hiện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, có những chuyên đề cụ thể về ““cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc “CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH”, tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Ba là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân. Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta”[21] trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với yêu cầu phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo Bác, tự giác rèn luyện “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” trở thành việc làm hằng ngày, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá xã hội nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo.

 


- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là vùng đồng bào DTTS, vùng đồng bào có đạo

+Đẩy mạnh đầu tư phát triển toàn diện kinh tế- xã hội, nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, giảm nghèo nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, các vùng, bảo vệ môi trường.

+Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập, làm dịch vụ cho hộ gia đình các dân tộc, tôn giáo nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với tập quán, trình độ phát triển của mỗi tộc người, tiềm năng lợi thế của từng địa phương và từng vùng.

-Hoàn thiện hệ thốmg kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân

+ Tập trung vào những nơi nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống chính sách hạ tầng cấp thôn/bản hoặc cụm thôn/bản.

+Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, các bản, làng, nhất là các xã vùng biên giới tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống.

-Giải quyết một cách căn bản tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu đất ở

 + Tập trung trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây nam Bộ và tình trạng di dịch cư tự do ở miền núi phía Bắc.

+ Tổ chức sắp xếp lại các nông, lâm trường quốc doanh theo hướng thu hút đồng bào dân tộc, tôn giáo tại chỗ tham gia, kiên quyết giải thể các nông, lâm trường làm ăn kém hiệu quả, giao đất, giao rừng cho đồng bào quản lý.

-Kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh vùng dân tộc, tôn giáo

+Xây dựng vùng kinh tế đường biên giới trên đất liền.

+Xây dựng các khu kinh tế quốc phòng,

+Tham gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các địa bàn xung yếu, trọng điểm.

+ Phát huy tiềm năng và nguồn lực trên các địa bàn chiến lược, đồng thời làm cơ sở chỉ đạo, quản lý việc xây dựng theo quy hoạch vùng.

-Bảo tồn và phát huy, phát triển các giá trị văn hoá dân tộc, tôn giáo.

+Đầu tư các nguồn lực, nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục lại bản sắc văn hoá truyền thống của các tộc người,

+ Phát huy các giá trị văn hoá, đạo đức, tích cực của tôn giáo trong phát triển bền vững trên cơ sở có sự tham gia, chọn lựa và quyết định từ phía cộng đồng các tộc người cũng như phù hợp trong đa dạng của văn hoá quốc gia.

+ Tăng cường tổ chức giao lưu văn hoá các dân tộc và tôn vinh các giá trị văn hoá tộc người, tôn vinh các giá trị văn hoá tôn giáo để khơi dậy lòng tự hào về văn hoá của dân tộc, tôn giáo mình, đồng thời tôn trọng sự khác biệt văn hoá giữa các tộc người và giữa các cộng đồng khác đức tin tôn giáo.

-Tăng cường đầu tư xây dựng và củng cố các thiết chế văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo.

+Chú trọng đầu tư xây dựng các chương trình nội dung, thông tin bằng ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số và bằng nhiều hình thức đa dạng và phương pháp phù hợp với vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo tập trung.

+Nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết, giải quyết tình trạng mũ chữ, tái mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo.

+Nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo,quan tâm xây dựng hệ thống trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

+Tăng cường đầu tư, cải thiện điều kiện dạy và học, thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo, dạy nghề trên cơ sở đổi mới nội dung, cơ chế quản lý và nội dung, phương thức đào tạo cho phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số, và có đông đồng bào tôn giáo.

-Cải thiện các điều kiện dịch vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiẻu số, đồng bào tôn giáo. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình cung cấp nước sạch và dịch vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.

Không ngừng nâng cao nhận thức về vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo vì sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.

 


-Thống nhất nhận thức, tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở về tầm quan trọng chiến lược của vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước ta trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, nhất là vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong công tác dân tộc, tôn giáo.

+Thống nhất nhận thức quan điểm của Đảng, tập trung những vấn đề:

> Đồng bào các dân tộc là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam;

>Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.

>Công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng, vì vậy cần có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến địa phương về công tác dân tộc và công tác tôn giáo.

- Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo cho cán bộ đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là tại các vùng có đông đồng bào dân tộc, đồng bào theo tôn giáo.

-Trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, cần có thái độ đúng đắn và phương pháp phù hợp không được kỳ thị, thành kiến với tôn giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số.

-Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc trong khuôn khổ chính sách, pháp luật.

-Chủ động quan tâm giải quyết nhu cầu chính đáng, hợp pháp của đồng bào các dân tộc, đồng bào tôn giáo.

-Tích cực vận động đồng bào các dân tộc, tôn giáo đoàn kết, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.

-Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản về chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức về dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tập trung đồng bào tôn giáo.

-Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, thường xuyên cập nhật kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân tộc, tôn giáo thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn để đảm bảo có đủ bản lĩnh và kiến thức chuyên môn trong giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo.

-Coi trọng giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo và tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn dân trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương đồng; khơi dậy ý thức tương trợ, ý thức đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; tăng cường hợp tác, đối thoại giữa các dân tộc, các tôn giáo vì sự ổn định và phát triển của đất nước.

-Thường xuyên quan tâm nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo và tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu chính đáng của đồng bào.

-Tập trung chỉ đạo, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vấn đề liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo như vấn đề đất đai, đất sản xuất… cho đồng bào các dân tộc, các tranh chấp, khiếu kiện có nguồn gốc tôn giáo.

Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vào mục đích chính trị

 


Trong các mối quan hệ xã hội thì quan hệ dân tộc, tôn giáo và nhân quyền là những quan hệ hết sức nhạy cảm, giữa chúng có sự tác động tương hỗ, thống nhất với nhau không tách rời, đồng thời quy định lẫn nhau.

 Do vậy việc giải quyết tốt mối quan hệ này là nhằm đảm bảo cho các dân tộc trong quốc gia những quyền cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo. Song quyền phải gắn liền với pháp luật, bởi vì bản thân quá trình xây dựng các quyền con người phải căn cứ trên cơ sở pháp luật, đồng thời pháp luật chỉ có ý nghĩa tiến bộ và có giá trị khi nó phản ánh và bảo vệ các quyền chính đáng của con người. Nói cách khác, pháp luật không chỉ là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước, mà đồng thời là điều kiện và giới hạn để đảm bảo cho quá trình thực thi các quyền của con nguời không bị biến dạng và lạm dụng, từ đó hạn chế những biểu hiện hỗn loạn, vô chính phủ. Do vậy đảm bảo quyền của các dân tộc, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng chính là đảm bảo thực hiện các nội dung cốt yếu của quyền con người trong khuôn khổ của pháp luật.

 Trong hệ thống quyền con người, quyền kinh tế là quan trọng nhất  và là điều kiện để thực hiện các quyền khác của con người, trong đó có quyền tự do, tín ngưỡng và quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Khi điều kiện kinh tế còn kém không thể thực hiện được một cách hoàn thiện. Do vậy phát triển kinh tế là điều kiện căn bản nhất để thực hiện quyền của con người, quyền của các dân tộc và tín đồ tôn giáo. Khẳng định điều này C.Mác viết: “quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”

Trên thực tế, sự yếu kém trong phát triển kinh tế, sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống…giữa các nhóm người, giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, của đồng bào tín đồ là một trong những nguyên nhân căn bản làm nảy sinh vấn đề bức xúc, những mâu thuẫn lớn, thậm trí là những xung đột trong quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nhiều nơi. Đó là điều kiện thuận lợi để tôn giáo phát triển và các thế lực thù địch lợi dụng để gây thù hằn, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc. Do vậy, phải “thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi, kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta”.

 Mặt khác dân tộc và tôn giáo luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam.

Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm sau:

- Quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân: Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Người có tín ngưỡng tôn giáo và không có tín ngưỡng tôn giáo phải tôn trọng nhau; nhà nước bảo dảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật

- Quyền các dân tộc:

+ Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết (phát huy dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội). Kiến quyết đấu tranh với âm mọi mưu chia rẽ dân tộc, tình đoàn kết dân tộc).

+ Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc.

+ Kiến quyết đấu tranh chống âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

Cần tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; làm tốt công tác vận động quần chúng, đẩy mạnh tuyên truyền và thực hiện các chương trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo luôn phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia- dân tộc thống nhất theo định hướng XHCN ở Việt Nam

 


 Thứ nhất: Từ mục tiêu sự nghiệp cách mạng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

- Thứ hai, tôn giáo và dân tộc là hai vấn đề rất nhạy cảm. Những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo nếu không được giải quyết một cách thỏa đáng sẽ dẫn tới nguy cơ mất ổn định chính trị, xã hội, dễ tạo cớ cho các thế lực chính trị, xã hội bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước.

-Thứ ba, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo. Các dân tộc thiểu số sinh sống tại nhiều địa bàn có vị trí chiến lược của đất nước. Vì vậy vấn đề dân tộc ở Việt Nam luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo.

- Thứ tư, các thế lực thù địch chống phá: Việc lợi dụng vấn đề dân tộc, gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo của các thế lực phản động, thù địch đã gây nên nhiều bất ổn cho an ninh chính trị, gây nên nhiều khó khăn, phức tạp cho công tác quản lý nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo, đồng thời cản trở mục tiêu con đường phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm sau:

Việc giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải tuân thủ theo nguyên tắc: giải quyết vân đề tôn giáo trên cơ sở vấn đề dân tộc, tuyệt đối không được lợi dụng vấn đề tôn giáo đòi ly khai dân tộc, hay chia rẽ khối đoàn kết dân tộc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, mà phải đảm bảo giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước “tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”- Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Không mắc mưu luận điệu cho rằng phòng, chống tham nhũng là để “xoa dịu dư luận”

`Ngay sau phiên họp thứ 16 của Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng tổ chức cuối tháng 7-2019, một số phần tử chống đối, bất mãn chính trị “phát biểu” văng mạng trên báo, đài nước ngoài, mạng xã hội, cho rằng: Phòng, chống tham nhũng là để “xoa dịu dư luận”, là cớ để các phe, nhóm “đấu đá” quyền lực. Để không mắc mưu, cán bộ, đảng viên phải tiếp tục nắm chắc thông tin, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; giải thích cho nhân dân hiểu rõ bản chất của vấn đề. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng họp chỉ đạo Phiên họp thứ 16 Ban chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng 1. Xưa nay, xã hội không lạ gì những đối tượng ra sức chống phá Đảng và Nhà nước chỉ nhằm một mục tiêu là hướng lái Việt Nam từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng ta. Trong khi Đảng, Nhà nước đang đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng thì luận điệu của những đối tượng này vẫn vậy. Một giảng viên đại học nghỉ hưu đã trả lời phỏng vấn Đài RFA ngày 29-7 rằng, việc Đảng xử lý kỷ luật một số cán bộ, đảng viên như hiện nay chỉ là bề nổi, nhằm mục đích “xoa dịu dư luận”. Ông này phân tích, các quan chức “coi trời bằng vung” có ở khắp Việt Nam nên việc xử lý của Đảng chỉ như muối bỏ biển và mang tính đấu đá phe nhóm, nhằm chiếm quyền, đoạt ghế. Ngoài ra, ông ta “dẫn chứng” về biểu hiện “tư bản thân hữu” thông qua việc một số chủ doanh nghiệp vênh vang, đe dọa người tố cáo những biểu hiện vi phạm pháp luật. Đối tượng này lấy ngay trường hợp lãnh đạo Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại dịch vụ Đất Lành Vũ Anh Cường có hành vi sàm sỡ hành khách nữ trên máy bay làm ví dụ, dù không đưa ra được căn cứ chứng minh người này có mối quan hệ thân thiết với cán bộ nào. Hay nhân việc bị can Trần Bắc Hà (nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị, nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam) tử vong trong khi bị tạm giam, các đối tượng xấu lại tung tin và đặt điều vu khống là do phe cánh đấu đá nên phải “giết người diệt khẩu”... Một nhân vật tự xưng là “nhà báo tự do” đang sống ở Khánh Hòa thì khẳng định với RFA rằng, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước thì tham nhũng, xấu xa, hư hỏng về đạo đức của “quan cách mạng” vẫn còn dài dài và việc làm của Đảng ta thời gian qua cũng chỉ như “dã tràng xe cát Biển Đông”… Có thể nói, tất cả những bình luận, quan điểm mà các phần tử chống đối, bất mãn chính trị đưa ra khi trả lời báo, đài nước ngoài, viết trên mạng xã hội… đều thiếu chứng lý thuyết phục, mang tính quy chụp, cố tình không thấy hết những nỗ lực của toàn Đảng trong công cuộc phòng, chống “giặc nội xâm”. Trong các thông tin đưa ra, các đối tượng này luôn lộng ngôn: Việt Nam muốn tiến lên, nhân dân muốn có cuộc sống giàu có thì phải mở rộng dân chủ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và tam quyền phân lập... Thủ đoạn đó cũng chẳng có gì mới và đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII): Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược "Diễn biến hòa bình", lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn… 2. Thực tế cho thấy, việc phòng, chống tham nhũng không chỉ có ở Việt Nam mà diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới, bởi tham nhũng là “con đẻ quái thai” của bất kỳ chế độ và nhà nước nào. Ngay như Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), nơi những “nhà dân chủ”, “nhà báo tự do” tự phong bất mãn trong nước rất sủng ái cũng xảy ra rất nhiều vụ tham nhũng. Gần đây nhất, các cơ quan chức trách Mỹ đã điều tra, phát hiện Glenn Francis, chủ Công ty Glenn Defense Marine Asia hối lộ lực lượng hải quân nước này với số tiền lớn trong thời gian dài. Trong đó, cựu chỉ huy Troy Amundson, người nắm quyền kiểm soát các cuộc tập trận của hải quân Mỹ từ tháng 5-2005 tới tháng 5-2013 đã thừa nhận việc nhận tiền hối lộ và phải đối diện với mức án 5 năm tù. Hay theo báo cáo về tham nhũng của đảng Xanh châu Âu vào cuối năm 2018, các quốc gia thành viên EU mất tới 900 tỷ euro (khoảng 1.000 tỷ USD) mỗi năm vì tham nhũng. Trước đó, vào năm 2014, EU xác định tham nhũng gây thiệt hại khoảng 120 tỷ euro mỗi năm… Như đã biết, trong công tác phòng, chống tham nhũng, Đảng ta đã có chủ trương xử lý thông qua nhiều nghị quyết, chỉ thị và quy định. Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng và đã sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn cùng nhiều văn bản liên quan khác. Từ sau Đại hội XII tới nay, với chủ trương xử lý tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; cuộc chiến phòng, chống tham nhũng đã thu được kết quả tốt, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Theo thống kê, từ đầu nhiệm kỳ khóa XII tới nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức Đảng và 35.000 đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái. Ngoài ra, có hơn 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị thi hành kỷ luật Đảng và xử lý hình sự. Không ít những người này bị kỷ luật do có liên quan đến tham nhũng và con số này chắc chắn chưa phải là kết quả cuối cùng… Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về phòng, chống tham nhũng (tháng 6-2018), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng khẳng định: Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”... Việc nguyên Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh và nhiều nguyên lãnh đạo cấp cao khác bị kỷ luật cho thấy quyết tâm và tính hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận, là tham lam, là trộm cướp”. Còn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng thì khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả những người là lãnh đạo, quản lý thiếu tu dưỡng, rèn luyện, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, tham nhũng”. Như vậy, mấu chốt của tham nhũng là do chủ nghĩa cá nhân phát tác và hệ thống pháp luật kiểm soát quyền lực chưa tốt. Đó là hành vi phản đạo đức, đi ngược lại bản chất của chế độ chính trị chứ không phải do thể chế chính trị sinh ra. Muốn có một bộ máy nhà nước tinh, gọn, mạnh như nghị quyết Đảng gần đây đã xác định thì việc quyết liệt phòng, chống tham nhũng là đương nhiên, không phải bàn cãi. Ở Việt Nam hiện nay, phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” thực sự chứ không phải là chiêu trò “xoa dịu dư luận” hoặc đấu đá phe nhóm quyền lực như những đối tượng bị “ngáo” bởi tư tưởng dân chủ phương Tây vẫn huyễn hoặc, lừa bịp dư luận. Rõ ràng, đây là những âm mưu thâm độc, nguy hiểm với phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi và mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần phải đề cao cảnh giác, nhận diện, kiên quyết đấu tranh./.

Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam.

 


Xuất phát từ mục tiêu cách mạng XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn thực hiện được mục tiêu đó chúng ta phải xây dựng động lực to lớn thúc đẩy phát triển xã hội, đó là sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.

Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ sự nghiệp đổi mới và kinh nghiệm các nước trên thế giới về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo.

Xuất phát từ thực trạng thực hiện mối quan hệ dân tộc và tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.

Từ sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng thời gian qua.

Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm như sau:

- Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối sử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, đồng thời phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước.

- Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải luôn là môi trường, điều kiện thuận lợi nhất cho tất cả các dân tộc, các tôn giáo được tự do phát triển theo đúng quy định của pháp luật, phát huy mọi nguồn lực, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH.

 Do vừa là nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách, thực tiễn này đặt ra yêu cầu: Mỗi giai đoạn lịch sử, việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo cần có cách tiếp cận, lựa chọn ưu tiên giải quyết phù hợp với bối cảnh, tình hình của giai đoạn đó; đồng thời phải luôn nhận diện đầy đủ và giải quyết một cách hiệu quả, kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong mối quan hệ dân tộc và tôn giáo.

Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền… để chống phá cách mạng Việt Nam, tác động xấu đến mối quan hệ dân tộc, tôn giáo.

 


Các thế lực thù địch thường xuyên, triệt để lợi dụng những điều kiện mới của thế giới, vấn đề dân tộc và các động thái tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng chính trị với âm mưu tạo ra những “điểm nóng” gây mất ổn định xã hội, kích động chủ nghĩa dân tộc, khơi dậy tư tưởng chia tách dân tộc, đòi tự trị, ly khai…Đây là một trong những vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo ở nước ta, từ Miền Núi Phía Bắc, Miền Tây Thanh Hoá - Nghệ An, Tây Nguyên đến Tây Nam Bộ.

Hiện nay tại một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm, khu vực biên giới nước ta, bằng nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau, núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, quyền của người bản điạ”, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, những hạn chế trong thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta để tập hợp lực lượng, tuyên truyền xuyên tạc, kích động tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhằm thực hiện ý đồ phá hoại tính cố kết nội bộ tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta.

Hoạt động tôn giáo ở một số khu vực vùng dân tộc thiểu số như Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ…đặc biệt ở các tuyến biên giới, Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Cam Phu Chia còn có biểu hiện chưa tuân thủ pháp luật, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đi ngược lại với lợi ích quốc gia. Các hoạt động chống phá này thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: lợi dụng mê tín để mê hoặc quần chúng, lừa đảo, trục lợi, hành nghề trái phép gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân; làm mất ổn định về đời sống sinh hoạt và sản xuất của đồng bào.

 Sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền đạo trái phép.

Trong những năm gần đây các thế lực phản động tăng cường đổi mới thiết bị, cải tiến kỹ thuật, gia tăng thời lượng phát sóng bằng tiếng dân tộc, thông qua mạng Intenet, thông qua các cuộc hội thảo, các diễn đàn…để đẩy mạnh việc truyền đạo trái phép, tuyên truyền một số đạo lạ ở nhiều địa phương trong cả nước, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Qua đó chúng đẩy mạnh hoạt động phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và tôn giáo; kích động quần chúng đòi tự do tôn giáo, đòi li khai dân tộc… gây mất trật tự an ninh ở khu vực cả nước.

Lợi dụng những sơ hở, sai sót trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của ta để can thiệp chính trị.

 Những năm qua nhiều địa phương thực hiện chủ trương thu hồi, đền bù đất, giải phóng mặt bằng để phục phụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là quá trình tất yếu phải thực hiện. Tuy nhiên những xai sót trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở không ít nơi làm cho nhu cầu sinh hoạt ở nhiều địa phương chưa được đáp ứng đầy đủ, đời sống vật chất của nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có đông tín đồ. Những xai phạm này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, một mặt làm suy giảm niềm tin của dân đối với Đảng, đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặt khác các thế lực xấu và thù địch đã lợi dụng triệt để vấn đề này để kích động quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền.

Vụ hàng trăm giáo dân thuộc giáo xứ  Mỹ yên, xã Nghi phương, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nổi dậy gây rối trong các ngày 4/9/2013 là một ví dụ điển hình.

Tuyên truyền, tác động để thực hiện việc chuyển hoá chế độ chính trị ở nước ta; kích động tâm lý kỳ thị, hẹp hòi, cực đoan, chia rẽ dân tộc; hình thành các tổ chức phản động của người dân thiểu số ở nước ngoài để tác động vào trong nước; lợi dụng việc nghiên cứu văn hoá, du lịch, tăng cường thâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; tuyên truyền và kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập các vùng dân tộc tự trị như “Vương quốc Mông tự trị”. “Nhà nước Đề Ga tự trị”, “Nhà nước Kherme Crôm”

Các thế lực thù dịch và chủ nghĩa đế quốc đã thông qua con đường du lịch, thăm thân, qua các hoạt động từ thiện…để thăm dò, khảo sát tình hình và phát tán các tài liệu, ấn phẩm có nội dung truyền đạo phản động vào các vùng dân tộc ở khu vực Miền Núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên. Tăng cường hoạt động xâm nhập vũ trang; xâm canh lấn chiếm; xuất nhập cảnh, khai thác vận chuyển khoáng sản, lâm sản trái phép, buôn bán trái phép; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hạ tầng ở vùng biên giới, phát triển kinh tế mậu biên; đưa dân ra định cư ở các xóm giáp biên; duy trì hoạt động quân sự, tuần tra, kiểm soát biên giới…để tiếp tục “cường biên” . Thậm trí, chúng thông qua các cơ quan đại diện hợp pháp ở Việt Nam và qua các tổ chức tôn giáo để theo dõi tình hình tôn giáo ở nước ta, tìm ra những sai sót sơ hở của ta để can thiệp về chính trị, vu cáo ta “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”, từ đó chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, kích động quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền, gây sức ép với cán bộ và gây áp lực buộc ta phải thừa nhận tư cách pháp nhân của một số tôn giáo mới.

- Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo trong nuớc để phát triển đạo trong vùng dân tộc thiểu số, bao gồm cả các tà đạo và cả số lượng người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt đọng tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam.

Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và những diễn biến phức tạp trong quan hệ dân tộc, tôn giáo từ bên ngoài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam.

 


Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Điều này một mặt giúp cho chúng ta có thể tiếp cận và tiếp thu những thành tựu từ các nước, vận dụng phù hợp và sáng tạo để phát triển nhanh, song mặt khác nó cũng đặt ra rất nhiều thách thức, nguy cơ mà Việt Nam phải tỉnh táo vượt qua, kể cả những tác động trong vấn đề dân tộc và tôn giáo đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới.

-Những căng thẳng tôn giáo và sắc tộc sẽ trở nên trầm trọng hơn khi có sự can thiệp chính trị từ bên ngoài của đất nước.

Ví dụ: Những xung đột sắc tộc, tôn giáo tại Li Ban từ những năm 1975, 1990 đã trở thành cuộc nội chiến kéo dài hơn hai thập kỷ; hay những xung đột sắc tộc, tôn giáo dai dẳng tại khu vực Trung Đông, với những can thiệp quân sự từ bên ngoài; hoặc xung đột sắc tộc, tôngiáo tại khu vực Tân Cương, Tây Tạng của Trung Quốc v.v… làm cho những khu vực này luôn trong tình trạng bất ổn.

>Từ thực tế này cho thấy, coi trọng giải quyết mối quan hệ dân tộc, tôn giáo là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo như Việt Nam, bởi vì nó là vấn đề rất nhạy cảm và dễ bị lợi dụng, dễ tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.

Chủ trương phát triển nhanh tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số của các tổ chức tôn giáo ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước ta

 


Mặt tích cực

Phật giáo: Đạo pháp- dân tộc- CNXH; Công giáo: Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục phụ hạnh phúc của đồng bào; Tin lành: Phụng sự thiên chúa, phụng sự Tổ quốc; Cao đài: Nước vinh- đạo sang; Hoà hảo: Vì đạo pháp, vì dân tộc. Với các  đường hướng hành đạo mới, đồng bào các tôn giáo trên phạm vi cả nước đã tự giác, tích cực hiện thực hoá đường hướng hành đạo của tôn giáo mình, đồng thời đã góp phần to lớn cùng dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc nói riêng đã tạo nên nhiều thành công trong công cuộc đổi mới đất nước. Đặc biệt theo xu hướng hiện nay, các tín đồ, chức sắc tôn giáo đã nhập thế tích cực, không bó hẹp đời sống đạo trong các cơ sở thờ tự mà dấn thân, nhập cuộc vào xã hội, nhất là vào các vùng DTTS cùng với Đảng, Nhà nước và với cộng đồng các dân tộc giải quyết các vấn nạn xã hội, thực hiện an sinh xã hội…

Đảng nhà nước ta luôn tôn trọng đức tin của đồng bào tôn giáo và luôn mong muốn cho người dân có đạo được “ phần xác no ấm, phần hồn thong dong”

 Mặt tiêu cực

+Việc thay đổi đường hướng hành đạo và chủ trương phát triển nhanh tôn giáo trong vùng DTTS của các tổ chức tôn giáo cũng có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng ở nước ta.

 Những năm gần đây tôn giáo Việt Nam có điều kiện phát triển mạnh, gắn với sự đa dạng về hình thức (hiện nay có 14 tôn giáo, với 42 tổ chức giáo hội, ngoài ra còn nhiều tổ chức chưa được công nhận những vẫn hoạt động). Trong tương lai con số này chắc chắn sẽ không dừng lại. Sự đa dạng còn được thể hiện trong sự phong phú của thành phần tín đồ tôn giáo gồm rất nhiều tầng lớp, thành phần xã hội, và thể hiện trong sinh hoạt tôn giáo nhọn nhịp ở hầu hết các tôn giáo.

Trong xu thế mở rộng giao lưu dân tộc, một số tôn giáo mới sẽ có điều kiện tiếp tục phát triển nhanh gây xáo trộn, phức tạp, nhất là trong vùng DTTS.

+Đối với các tôn giáo đang hoạt động một cách hợp pháp cũng có các phương thức, cách thức, biện pháp nhằm không ngừng mở rộng phạm vi tác động, gia tăng ảnh hưởng và thực hiện thu hút, vận động lôi kéo, phát triển tín đồ

+ Các tôn giáo mới (chưa được pháp luật công nhận), đặc biệt là sự tham gia của các tà đạo. Cùng với các tà đạo đã và đang nén nút hoạt động, sẽ có thể xuất hiện các tà đạo mới trong vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa. Không ít các tôn giáo đã và đang làm đảo lộn trật tự xã hội truyền thống, làm sói mòn và thương tổn nặng nề đối với nền văn hóa truyền thống của các DTTS, ảnh hưởng, thậm trí làm biến đổi tư tưởng, tình cảm, tâm lý trong một bộ phận đồng bào theo đạo, tạo ra nhiều thách thức đối với quá trình giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dồng bào dân tộc.

+ Sự tồn tại và và phát triển của tôn giáo mới ở một bộ phận đồng bào DTTS đã gây nên tình trạng chia rẽ dân tộc, gây mâu thuẫn giữa người theo đạo và người không theo đạo, mâu thuẫn giữa tín ngưỡng đa thần và tôn giáo độc thần, từ đó tạo cơ hội cho các thế lực xấu, các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng làm mất ổn định chính trị- xã hội, chia rẽ tình đoàn kêt dân tộc, đoàn kêt tôn giáo.

+ Hoạt động in ấn, xuất bản, nhập các ấn phẩm, sách báo tài liệu…từ nước ngoài và lưu hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo trái phép; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái phép; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái pháp luật tiếp tục diễn ra ở vùng đồng bào DTTS, vùng biển giới.

+ Mặt khác tình hình di cư, dịch cư tự do của đồng bào DTTS trong đó có cả lý do tôn giáo và diễn biến phức tạp khó kiểm soát, nhất là trong vùng đồng bào DTTS vùng núi Tây Bắc và Tây Nguyên (ví dụ vấn đề Tin Lành Vàng Chứ xưng vua trong người Mông, Tin Lành Đề ga vùng Tây Nguyên)

+ Các hoạt động tôn giáo phức tạp, vi pham pháp luật làm phương hại trực tiếp, có khi nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào tôn giáo.

Điển hình là các vụ khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo: xin đòi lại đất, cơ sở thờ tự có nguồn gốc tôn giáo đã giao cho nhà nước quản lý. Hiện tượng lấn chiếm hiến tặng, chuyển nhượng đất trái pháp luật của các nhân tín đồ tôn giáo cho các cơ sở tôn giáo diễn ra khá nhiều, có chiều hướng gia tăng. Một số việc làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết tôn giáo, dân tộc đã sảy ra thời gian qua, như vụ đòi đất ở 42 Nhà Chung, Quận Hoàn Kiếm và 178 Nguyễn Lương Bằng, Quận Đống Da Hà Nội; vụ Nhà thờ Công Giáo Tam Tòa, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; vụ Cồn Dầu Thành phố Đà Nẵng; vụ việc liên quan đến dất dai Công Giáo ở Đan viện Thiên An, thừa Thiên Huế, vụ việc ở nhà thờ Tin Lành Phú Phong, tỉnh Bình Định v.v…

(Hiện nay, theo thống kê, kiện cáo, diễn ra tại 55 tỉnh, có 651 vụ, giải quyết được 382 vụ, trong đó kiện về nhà đất khoảng 70% số vụ) Tây Nguyên: 539 vụ, có 534 vụ trái pháp luật (Công giáo 65,1% số vụ, lấn chiếm khoảng 2 triệu m2 đất)

+Sự mất đoàn kết nội bộ, hay xuất hiện tư tưởng ly khai trong một số tổ chức tôn giáo v.v…

Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về dân tộc, tôn giáo là hành lang pháp lý cho thực hiện quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam


Việt nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Chính sách nhất quán của Đảng ta là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”; đồng thời “phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo. Chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trong thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và tôn giáo có nhiều đổi mới được thể hiện qua các văn bản:

Nghị quyết 24- NQ/TW 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới;

Chỉ thị 37 CT/TW 2/7/98 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới;

Nghị quyết 25- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về công tác tôn giáo;

Nghị quyết 24- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về công tác dân tộc;

Luật tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội thong qua năm 2016;

Chỉ thị số 18- CT/TW 10/1/2018 của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết 25-NQ/TW 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Những chủ trương quan điểm mới của Đảng về vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo hành lang pháp lý, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đồng thời là cơ sở và điều kiện để các tôn giáo, cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập đều có xu hướng hòa đồng, biến đổi, thích ứng, phù hợp với văn hóa, tâm thức dân tộc để tồn tại và phát triển.

Những chủ trương, chính sách pháp luật về vấn đề dân tộc, tôn giáo đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết những mâu thuẫn giữa giáo luật với pháp luật của Nhà nước. Về cơ bản, các tôn giáo đều tự giác thực hiện trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và cộng đồng dân tộc, trong đó có lợi ích của tôn giáo mình. Vì vậy tuy có nhiều dân tộc và tôn giáo tồn tại, nhưng không có xung đột, chiến tranh tôn giáo.

 Tuy nhiên trên thực tế, dù chủ trương chính sách đúng đắn, pháp luật được hoàn thiện, nhưng nếu thực hiện không nghiêm, không tốt thì việc giải quyết mối quan hệ DT-TG cũng không hiệu quả, thậm trí gây xung đột, những điểm nóng CT-XH

Ví dụ: Chủ trương xây dựng thuỷ điện, phát triển kinh tế nâng cao đời sống nhân dân là chủ trương đúng, nhưng khi triển khai, có một số mặt tổ chức thực hiện không tốt dẫn đến nhiều hệ luỵ cho nhân dân vùng DTTS. Chẳng hạn như chính sách di dân để giải phóng mặt bằng để xây dựng thuỷ điện, nhiều chính sách không phù hợp, như: nhà ở tập trung thành khu, thành dãy; nơi ở cách nơi làm đồng xa…làm cho phần đông đồng bào không ở được ở nơi mơí, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng với chính quyền. Hoặc trong quản lý rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh còn lỏng lẻo của chính quyền địa phương, nhất là cấp Tỉnh, cấp Huyện, dẫn đến rừng bị mất, bị phá, bị tự nhiên hoá, là một trong những nguyên nhân làm thay đổi khí hậu, làm giảm khả năng ngăn lũ, gây nên nhiều đợt lũ ống, lũ quét ở vùng DTTS.

Việc thực hiện chủ trương…là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị- xã hội. 

Việt Nam có địa chính trị, kinh tế, văn hoá thuận lợi cho việc giao thương với các nước để phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá…

 


Quốc gia của chúng ta, biên giới giáp Vịnh Thái Lan ở phái Nam, vịnh bắc bộ và biển đông ở phái Đông, Trung Quốc ở phái Bắc; Lào và Cămpuchia ở phái Tây, với đường bờ biển 3260 km (không kể các đảo), diện tích vùng biển thuộc chủ quyền khoảng 1 triệu km…

Do vậy trong lịch sử phát triển, nền văn hoá dân tộc Việt Nam đã giao lưu, du nhập và tiếp biến nhiều nền văn hoá và tôn giáo của các nước trên thế giới. Các tôn giáo các nền văn hoá đã hoà đồng, khoan dung với hệ thống tín ngưỡng và văn hoá truyền thống, đóng vai trò quan trọng việc hình thành mối quan hệ dân tộc, tôn giáo chi phối sâu sắc đạo đức, lối sống của người Việt Nam, làm giàu và phong phú thêm các giá trị văn hoá truyền thống và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc.

Tuy nhiên, nó cũng tác động khiến cho mối quan hệ dân tộc, tôn giáo thêm nhạy cảm, phức tạp và dễ bị lợi dụng để thực hiện những mục tiêu không trong sáng, không có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trước những xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay. Trong tình hình hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, các tôn giáo có điều kiện hội nhập vào Việt Nam, một mặt chúng ta hội nhập được những tinh hoa văn hóa thế giới, những nét đẹp của tôn giáo thế giới, nhưng mặt khác sẽ có nhiều vấn đề tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam.

- Nước ta có địa lý đa dạng, phức tạp

 Địa lý nước ta gồm các vùng đồng bằng, trung du, vùng rừng, núi cao và hải đảo; lại thêm đường biên giới kéo dài là chung đường biên giới với nhiều nước. Đại bộ phận đồng bào các dân tộc thiếu số nước ta sinh sống ở các vùng rừng núi cao , vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đây là những vùng có địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, môi trường sống không thuận lợi cho phát triển, đây là mảnh đất màu mỡ để cho việc truyền đạo trái phép.

Hiện nay chúng ta có 63 tỉnh thành, có 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có miền núi, 42 tỉnh thành phố có địa bàn rừng núi cư trú chủ yếu là các DTTS, chưa kể 12 tỉnh đồng bằng có DTTS (Chăm, khơ me, Hoa)

-Trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội

+Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay vẫn dứng trước những khó khăn của sự phát triển.

Đó là tình trạng phát triển không đều giữa các dân tộc, điều kiện địa lý phức tạp, giao thông khó khăn, dân cư phân tán, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất thấp, nguồn nhân lực thiếu và yếu, sức hấp dẫn để thu hút đầu tư trong nước và quốc tế hạn chế…vì vậy đời sống của một bộ phận khá lớn đồng bào DTTS, tín đồ tôn giáo còn gặp rất nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo, tái nghèo trong đồng bào DTTS, đồng bào tôn giáo còn cao; chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch về trình độ phát triển văn hóa, xã hội… giữa miền núi và miền xuôi, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số có xu hướng gia tăng; một số vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh.

Những yếu kém trong phát triển kinh tế tất yếu sẽ tác động dẫn tới hạn chế trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo…đây là nguyên nhân làm nảy sinh những bức xúc, mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc, tôn giáo…đồng thời là cớ để địch chống phá.

- Các thiết chế xã hội còn đơn giản, lạc hậu

Ở vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, nhìn chung thiết chế xã hội còn đơn giản, mang tính tự quản là chính, nhiều nơi vẫn mang tính tự nhiên thuần phác. Đời sống tinh thần được gắn kết chặt chẽ bởi truyền thống văn hóa, các phong tục tập quán, luật tục…và bởi sợi dây tín ngưỡng tôn giáo tạo thành nền tảng vững chắc trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tạo nên sự cố kết cộng đồng bền chặt, lâu dài trong lịch sử.

Tuy nhiên, hiện nay nhiều nơi trình độ kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí còn thấp và nhiều phong tục tập quán, luật tục…lạc hậu còn tồn tại. Đây chính là những điều kiện thuận lợi khiến cho một số tôn giáo thường lựa chọn các khu vực này để thực hiện truyền đạo (như truyền đạo tin lành ở khu vực Tây Nguyên; Tin lành Vàng Chứ ở khu vực Tây Bắc v.v…) điều này dễ làm nảy sinh những xung đột mâu thuẫn giữa tín ngưỡng tôn giáo đa thần của một số đồng bào dân tộc thiểu số với tôn giáo độc thần hoặc một số lợi dụng để truyền bá tà đạo mà bản chất là cuồng tín, cực đoan, phản động, đi ngược lại những chủ trương, chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Ví dụ như Hà Mòn (Tây nguyên), Pháp Luân công (Hà Nội, các tỉnh phiá Bắc), đạo chân không (khu vực miền Trung), Phủ tốc (Lai Châu, Điện Biên) v.v.. Đây là nguy cơ tiềm ẩn những mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc, tôn giáo cần phải được nhận diện rõ.

Ảnh hưởng của tôn giáo đến những vấn đề ngoài tôn giáo trong các cộng đồng dân tộc/ tộc người ở Việt Nam có xu hướng gia tăng

 


          Các yếu tố ngoài tôn giáo luôn có sự tác động tích cực và tiêu cực đến mỗi quốc gia, dân tộc

-Tác động ngoài tôn giáo theo chiều hướng tích cực

+ Các tôn giáo luôn mong ước một cuộc sống tốt đẹp: Phật giáo, Ki tô giáo, hồi giáo đều mong ước đến cõi niết bàn hoặc trên thiên đàng, muốn vậy phải tu luỵên, tu nhân, tích đức

+ Các tín đồ có nhiều hoạt động đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội

> Đào tạo học giả, sáng tạo nghệ thuật; dạy học, chữa bệnh, ủng hộ người nghèo.

Ví dụ Phần lớn tranh nổi tiếng vẽ về tôn giáo (tranh Dvenxi); nghệ thuật đúc đồng ở Việt Nam là do tôn giáo sáng tạo... Không có tác phẩm nào được in dày như kinh thánh…

-Tác động ngoài tôn giáo theo chiều hướng tiêu cực

+ Xu hướng thúc đẩy sự cố kết giữa vấn đề tôn giáo và vấn đề tộc người, dân tộc, hoặc gắn vấn đ tự do tôn giáo với vấn đề nhân quyền để thực hiện mục đích chính trị, gây ra những mâu thuẫn, chia rẽ, xung đột sắc tộc, dân tôc, tôn giáo, làm mất ổn định chính trị - xã hội

+ Sự phát triển nhanh đạo Tin Lành…Nhà nước đề ga, vương quốc Mông tuyên truyền những nội dung phản văn hoá, truyền đạo trái pháp, phát tán các tài liệu, chống phá cách mạng.

 

Các tôn giáo ở Việt Nam kể cả tôn giáo ngoại nhập đều biến đổi phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, nhất là truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam

 


Lịch sử trước đây cũng như hiện nay cho thấy, các tôn giáo khi vào Việt nam muốn trụ lại và phát triển đều phải biến đổi ít nhiều cho phù hợp với truyền thống dân tộc, với nền tảng văn hóa bản địa như phong tục, tập quán, tâm lý…của quốc gia – dân tộc nói chung, văn hóa các tộc người nói riêng. Ngoài ra trong quá trình hình thành và phát triển của mình, các tôn giáo lớn đều thích ứng với lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để tìm ra một tiếng nói chung, nhằm tôn vinh ý nghĩa “tốt đời, đẹp đạo”

Biểu hiện:

-Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau trên cơ sở cộng đồng lãnh thổ

Ở Việt Nam khi mà phần lớn các tộc người và các tôn giáo đan xen, ít có tộc người nào, tôn giáo nào có lãnh thổ riêng biệt. Điều này là một trong những thuận lợi trong xây dựng, bảo vệ lãnh thổ cộng đồng lãnh thổ chung quốc gia cũng như xây dựng khối đoàn kết lương giáo, đoàn kêt toàn dân. Tuy nhiên đặc điểm này nếu không được sử lý tốt sẽ dẫn tới mất đoàn kết các tộc người theo tôn giáo khác nhau khi họ sống trên cùng một địa bàn.

- Dân tộc và tôn giáo gắn kết về cộng đồng ngôn ngữ

Phần lớn các tộc người ở Việt Nam theo các tôn giáo lớn (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo…) đều lấy tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của mình. Chỉ có một số tộc người thiểu số có sử dụng ngôn ngữ của tộc người mình trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng

-Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau về cộng đồng văn hóa

Các tôn giáo có giáo lý, cách tu tập khác nhau, nhưng luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của người Việt Nam trong ăn, ở, sinh hoạt, tập tục

Ví dụ: Tiêu biểu như cách thờ phụng. Những người theo tôn giáo khác nhau có thể sống chung trong một làng, 1 dòng họ, thậm chí một gia đình (tiếng trống Đình làng, tiếng chuông nhà thờ hoà quyện với tiếng mõ chùa là nét đặc trưng của sự ôn hoà). Người Việt Nam dù theo tôn giáo nào cũng giữ được bản sắc dân tộc. Người Việt nam không xa cách đối tượng mình thờ phụng, vì họ tin là người giúp mình. Thần thánh của các tôn giáo, tổ tiên cùng huyết thống cũng chỉ là người dẫn đường, nêu gương cho bản thân noi theo để giữ đạo làm người. Với tầng lớp có quyền thế tôn giáo vào Việt Nam giúp họ củng cố vương quyền, suy tôn vua là con trời hành đạo, là cha mẹ dân. Với người dân, tôn giáo là phương thức giúp họ điều chỉnh hành vi “ăn, ở” sao cho phải đạo, hợp lẽ trời, thoả mãn nhu cầu trần tục và thế giới mai sau “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”

-Ngày nay, các tôn giáo luôn có ý thức “cải tạo giáo hội” theo chiều hướng ngày càng đồng hành cùng dân tộc. Các tôn giáo có xu hướng nhập thế để phù hợp với hiện thực xã hội ngày nay (ít lễ lạy hơn; hướng vào lao động sản xuất…)

Đúng như tinh thần của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam đã nêu ra: Ý thức mình là con cháu Lạc Hồng để đều là chủ nhân của đất nước. Ai cũng muốn đất nước mình, Tổ quốc mình thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với thế giới với tấm căn cước sang giá”

Như vậy có thể khẳng định trong lịch sử cũng như hiện nay, ở Việt Nam các tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) luôn tự phải biến đổi mình để thích nghi, tồn tại. Sự vận động biến đổi của mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo gắn chặt với sự vận động và biến đổi của tồn tại xã hội. Trong điều kiện hiện nay, do tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá, quan hệ dân tộc và tôn giáo có những điểm khác biệt so với trước. Chính sự khác biệt đó là cơ sở để chúng ta nghiên cứu nhằm bổ sung lý luận về tôn giáo và hoạch định chính sách về quản lý tôn giáo theo phương châm “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc” phù hơp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của dân tộc.

Các tôn giáo ở Việt nam đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân với phương châm “tốt đời đẹp đạo”

 


Trong lịch sử cũng như hiện tại nhìn chung, các tôn giáo ở Việt Nam có truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, gắn đạo với đời. Mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo đều đoàn kết góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sinh thời, khi đề cập về mối quan hệ hữu cơ giữa dân tộc và tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chỉ khi nào dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập thì tôn giáo mới được tự do, các giáo sỹ người Việt Nam mới thật sự được hưởng hạnh phúc, không bị phân biệt đối xử.

Tháng 1 năm 1946, khi nước ta đang đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược một lần nữa, Người nhấn mạnh: Nước có độc lập thì dân mới thực sự tự do tín ngưỡng. Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước được độc lập đã. Và “Nước có độc lập, thì đạo phật mới dễ mở mang”1[1]

Tôn giáo tồn tại cùng dân tộc và còn tồn tại lâu dài. Tuy nhiên tôn giáo chỉ có thể phát huy những giá trị tốt đẹp của mình khi đồng hành cùng dân tộc, do đó trên con đường phát triển của dân tộc phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của tôn giáo. Phương châm “Kính chúa yêu nước” của Công giáo, “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Tin Lành, hay “Đạo pháp dân tộc – chủ nghĩa xã hội” của Phật Giáo…đã được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần khi nói về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, đồng thời là nguyên tắc để Đảng và Nhà nước ta giải quyết hài hòa, biện chứng mối quan hệ dân tộc và tôn giáo trong các thời kỳ cách mạng của đất nước.

Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió”. Khi chủ nghĩa thực dân, đế quốc lợi dụng tôn giáo như một “phương tiện” để áp bức dân tộc Việt Nam, hay khi một số tín đồ, chức sắc tôn giáo không đồng hành cùng dân tộc, những xung đột mâu thuẫn giữa dân tộc và tôn giáo nảy sinh.

Mâu thuẫn này chỉ từng bước được giải quyết khi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc đã được thực hiện, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng.

Đảng và Nhà nước nhất quán lấy nguyên tắc đoàn kết toàn dân tộc trong hoạch định, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Mọi chính sách pháp luật về tôn giáo phải quán triệt nguyên tắc đoàn kết và xuất phát từ lợi ích chung của cả dân tộc, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích vật chất và tinh thần của toàn dân làm mẫu số chung.

Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH và nhất là hơn 30 năm đổi mới, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở nước ta nhìn chung được phát triển theo chiều hướng tích cực và về cơ bản không dẫn đến “xung đột” như ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Trên cơ sở khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta chỉ rõ, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên có nơi, có lúc, do nhận thức hoặc do thực hiện chưa đúng, các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nên vẫn còn những mâu thuẫn phát sinh. Các mâu thuẫn này cần được nhận diện để tiếp tục giải quyết nhằm: một mặt phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo; mặt khác giữ vững sự ổn định chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân để phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, t5, tr 228

Suy cho cùng, tôn giáo chịu sự chi phối, quyết định của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của dân tộc song tôn giáo tác động trở lại dân tộc, có thể đồng hành cùng dân tộc hoặc cản trở sự phát triển của dân tộc

 


-Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc khi dân tộc có chính trị, kinh tế, văn hóa… tiến bộ, luôn quan tâm, tạo điều kiện cho tôn giáo, hành đạo

Xu hướng tôn giáo đồng hành cùng dân tộc khi một tôn giáo nào đó có đường hướng hành đạo tiến bộ, có cách thức tu tập phù hợp truyền thống văn hoá của dân tộc, có đội ngũ tu trì chân chính…

Ví dụ: Trường hợp phật giáo ở Việt Nam thời Lý - Trần hay đạo do thái người Ixraen

Theo xu hướng đó, tôn giáo có thể làm giàu các chuẩn mực đạo đức, làm phong phú các giá trị văn hoá, góp phần hình thành nên một lối sống cao đẹp của dân tộc, thậm chí còn là những dự cảm, có thể nâng cao trình độ tư duy của một dân tộc nào đó.

-Tôn giáo xung đột, cản trở sự phát triển của dân tộc, khi tôn giáo có đường hướng hành đạo không tiến bộ, hoặc các tôn giáo trong một quốc gia dân tộc mâu thuẫn với nhau.

Các tôn giáo có thể xung đột với dân tộc, cản trở sự phát triển của dân tộc. Vì sao? Vì ba lý do:

 Thứ nhất, suy cho cùng, thế giới quan tôn giáo không khuyến khích tư duy sáng tạo, tư duy khoa học; hơn thế nữa tôn giáo có vai trò cố kết cộng đồng cùng đức tin.

Thứ hai, phần lớn trên thế giới, các quốc gia, dân tộc là những quốc gia, dân tộc đa tôn giáo, do tính cục bộ vốn có, nếu như quốc gia dân tộc, không quản lý tốt các tôn giáo, có thể diễn ra xung đột, thậm trí chiến tranh giữa các tôn giáo, gây hậu quả tiêu cực cho con người, xã hội.

Thứ ba, trong một số trường hợp tôn giáo có thể bị các thế lực chính trị phản động lợi dụng để chống lại dân tộc.

Như vậy, Trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề hết sức phức tạp. Việc giải quyết mối quan hệ này như thế nào có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo.

Sự tiếp biến tôn giáo diễn ra dưới tác động của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhất định của dân tộc

 


Lịch sử phát triển của các tôn giáo cho thấy, hầu hết các hình thức tôn giáo ra đời và phát triển đều phải biến đổi trên cơ sở kế thừa và vay mượn các chất liệu có sẵn trong đời sống của cộng đồng dân tộc, bởi vì tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực. Với các tôn giáo ngoại nhập cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Muốn du nhập và phát triển vào cộng đồng dân tộc nào đó, bản thân tôn giáo đó cũng phải tự biến đổi, tự thích nghi với đặc điểm, truyền thống văn hóa của dân tộc. Chính việc bị chi phối bởi văn hóa bản địa để tồn tại đã làm nảy sinh hiện tượng cùng một tôn giáo nhưng ở mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia khác nhau lại có những hiện tượng khác nhau. Chẳng hạn, sự biểu hiện đa dạng của đạo Phật, đạo Tin Lành trên thế giới là một ví dụ.

Trên cơ tầng văn hoá của mỗi dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau có thể cùng tồn tại mà ít xuất hiện những xung đột, thậm chí còn tồn tại trong thế “hoà nhi bất đồng” (chung sống hoà bình - như kiểu tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam”. Ví dụ Đạo Cao Đài ở Việt Nam. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Đạo Cao đài xuất hiện ở Nam Bộ, trở thừnh tôn giáo có tính khu vực, với tên “Cao Đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ” gọi tắt là đạo Cao Đài. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời, trong hoàn cảnh nô dịch, bóc lột của Thực dân Pháp, làm cho đời sống nông dân đến cùng cực, đã xuất hiện nhiều đạo(đạo Lành, đạo Minh sư, đạo trưởng, đạo dừa, đạo ngồi…các đạo này mục đích cũng là cứu oan cứu khổ cho chúng sinh, tuy nhiên đều không giải thoát được nỗi khổ cho chúng sinh, từ đó đã thúc đẩy số đông nông dân ở Nam bộ tìm đén một tôn giáo mới. Cốt lõi của đạo Cao Đài là tín ngưỡng “cầu hồn, cầu tiên” của Lão giáo đã tồn tại từ trước ở vùng này, kết hợp với tín ngưỡng “thần linh học” từ phương Tây tràn sang, hình thành tín ngưỡng “Cầu cơ chắp bút”, gọi là “cơ bút”. Tín ngưỡng này phát triển trong một bộ phận trung lưu ở Nam bộ từ năm 1920, mạnh nhất vào những năm 1924-1926. (có khoảng 50 vạn tín đồ). Giáo lý đạo Cao đài là: “Cao đài đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài: Đài cao thờ phụng thượng đế (là biến tướng của quan niệm niết bàn ở Phật giáo, thiên đường ở Ky tô giáo). Trị vì cao đài là Cao đài tiên ông đại bồ tát Ma-ha-tát. Đại đạo:Là đạo lớn gồm tất cả các đạo: nhân đạo (khổng tử), thần đạo (thờ thần), Thánh đạo (giê su), Tiên đạo (lão tử), Phật đạo (thích ca). Ngày nay con người hiểu biết nhau và do các đạo xung khắc nên đấng tối cao phải tổng hợp các đạo lại trong một đạo lớn. Tam kỳ:Là khoảng thời gian đấng tối cao đưa các đạo lớn xuống cứu hộ con người (3 lần). Phổ độ: Danh giới giữa mê muội với giác ngộ. Trung tâm giáo lý của cao đài là “tam giáo ngũ chi” Phật giáo (từ bi), Nho giáo (công bằng), lão giáo (bác ái). Từ “tam giáo” đẻ ra “ngũ chi đạo” (Phật, tiên, thánh, thần, Nhân đạo). Tam giáo đồng nguyên có trước khi có đạo Cao đài. Về thờ phụng, trong điện thờ cao nhất là Thượng Đế, tượng trưng bằng con mắt (thiên nhãn), dưới thiên nhãn  tam giáo (phật, nho, lão) và ngũ chi đạo: Quan âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh, Giê su và Khương Thái Công.. Lễ phục của tín đồ màu trắng; chức sắc theo từng nghành (vàng- Phật), (đỏ- Nho), (xanh- Lão) được cắt may cầu kỳ theo phẩm phụch các vua quan phong kiến.

Nhưng cũng có thể biến thành các hình thái khác, tuy xuất phát từ một gốc nhưng lại có nhiều khác biệt kể cả trong tín lý, cách tu tập. Chẳng hạn đạo Phật vốn là một tôn giáo có tính nhập thế nhưng khi du nhập vào Việt Nam, do những đặc điểm yêu cầu của dân tộc, tôn giáo này lại có tính nhập thế cao hơn. Hay nho giáo, nếu xem nó là một tôn giáo, cũng thấy có những khác biệt khi nhập thế vào Việt Nam. Nhìn chung nho giáo ở Việt Nam ít khắt khe hơn Nho giáo ở Trung Quốc, nhất là trong cách nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ.

Ngày nay bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá về mọi mặt của đời sống xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, xu hướng đề cao lòng tự tôn dân tộc đang tác động đến đời sống tôn giáo thế giới. Toàn cầu hoá đã phá vỡ tính độc tôn của một tôn giáo trong từng quốc gia, kể cả quốc gia đã từng bị thống trị bởi một tôn giáo độc thần, do vậy, nó cũng đem đến cho nhiều tôn giáo giấc mơ bao trùm thế giới. Xu thế đó làm xuất hiện xu thế dân tộc hoá tôn giáo- trở về với tôn giáo truyền thống. Trong xu thế này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc được xem là chỗ dựa, là vũ khí để bảo vệ bản sắc dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới đang được các thế lực chính trị sử dụng như một vũ khí để đồng hoá văn hoá. Đứng ở vị trí này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc vẫn tiếp tục giữ vai trò làm “màng bọc” để dân tộc hoá các tôn giáo ngoại nhập.