Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

Chớ vô tình bị lợi dụng

 


Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm. Ví dụ một số câu chuyện:

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước. Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” qua những bài viết trên mạng xã hội.

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình! Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo... Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề...

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên. Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.

Hướng đánh chủ yếu của các thế lực thù địch

 


Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin, sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực chống phá, thù địch luôn xác định đây là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập trung tấn công. 

Tư tưởng chính trị bàn ở đây là tư tưởng về vấn đề chính trị mà Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân. Lập trường này được C.Mác cùng F.Ăngghen xây dựng trên cơ sở sự vận hành và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội trong hiện thực lịch sử nhân loại. Đó là học thuyết vĩ đại của xã hội loài người-học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng chính là tư tưởng chính trị then chốt; là yếu tố quan trọng hàng đầu cần được xác lập một cách vững vàng trong mỗi chủ thể của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin, sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực chống phá, thù địch luôn xác định đây là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập trung tấn công. Trong cuốn sách Chiến thắng không cần chiến tranh (1999), Níchxơn đã viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Theo đó, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Các thế lực thù địch, phản động, chống phá vẫn luôn tự cho họ “cái quyền” đòi Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn với “lỹ lẽ” rằng đó là “con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Họ ra sức lợi dụng sự kiện CNXH theo mô hình Xô viết ở Liên xô và các nước Đông Âu trước đây sụp đổ để “kết luận” rằng CNXH đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch sử; rằng Việt Nam kiên định đi lên CNXH là sai lầm, là đi vào “vết xe đổ” Liên Xô và Đông Âu. Họ cố tình xuyên tạc: “Chủ nghĩa xã hội mà C.Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”. Hơn thế, họ “dạy” Đảng ta cần phải đi theo con đường - mô hình “xã hội dân chủ”, “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”... Đồng thời không ngừng rêu rao, kích động, bôi đen chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cho rằng, kinh tế thị trường với CNXH như lửa với nước, không thể đồng hành, từ đó phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai… Những luận điệu nêu trên vẫn thường được “nhai đi nhai lại” khi trắng trợn, lúc tinh vi; lúc thì “mượn mồm” của một số người biến chất, bất mãn, khi thì thô lỗ nhân danh, khoác áo “những nhà chính trị”, “tổ chức nọ”, “hội kia”. Tuy giọng điệu, cung bậc khác nhau, song đều chung một kiểu “mưa dầm thấm lâu”, nhằm làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin chính trị.

Để tạo sức “đề kháng” trước những “cơn gió độc”, bên cạnh không ngừng củng cố bản lĩnh và sự kiên định của mỗi công dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên vào mục tiêu, con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, chúng ta cần tiếp tục thấu triệt: Sự thay thế của hình thái kinh tế XHCN vào hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa là sự tiếp nối tất yếu trong dòng chảy phát triển. Vấn đề này đã được khẳng định bằng chính quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Thực tiễn tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng đã và đang minh chứng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội  là sự kiên định khoa học, khách quan, đúng đắn, phù hợp, đang từng bước thỏa mãn khát vọng chính đáng của nhân dân: độc lập, hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Những nhà tài phiệt của chủ nghĩa tư bản luôn muốn duy trì sự bất bình đẳng của xã hội để thâu tóm lợi ích. Vì thế, bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân lao động không phải là mục tiêu mà họ hướng tới, không phải là bản chất chế độ mà họ muốn duy trì. 

Vẫn “quanh đi quẩn lại” với những “diễn giải” như, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất phương Tây thế kỷ XIX; ở thế kỷ XXI, chủ nghĩa này đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua... từ đó, những thế lực chống phá, phản động luôn “to mồm” rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam; việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì đây là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc... Cùng với đó, họ không ngừng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người; bóp méo sự thật công cuộc đổi mới ở Việt Nam... Những “giọng điệu” đó đều không nằm ngoài mục đích: phủ định sự vận dụng sáng tạo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam; phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp  xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân.

Để phản bác lại những “lập luận” nêu trên, chúng ta cần không ngừng nắm rõ, hiểu sâu, củng cố lại nhận thức: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do C.Mác và Ph.Ăng-ghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát triển, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, bổ sung trong điều kiện cụ thể một nước thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; được hình thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Xây dựng CNXH ở Việt Nam là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin, CNXH khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trên cơ sở quan điểm Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng trong quá trình trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, cùng toàn dân xây dựng một xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hết năm này qua năm khác, các phần tử, tổ chức phản động, thù địch vẫn không ngừng ra rả những luận điệu “rườm tai” như “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có khả năng quản trị đất nước”; “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền, khiến xã hội không có tự do, dân chủ”; “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là then chốt của chế độ dân chủ”... Đồng thời, họ dẫn những quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đồng nhất nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân... 

Một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị ở trong nước cũng thường “vào hùa” “ăn theo”, khi thì nhân danh “quyền công dân”, khi thì gắn mác “tâm nguyện vì nước vì dân” để đưa ra những “yêu sách” kiểu như: Đảng phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”... Tất cả những “kiểu cách” nêu trên, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi nữa, thì bản chất và mục đích vẫn là nhằm làm phân tâm, tạo hoài nghi trong xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên, để từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, làm “nhiễu loạn” mọi hệ giá trị, tiến tới phủ nhận chế độ, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó, việc nắm chắc những nội dung căn cốt về tư tưởng chính trị là “vũ khí” quan trọng nhất để mỗi chúng ta chiến thắng chính mình - vượt qua những mơ hồ, hoài nghi, dao động; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả với những giọng điệu “ngụy dân chủ”, “ngụy lý luận”.

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh là tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. 

Kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

 


Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Thực chất, đây là những chiêu trò hết sức thâm độc hòng gây hoang mang dư luận; làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội và nhất là cố tình gây cản trở công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng vốn đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn!

Trước hết cần khẳng định, việc thi hành kỷ luật Đảng là một mặt công tác đặc biệt hệ trọng của Đảng-một công việc thường xuyên như thể “đánh răng, rửa mặt” hằng ngày. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính". Do vậy, Người yêu cầu từng tổ chức đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt hơn 91 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn nhất quán duy trì kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Vụ xử tử Trần Dụ Châu vì tham ô (năm 1950); tử hình Nguyễn Hữu Giộc (Mười Vân), nguyên Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai tham nhũng vàng (năm 1988)... là những ví dụ cho thấy sức mạnh của kỷ luật thép trong Đảng. Cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng cho rằng, Đảng ta có truyền thống tự chỉnh đốn và thực hành kỷ luật nghiêm minh từ rất sớm. Trong Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Đảng đã tự phê bình, nhận ra sai lầm “tả khuynh” của mình. Thời đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư, Đảng ta còn non trẻ nhưng đã “Tự chỉ trích” rất nghiêm khắc. Rồi cải cách ruộng đất có những sai lầm, Bác Hồ đã khóc và xin lỗi quốc dân đồng bào. Thậm chí, có thời điểm, Trung ương chủ trương “đóng cửa Đảng”, tập trung sức chỉnh đốn Đảng... Điều đó cho thấy, không phải đến bây giờ Đảng mới siết chặt kỷ luật và việc tiến hành kỷ luật không nằm ngoài mục tiêu làm cho tổ chức mạnh hơn, cán bộ tiến bộ thêm; giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo cách mạng, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Đặc biệt, những năm gần đây, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng chủ trương tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rơi vào suy thoái, biến chất, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài đã lần lượt được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, việc thi hành kỷ luật cán bộ được tiến hành công khai, đúng pháp luật; không còn “trên nóng, dưới lạnh”, “vùng cấm, ngoại lệ”; với quyết tâm chính trị làm trong sạch Đảng thì việc kỷ luật một số cán bộ, đảng viên cũng như “chặt cành để cứu cây”, giúp  nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước yêu cầu mới. Cũng qua đó, thực hành kỷ luật Đảng đã giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Phải kỷ luật chính đồng chí mình là điều không ai muốn, nhưng kỷ luật một vài người là để vừa giữ nghiêm kỷ cương phép nước, vừa cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”.

Mục đích trong sáng, cao nhất của việc duy trì nghiêm kỷ luật Đảng là ngăn chặn cán bộ, đảng viên vi phạm chứ không phải là sự “thanh trừng”, "bài xích", "hạ bệ" nhau trong hàng ngũ nội bộ. Ở khoản 1, Điều 2, Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 về quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm của Bộ Chính trị, xác định: "Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị, lĩnh vực công tác nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh". Có nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật Đảng; không có bất kỳ lực lượng, thành phần, cá nhân ngoại lệ, đứng ngoài, đứng trên kỷ luật Đảng. Thế nhưng, việc giữ nghiêm kỷ luật Đảng tuyệt nhiên không phải thi hành kỷ luật thật nhiều, thật nặng mà chính là một cách xây dựng, duy trì ý thức tổ chức kỷ luật trong mỗi tổ chức, cá nhân. Những con số về cán bộ bị kỷ luật đã được thống kê dẫu khiến chúng ta đau xót nhưng cũng chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh” so với 5,3 triệu đảng viên của Đảng luôn giữ vững lý tưởng cộng sản, nhiệt huyết cách mạng, kiên định mục tiêu duy nhất và trên hết là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; góp phần đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.

Nhiều năm qua, Đảng bộ Quân đội - trực thuộc Trung ương luôn được đánh giá là một trong những tổ chức đảng mẫu mực, tiêu biểu về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là việc duy trì kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và ở từng cơ quan, đơn vị toàn quân. Sở dĩ như vậy bởi vì Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là một tổ chức đặc thù-là đội quân chiến đấu nên kỷ luật tự giác, nghiêm minh vốn dĩ là sức mạnh của quân đội. Cùng với đó, việc giữ nghiêm kỷ luật đã trở thành bản chất tốt đẹp, truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam trong suốt gần 77 năm qua. Trong nhiều hội nghị gần đây, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đặc biệt ghi nhận, đánh giá cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chấp hành kỷ luật, duy trì kỷ cương trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân; khẳng định Đảng bộ Quân đội là một trong những Đảng bộ mẫu mực của Trung ương. Mẫu mực cả trong xây dựng tổ chức đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ và nhất là thực thi kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội một cách nghiêm khắc, triệt để, nhân văn. Đặc biệt, trước yêu cầu của tình hình mới, càng trong khó khăn, gian khổ, quần chúng nhân dân càng tin yêu, ghi nhận, dành tình cảm tốt đẹp và lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội vì đã có đóng góp, hy sinh to lớn, vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, 5 năm gần đây, trong toàn quân liên tục xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân nêu gương sáng về tinh thần đoàn kết và thực hành kỷ luật. Dù đóng quân ở những miền đất xa xôi, hẻo lánh hay biên cương, hải đảo, công tác riêng lẻ, độc lập... song cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn nêu cao ý thức chấp hành kỷ luật tự giác, nghiêm minh trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; trong phối hợp với các lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội; chấp hành nghiêm nhiệm vụ giúp nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ-cứu nạn, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới... Những hành động cao đẹp đó của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng làm ngời sáng bản chất, truyền thống đoàn kết và tinh thần kỷ luật của QĐND Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn thừa nhận rằng, do tác động của nhiều yếu tố, nguyên nhân khác nhau cả về chủ quan lẫn khách quan, thời gian qua, ở một số nơi vẫn để xảy ra những vụ việc vi phạm kỷ luật, có cả vụ việc nghiêm trọng. Đây là những trường hợp cá biệt ở một bộ phận nhỏ lẻ, nhưng đã có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, danh dự, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Với tinh thần quyết liệt ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc, nghiêm minh đối với các trường hợp này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn nhất quán chủ trương duy trì kỷ luật Đảng, kỷ luật quân đội một cách công khai, công bằng, không bao che, không giảm nhẹ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đó cũng chính là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng: “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội. Muốn vậy, kỷ luật, kỷ cương phải nghiêm, quân đội phải làm gương cho các nơi khác”.

Thực tế cho thấy, việc thực hành kỷ luật và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm không nằm ngoài mục tiêu nâng cao chất lượng công tác giáo dục bộ đội, giúp cảnh tỉnh, răn đe cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải có trách nhiệm không ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng, hành vi tiêu cực, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Ở nhiều kỳ họp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhất là các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, các đồng chí chủ trì luôn khẳng định quyết tâm phải duy trì nghiêm túc, chặt chẽ kỷ luật Đảng trong Đảng bộ Quân đội nói chung, từng tổ chức đảng nói riêng. Phải quyết liệt làm điều đó để Đảng bộ Quân đội ngày càng xứng đáng là đảng bộ mẫu mực trên nhiều phương diện; nhất là trên lĩnh vực xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Quán triệt tinh thần đó, các cấp ủy, chỉ huy trong toàn quân luôn nhận thức rõ một yêu cầu thường nhật là: Tổ chức trong quân đội phải có kỷ luật tự giác, nghiêm minh, mẫu mực. Quan điểm xuyên suốt là phải tăng cường công tác quản lý, giáo dục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật và vi phạm kỷ luật trong QĐND Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm; phải phân tích thấu đáo, làm rõ hành vi và mức độ vi phạm kỷ luật xảy ra trong đơn vị; đồng thời tiến hành xử lý nghiêm minh, công khai, dân chủ, kịp thời các vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng điều lệnh, kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước. Phải làm thật nghiêm, thật quyết liệt, vì kỷ luật cán bộ không thể làm suy yếu tổ chức mà có tác dụng giúp mỗi cơ quan, đơn vị thêm vững mạnh; không làm giảm đi truyền thống và bản chất tốt đẹp của đội quân anh hùng, mà còn là một phương cách để QĐND Việt Nam ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Đó là một sự thật hiển nhiên-một chân lý bất biến khiến những kẻ thủ ác, hiềm khích, chống phá cách mạng không thể phủ nhận hoặc làm lung lay được.

“Việt Tân” núp bóng từ thiện – “chuông khánh còn chẳng ăn ai”

 


Lợi dụng hoạt động phòng chống dịch COVID - 19 của Việt Nam, tổ chức khủng bố “Việt Tân” bày ra cái gọi là chương trình giúp đỡ khẩn cấp trong đại dịch với tên gọi: “Chút quà yêu thương”.

Với chiêu bài “dân giúp dân”, “Việt Tân” nhắn nhủ người cần giúp đỡ nhắn vào hộp thư để được hướng dẫn chi tiết làm thế nào để nhận được quà. Đây thực chất là chiêu trò lừa dụ người dân tham gia vào các hoạt động của tổ chức khủng bố này, núp bóng việc bảo vệ, đứng về phía người dân khó khăn để tạo diễn đàn công kích, bôi xấu, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, phủ nhận nỗ lực và thành quả chống dịch của đất nước.

Thực tế trong gần 2 năm chống dịch Covid – 19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch. Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn, nhất là quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân bằng những gói hỗ trợ người lao động, bảo đảm an sinh xã hội. Phải khẳng định rằng, việc ban hành các gói hỗ trợ nói trên trong điều kiện ngân sách còn không ít khó khăn thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước đối với người dân, doanh nghiệp trong bối cảnh chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, là việc làm ý nghĩa, thiết thực để "không ai bị bỏ lại phía sau". Thực tế đó không chỉ người dân Việt Nam thừa nhận mà các chuyên gia, tổ chức uy tín về lĩnh vực y tế, báo chí nước ngoài cũng đánh giá cao.

Trong lúc khó khăn, chúng ta còn được chứng kiến những hình ảnh vô cùng xúc động thắm đượm nghĩa tình đồng bào, tương thân tương ái giúp đỡ nhau vượt qua cơn hoạn nạn. Họ là những cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an, không quản nắng mưa, tận tụy cùng cán bộ cơ sở, hội viên Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tổ chức đi mua, vận chuyển lương thực, thực phẩm tới từng nhà dân. Các nhân viên y tế, học viên quân y phối hợp cán bộ y tế cơ sở mang thuốc, thiết bị chăm sóc vào từng ngõ xóm để hướng dẫn những gia đình có người nhiễm bệnh cách điều trị tại nhà.  

Trở lại chương trình hỗ trợ khẩn cấp mà “Việt Tân” đang kêu gọi. Liệu Việt Tân có thực sự nhằm giúp đỡ người dân hay không? Trái ngược với những lời kêu gọi mĩ miều, mạng xã hội chỉ lèo tèo lượng like, tham gia hưởng ứng. Không ít người đã thẳng thắn bình luận, chỉ rõ động cơ xấu xa và khuyên mọi người hãy tránh xa chiêu trò của “Việt Tân”.

Cùng với đó, nếu “Việt Tân” thực sự muốn làm việc thiện thì không nên “tạo sóng”, bày trò để câu like, câu bình luận của những người nhẹ dạ cả tin, được dẫn dắt bởi những conment “chim mồi” kích động nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta. Chưa thấy hiệu quả của chương trình này ở đâu, nhưng “Việt Tân” đã tạo ra một “diễn đàn” cho những bình luận a dua, bất mãn trên không gian mạng, chẳng những không giúp ích gì cho công tác phòng, chống dịch mà còn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật khi đưa ra bình luận sai sự thật, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng xấu tới công tác phòng, chống dịch. Ngày 4-10-2016, khi đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, thông báo của Bộ Công an nêu rõ: “Việt Tân” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Từ thực tế những hoạt động chống phá của “Việt Tân”  có thể dễ dàng nhận thấy chiêu trò từ thiện này chỉ là một thủ đoạn để dẫn dụ người dân tham gia, qua đó sẽ thu thập thông tin công dân, rồi mua chuộc, kích động, biến những người đó trở thành công cụ thực hiện các âm mưu phá hoại của chúng.

Chương trình “Chút quà yêu thương” mà Việt Tân đưa ra có nhiều điểm mập mờ về thông tin và cả những đối tượng tương tác, vào hùa và cộng hưởng bên dưới. Được biết, rất nhiều chủ nhân của những bình luận cổ súy cho Việt Tân đó hiện đang tị nạn tại nước ngoài, thậm chí có một số tương tác được thực hiện bởi các tài khoản ảo. Nếu thực sự xuất phát từ động cơ trong sáng, vậy Việt Tâm phải bày ra chiêu trò này để làm gì?

Thực chất âm mưu của “Việt Tân” thông qua việc hướng dẫn người dân nhắn vào hộp thư (inbox) chỉ là để thu thập thông tin cá nhân, từ đó liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc… Trước đây, nhiều đối tượng đã từng bị “Việt Tân” móc nối, mua chuộc đã vướng vào vòng lao lý, phải lãnh những mức án phạt nghiêm khắc vì thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chống phá Nhà nước. Đặc điểm chung dễ nhận thấy của những đối tượng này là chỉ vì tham miếng “bánh vẽ” mà “Việt Tân” từng hứa hẹn.

Cha ông ta có câu: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai nữa là mảnh chĩnh ném ngoài bờ tre”. Kẻ xấu chuyên rắp tâm phá hoại đất nước thì dù chúng có ra vẻ ngọt ngào làm việc thiện song người dân sẽ luôn tỉnh táo, vạch rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chúng!

 

 

Những “vố đau” làm bẽ mặt Việt Tân

 


Bản chất chống phá cách mạng Việt Nam của tổ chức phản động Việt Tân không bao giờ thay đổi. Chúng thường lợi dụng các sự kiện xảy ra trong cuộc sống, để xuyên tạc, vu khống, kích động; nhắm vào những hạn chế, khuyết điểm của một số người, dùng tiền bạc, vật chất, bả vinh hoa… để xuyên tạc, vu khống, kích động, dụ dỗ, ép buộc, lôi kéo… nhằm mục đích chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta.

Nhưng trên thực tế, Việt Tân đều đã phải nhận thất bại thảm hại. Trong đó chúng nhiều khi phải chịu những cái tát mạnh mẽ thẳng vào mặt từ sự thật. Có rất nhiều ví dụ để minh chứng cho thực tế đó.

Vụ án “ Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 9/1/2020 tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội đã bị Việt Tân lợi dụng từ rất sớm, rất sâu. Chúng không chỉ tuyên truyền, kích động, hướng dẫn các đối tượng phạm tội khiếu kiện, gây rối mà còn trực tiếp nhúng tay vào việc cung cấp tiền bạc, hỗ trợ mua sắm vũ khí... Nhưng rồi với sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, qua hai phiên toà hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đúng luật, công khai, khách quan, nghiêm khắc và nhân văn, đã đập thẳng vào âm mưu, thủ đoạn xấu xa của Việt Tân. Trước pháp luật, nhiều bị can, bị cáo đã khai nhận hành vi tiếp tay, xúi giục của Việt Tân, khai rõ Việt Tân cung cấp bao nhiêu tiền, hướng dẫn làm bom xăng, sử dụng lựu đạn ra sao… Qua đó, dư luận trong và ngoài nước càng hiểu rõ bộ mặt thật của Việt Tân. Đây quả là vố đau, là hậu quả tất yếu của dã tâm tàn ác tự mình gây ra mà Việt Tân phải gánh chịu.

Năm 2021, Việt Nam tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Việt Tân tìm mọi cách chống phá. Chúng vận động, kích động một số phần tử có tư tưởng chống đối lợi dụng dân chủ để tự ứng cử; lôi kéo, xúi giục cử tri không đi bầu cử. Nhưng kết quả bầu cử rất thành công với gần 70 triệu cử tri đi bầu cử, đạt tỷ lệ 99,6% số cử tri cả nước. Một số đối tượng ảnh hưởng từ Việt Tân định lợi dụng việc tự ứng cử để âm mưu chống phá đã bị cử tri vạch mặt, loại bỏ theo đúng luật. Nhiều người dân lên mạng xã hội tố cáo Việt Tân phá hoại bầu cử, phá hoại Ngày hội lớn của nhân dân Việt Nam.

Trong lúc Việt Nam tập trung phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Tân cũng điên cuồng chống phá. Khi Quân đội cùng cả nước tăng cường chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam phòng, chống dịch hiệu quả, thì Việt Tân bịa đặt thông tin, cắt ghép hình ảnh để vu khống Quân đội, xuyên tạc Quân đội đe dọa, trấn áp dân. Chúng còn tìm mọi cách chia rẽ quan hệ quân đội với nhân dân, xúi giục, kích động người dân phản đối, gây bất hòa với Quân đội, với lực lượng chức năng và chính quyền địa phương…Nhưng kết quả chúng đã bị dân “bóc phốt” là trơ trẽn cắt ghép hình ảnh, dối trá, bịa đặt, vu cáo sai sự thật. Trên thực tế người dân được chăm sóc chu đáo, bộ đội xung kích, gương mẫu giúp đỡ nhân dân rất tận tình, chu đáo. Tình cảm tin tưởng, yêu quý, đồng thuận, hỗ trợ, giúp sức của dân với Đảng, với Chính quyền và Quân đội thêm bền chặt, tốt đẹp. Người dân cũng càng nhận rõ bộ mặt ác độc, xấu xa của Việt Tân, lên án Việt Tân trên báo chí, mạng xã hội… Cuối tháng 8/2021, chính YouTube Việt Tân cũng phải thừa nhận rằng: “Chưa thấy quân đội bắn hay đánh ai. Trong video của dân chúng ghi lại thấy mấy cậu lính trẻ lếch thếch chạy giao các gói thức ăn cho dân phố nào đó. Dẫu sao đó là chuyện đáng nhớ và vui trong lòng. Họ đến cũng có ý nghĩa rất rõ…”.

Trong quá trình chống phá, Việt Tân luôn tìm mọi thủ đoạn lôi kéo một số người theo chúng để chống phá cách mạng. Một số đối tượng ngoan cố theo Việt Tân tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam, đã bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Khi bị trừng phạt, nhiều đối tượng mới rõ bộ mặt thật của Việt Tân nên đã khai nhận, oán trách những kẻ lôi kéo, dụ dỗ, kích động mình. Có người đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của Việt Tân nên hối cải, thành thật khai báo, tố cáo Việt Tân, kêu gọi mọi người đừng có dại dột mà sai phạm như mình. Dư luận nhớ rõ trước đây mấy năm, đối tượng Nguyễn Văn Hóa ở xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã bị các thế lực phản động, trong đó có Việt Tân lôi kéo vào những hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam. Khi bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý, Nguyễn Văn Hóa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nói rõ “do bị can còn rất trẻ, do bị lợi dụng, lôi kéo”, xin lỗi Nhà nước và nhân dân, đồng thời kêu gọi: “Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”. Thật đúng là bẽ mặt Việt Tân và các tổ chức phản động!

Việt Tân không thể và không bao giờ có thể làm thay đổi được sự bền chặt của ý Đảng, lòng dân, của lý tưởng, truyền thống, nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm, truyền thống tốt đẹp  của cách mạng Việt Nam. Chắc chắn còn cố tình chống phá, phản động Việt Tân sẽ còn phải chịu thất bại cay đắng hơn nữa, chịu những cái tát thẳng mạnh mẽ hơn nữa của pháp lý và đạo lý. Vì âm mưu, thủ đoạn, mục đích của chúng chỉ nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta, để đất nước Việt Nam yên bình, yêu quý của chúng ta bị rơi vào thảm cảnh, khổ đau. Ác độc và xấu xa như vậy thì làm sao Việt Tân cũng như các thế lực thù địch, phản động khác có thể làm hại sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng, tươi đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường mà Đảng, Bác Hồ, toàn dân, toàn quân ta đã sáng suốt lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

 

 

NHỮNG KẺ HẰN HỌC XUYÊN TẠC MUỐN HẠ BỆ TẤM GƯƠNG CÁCH MẠNG HỒ CHÍ MINH

 


Vấn đề lực lượng thù địch xuyên tạc giá trị, uy tín, công lao to lớn của Hồ Chí Minh với dân tộc và nhân loại. Tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa, không phải là từ nhận thức, hay nói đúng hơn là vì ở tầm nhận thức thấp kém, hoặc thiếu thông tin đầy đủ, đúng đắn, mà là ở ý đồ xấu khi người ta đánh giá về Hồ Chí Minh. Nguồn tài liệu liên quan đến thân thế, sự nghiệp của Hồ Chí Minh cho đến nay nhiều vô kể. Nhưng, cái quan trọng nhất là cái nhìn, cái tâm của mỗi người khi đánh giá Hồ Chí Minh. Cùng một sự kiện, nhưng với cái tâm như thế này thì người viết đánh giá Hồ Chí Minh như thế, nhưng cùng với cái tâm khác thì người ta lại đánh giá về Hồ Chí Minh khác hẳn một trời một vực.

Số người viết sách, viết báo, cả báo viết, báo mạng, để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh cho đến nay không ít. Họ xuyên tạc đủ điều, “bôi đen” Hồ Chí Minh từ đời riêng đến cả các mối quan hệ công tác và cố ý khái quát cả các những hiện tượng nhất thời, không đúng với bản chất của sự việc. Có khi họ cố tình đem Hồ Chí Minh đối lập với dân tộc Việt Nam. Có khi họ cho rằng, Hồ Chí Minh là đồ đệ của Quốc tế Cộng sản, của V.I.Lênin, của J.Xtalin nhưng núp dưới bóng của chủ nghĩa dân tộc. Họ lý giải hiện tượng lòng dân và ý dân Việt Nam yêu kính Hồ Chí Minh là do sùng bái cá nhân, v.v.

Một số người ở trong nước và nước ngoài cái tâm đen tối, không có đức dày cố tình gây nhiễu, xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Có thể lấy thí dụ về một vài vấn đề sau đây để làm rõ điều này. Đó là việc Hồ Chí Minh có vợ có con hay không là câu chuyện bị gây nhiễu, bị xuyên tạc nhiều nhất.

Ngày 3-11-1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm, anh trai của Hồ Chí Minh, đến thăm em, nhân lúc vui vẻ có hỏi em mình: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Hồ Chí Minh trả lời hóm hỉnh: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này, đến nay đã tu, tu trót, qua thì thì thôi. Em không phải là người tu hành nhưng vì việc nước quên việc nhà”. Điều này thì quả là rất phù hợp với quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân Hồ Chí Minh với việc riêng, việc nhà, việc nước. Ngày 9-11-1950, ở Việt Bắc kháng chiến, sau khi đi công tác về, Hồ Chí Minh nhận được tin ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời ở quê (25-8 năm Canh Dần, tức là ngày 6-10-1950 dương lịch).

Ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời, nhưng mãi hơn một tháng sau Hồ Chí Minh mới nhận được tin. Trong ánh chiều tà của núi rừng Việt Bắc, ngập dòng lệ, Hồ Chí Minh thảo một bức điện gửi về quê:

“Gửi họ Nguyễn Sinh

Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.

Than ôi! Tôi xin chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước

Ngày 9 tháng 11 năm 1950

Hồ Chí Minh”.

Như vậy là, chữ hiếu và chữ đệ ở đây được Hồ Chí Minh đặt dưới “việc nước”. Việc nước là trên hết thảy, việc nhà phải tuân thủ và phải chịu sự hy sinh vì việc nước, biết rằng bản thân mình có tội bất đệ và Hồ Chí Minh đã nhận tội trước linh hồn của người anh trai. Hồ Chí Minh còn cho rằng, hiếu là hiếu với nhân dân, không những ta thương cha mẹ ta mà còn thương cha mẹ người khác, phải làm cho mọi người biết yêu thương cha mẹ; rằng, người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình nhất, vì nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò. Cái tôi cá nhân của Hồ Chí Minh bao giờ cũng được Hồ Chí Minh đặt thấp hơn cái cực đại của Tổ quốc, của nhân loại cần lao. Vì vậy, có thể rằng, cái việc lấy vợ của Hồ Chí Minh cũng vậy. Lúc trai trẻ thì Hồ Chí Minh đi đây đi đó khắp bốn phương trời, không tiện lấy vợ, lúc về nước thì đã luống tuổi, cũng có lúc định lấy vợ nhưng không thành.

Tháng 1 năm 1947, Hồ Chí Minh viết trong bức thư­ chia buồn khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng, người theo đạo Thiên Chúa, oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nư­ớc Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc”.

Ngày 16-7-1947, trả lời câu hỏi thứ mư­ời của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt đư­ợc mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”.

Năm 1948, cũng trong thời kháng Pháp, trong cơ quan Phủ Chủ tịch ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh là người hay khơi các trò chơi sau giờ làm việc. Có khi đó là một buổi tối lửa trại, tự diễn tuồng, chèo, kịch tại chỗ, có cả hoạt náo viên, có khi là họa thơ, đối thơ, v.v. Trong những buổi vui vẻ như vậy, nhiều người đề nghị Hồ Chí Minh lấy vợ. Có lần Hồ Chí Minh nói: “Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!”. Còn Phan Anh, khi thấy sức khoẻ của Hồ Chí Minh có phần giảm sút trong những ngày gian khổ tại An toàn khu (ATK) năm 1948 lúc Hồ Chí Minh 58 tuổi, trông Hồ Chí Minh đã già lắm rồi, có đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người thân thương hằng ngày săn sóc, thì Hồ Chí Minh thủng thẳng nói: “Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!”.

Người ta có quyền không tin những điều trên đây do chính bản thân Hồ Chí Minh viết và nói. Nhưng, ai và những tài liệu nào xác đáng để chứng minh rằng Hồ Chí Minh có vợ, có con? Không, không có tài liệu nào thuyết phục người đọc được cả.

Tôi bày tỏ quan điểm của tôi rằng: việc Hồ Chí Minh có vợ, có con hay không có vợ, không có con thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức của bản thân cả. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Người đã cống hiến cho đất nước, tôi vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc thân yêu của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh, không phải là phản tự nhiên. Cũng chính vì thế mà chúng ta hay nói người vợ hay người chồng chính là một nửa bên kia của nhau. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy Hồ Chí Minh khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó.

Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì Hồ Chí Minh không thể giấu được trong ngần ấy năm. Giấu làm sao được trong con mắt của hàng triệu, hàng triệu con người giữa thế gian, ở đất nước Việt Nam và cả ở trên thế giới. Người bình thường đã khó giấu, huống chi Hồ Chí Minh lại là một người nổi tiếng, là con người của công chúng, thì lại càng khó giấu hơn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cái kim trong bọc lâu ngày rồi sẽ lòi ra”. Đã rất lâu ngày, nhưng cái bọc không thấy lòi ra một cái kim nào cả. Làm gì có cái kim nào. Còn miệng thế gian thì càng không thể nào che được.

Đã có người viết về người con gái đem lòng yêu Hồ Chí Minh, và bản thân Hồ Chí Minh cũng đem lòng yêu người con gái đó. Tôi cho rằng, trong cuộc đời Hồ Chí Minh nếu có như vậy là sự thường. Tình yêu thời trai trẻ, tại sao không? Một thanh niên thư sinh, đẹp trai, hào hoa, phong nhã, lại là con của một người đỗ đại khoa (Phó bảng), con quan, con nhà gia giáo mà không rung động trước phái đẹp, mà lại không yêu một người con gái nào đó, cũng như không có người con gái nào yêu mình, mới là sự lạ. Nhưng cần khẳng định một cách chắc chắn rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ có vợ con.

Đã có không ít người cho rằng, Hồ Chí Minh có một người vợ là người Pháp, một là người Đức, một là người Nga, hai người vợ Trung Quốc, hai người vợ Việt Nam, v.v. Và, đương nhiên câu chuyện và danh sách vợ con của Hồ Chí Minh, theo họ, chưa dừng lại ở đó. Ngay cả nhà nghiên cứu, giáo sư Hoàng Tranh (Học viện Khoa học xã hội Quảng Tây – Trung Quốc hiện đã nghỉ hưu) cũng đã có bài viết tương đối dài đăng trong Tạp chí Đông Nam Á Tung hoành, số 11-2001 (Trung Quốc) đề cập về cuộc sống vợ chồng Hồ Chí Minh – Tăng Tuyết Minh (người Trung Quốc). Nhưng, hãyđọc thật kỹ bài viết của Hoàng Tranh thì thấy rằng, lập luận và những chứng cớ mà ông nêu ra không có sức thuyết phục. Mấy cuốn sách, bài báo của một số người ngoài nước chẳng rõ thật hư ra sao về vấn đề này, lại viết theo Hoàng Tranh. Công bằng mà nói, giáo sư Hoàng Tranh không phải là người không có cái tâm trong sáng. Ông vẫn là một nhà Hồ Chí Minh học có tiếng ở Trung Quốc và trên diễn đàn khoa học quốc tế. Ở Hoàng Tranh, có cái gì đấy như là sự đoán định không chắc chắn về việc này, sự suy diễn chỉ trên một mẩu nào đó của sự kiện, cho nên tôi cho rằng, những nhận định về chuyện vợ con của Hồ Chí Minh là không thuyết phục được người đọc.

Hồ Chí Minh là người hoạt động bí mật nhiều năm trời, cho nên không phải những gì mà tài liệu viết về Hồ Chí Minh đều là đúng sự thật, mặc dù đó là những tài liệu báo cáo chính thức, tài liệu lưu trữ trong kho lưu trữ chính trị-xã hội của Liên bang Nga từ năm 1992 (tiếp nối Lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô). Vì một số người không đặt vào hoàn cảnh đó khi nghiên cứu, cho nên mới dựa vào tài liệu báo cáo của Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương và tài liệu lưu trữ ở Liên bang Nga để nhận định không đúng rằng, Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng.

Đấy là chưa kể có những người cố tình xuyên tạc, thêu dệt ly kỳ mặt “tình ái” của Hồ Chí Minh với mục đích bôi xấu Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chính là người bội bạc; rằng không phải Hồ Chí Minh là người đấu tranh giải phóng con người, đặc biệt là đấu tranh giải phóng phụ nữ, mà Hồ Chí Minh coi phụ nữ chỉ là đồ chơi; rằng, Hồ Chí Minh là con người nói dối, v.v. Tôi nghĩ rằng, nếu Hồ Chí Minh có đến 7-8 bà vợ và nhiều con như thế thì khi Việt Nam đang có chiến tranh ác liệt như vậy thì nhiều bà vợ chưa đến đất nước chồng mình đã đành, nhưng khi Việt Nam đã hoà bình rồi, khi Hồ Chí Minh đã nằm yên bình trong Lăng ở Ba Đình – Hà Nội rồi nhưng vẫn không có bà vợ nào (nếu còn sống), con cái nào của Hồ Chí Minh đến thăm. Làm gì có. Nhiều người cứ úp úp mở mở, viết và nói cứ lấp la lấp lửng làm ly kỳ hóa cái chuyện vợ con của Hồ Chí Minh.

 

 

 

Trao đổi về nguyên nhân từ sự bất mãn của một số cá nhân đối với cách mạng Việt Nam

 


Những người bất mãn là những người Việt Nam từng có liên quan đến việc này việc nọ, từng giữ chức vụ này chức vụ nọ trong bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam, nay không còn có tình cảm với cách mạng hoặc thù hận do nhận thức sai lệch, do bị “dính” đến một hoặc nhiều sự kiện nào đó, hoặc bản thân mình hoặc người trong gia đình mình bị tổn thương… Điều này là dễ hiểu, vì trong quá trình cách mạng Việt Nam, có một số vấn đề sai lầm ảnh hưởng đến gia đình người này, người nọ, có một số sự việc rất nhạy cảm liên quan trực tiếp đến người này, người nọ. Chúng ta thấy đó là những người liên quan đến cải cách ruộng đất, đến “Nhân văn giai phẩm”, đến nhóm chống Đảng, v.v. Một số trong họ đang ở trong nước, một số khác định cư ở nước ngoài, có trường hợp “ra đi” hợp pháp, lại có trường hợp không hợp pháp. Chúng ta thường thấy bài vở, tác phẩm của họ trên các quầy sách báo nước ngoài, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, trên các báo mạng internet. Đó là Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Lê Hữu Mục, Thế Anh, Dương Thu Hương, v.v.

Tôi thấy rằng, những tác phẩm, bài vở của họ về cách mạng Việt Nam, về Hồ Chí Minh sặc mùi cực đoan, xuyên tạc, chửi rủa, hằn học, thâm thù…Họ dùng đủ lời lẽ, lập luận để vu cáo, xuyên tạc. Họ làm ra vẻ họ là những người “trong cuộc”, là những người nằm trong lòng các sự kiện đó, thậm chí là những sự kiện cho đến hiện nay được nhiều người coi là bí ẩn, cho nên họ cho rằng, họ là những người nắm chắc được bản chất của sự kiện để đưa ra thông điệp cho người đọc, người nghe rằng, những điều họ viết, họ nói mới là sự thật. Họ tự phong cho mình là người “vén những tấm màn bí mật” ở chốn “thâm cung bí sử”.

Thế yếu nhất của họ thường là bị mang danh là người bất mãn với chế độ chính trị, với cách mạng Việt Nam, bị nhiều người coi là “những phần tử phản động”, cho nên họ có thái độ cực kỳ cay cú, cho nên họ sẵn sàng bịa chuyện, hoặc dựa trên một vài sự kiện, tài liệu có thật để rồi thêm thắt, bình luận, hoặc viết rất ly kỳ, tinh vi để nói xấu Hồ Chí Minh, nói xấu cách mạng, tự bào chữa cho những sai lầm của họ hoặc gia đình họ trong quá khứ, hoặc nhấn mạnh, tô đậm những sai lầm, khuyết điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính bản thân Dương Thu Hương cho rằng: “Còn đối với những người vượt biên, hay những người là nạn nhân của chế độ cộng sản, buộc phải rời Tổ quốc ra đi trong một nỗi đau khổ khốn cùng, trong một lòng thù hận khôn nguôi, thì chỉ có Hồ Chí Minh là cái đích, cái biểu tượng dễ nhất để mà khạc nhổ, để mà đánh đấm”.

Sự bất mãn của họ làm cho họ phát ngôn rất cực đoan về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ tìm mọi cách nói xấu Hồ Chí Minh, ly gián người này người nọ, bịa chuyện. Họ tận dụng nhiều diễn đàn, thể loại để làm việc đó, như viết báo, nhất là trên mạng internet; viết sách; nói chuyện với nhiều đối tượng; viết văn, v.v.

Số người bất mãn này thường liên lạc với nhau ở trong nước và ngoài nước, tự phong là những người dân chủ, bất đồng ý kiến với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Trong số những người bất mãn, thực ra không phải ai cũng xuyên tạc Hồ Chí Minh. Họ chĩa mũi dùi vào Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng có không ít người vẫn kiềng nể Hồ Chí Minh; nhưng phần đông trong số họ là xuyên tạc đả kích cả hai, cả Đảng Cộng sản Việt Nam, cả cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực ra, tác dụng của sự xuyên tạc từ những người bất mãn này không thực sự lớn, vì họ mang danh là những người phản bội; người đọc, người nghe thấy rõ bản chất, thái độ, động cơ chính trị của họ. Lợi thế của họ chính là ở chỗ họ nói với những người nghe và người đọc rằng, họ là những người trong cuộc; họ là sản phẩm của cách mạng, thậm chí một số người xuất thân là con em cách mạng, v.v. Số này, lúc đầu còn có vẻ e dè, nhưng càng về sau viết xuyên tạc về Hồ Chí Minh càng mạnh mẽ hơn, không ngại bất cứ khía cạnh nào, kể cả những khía cạnh về mặt đời tư của Hồ Chí Minh, cố tình bôi đen đời tư của Hồ Chí Minh và rồi mức độ càng ngày càng cay cú, cực đoan.

Trở lên bên trên, đã nêu lên nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và trước tác của Hồ Chí Minh. Có thể còn một số nguyên nhân nữa, có cả nguyên nhân xa. Chẳng hạn, có cả nguyên nhân là cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến hiện nay chưa được giới khoa học trong nước nghiên cứu một cách đầy đủ, chưa được làm rõ và khẳng định một cách chắc chắn. Cũng có thể nói rằng, còn khá nhiều khoảng trống nghiên cứu về Hồ Chí Minh chưa được lấp đầy. Điều này vô hình trung trở thành một mặt thuận lợi cho những kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc Hồ Chí Minh.

 

 

Nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh của các thế lực phả động chống phá cách mạng Việt Nam

 


Những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phản bác về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Hồ Chí Minh, có thể nêu ra những nguyên nhân cơ bản sau đây:

Nguyên nhân từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

Muốn nhấn mạnh thêm rằng, trong nguyên nhân từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản, có cả việc một số người không thừa nhận sự nghiệp cách mạng Việt Nam, ghét Đảng Cộng sản Việt Nam rồi đi đến phủ nhận luôn vai trò Hồ Chí Minh. Điều này có lôgíc của nó. Bởi vì, sự nghiệp của Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một.

Chủ nghĩa cộng sản đã và đang là một tâm điểm để các thế lực thù địch đả kích. Đã có rất nhiều chiến dịch lớn có quy mô quốc tế chống phá, vu khống chủ nghĩa cộng sản. Đã có lần Hội đồng châu Âu ra một luật lên án chủ nghĩa cộng sản, đặt chủ nghĩa cộng sản ngang hàng như là chủ nghĩa phátxít. Các thế lực thù địch không từ một phương thức nào để xuyên tạc về chủ nghĩa cộng sản, trong đó có việc nói xấu những lãnh tụ, những người lãnh đạo cách mạng vô sản ở nhiều nước, ngay cả đối với V.I.Lênin. Điều này không có gì lạ. Đã có thời những người hận thù cộng sản ra sức xuyên tạc về “chân dung” của người cộng sản khi cho rằng, đó là người không có tình cảm, không có tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em, v.v. Thậm chí, cực đoan hơn, họ còn vẽ tranh tuyên truyền ng­ười cộng sản với hình ảnh mồm ngậm con dao găm, máu từ mồm rỉ ra, mặt đằng đằng sát khí, cứ như một con ma cà rồng, một con ngáo ộp. Dương Thu Hương là một trong những người ghét cộng sản, đã nói thẳng tâm trạng của nhóm người căm ghét chủ nghĩa cộng sản liên quan đến vấn đề này như sau: “Hồ Chí Minh đối với những người căm thù cộng sản trở thành hố rác để người ta trút tất cả những sự phẫn nộ, thù hận và sự khinh bỉ, vân vân và vân vân”[1].

Đã có lần Hồ Chí Minh ứng xử để “quảng bá” cho hình ảnh của người cộng sản trước định kiến xấu của nhiều người trên thế giới. Trong chuyến công du sang thăm Pháp với tư cách Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, tại một buổi tiếp xúc giữa giới báo chí với Hồ Chí Minh, sẵn ý định nhấn mạnh sự không cảm tình cộng sản, có nhà báo đã hỏi Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có phải là người cộng sản không?”. Hồ Chí Minh trả lời bằng cách đến bên lẵng hoa, vừa rút từng bông hoa tặng mỗi nhà báo đứng gần kèm theo câu trả hóm hỉnh: “Tôi là người cộng sản như thế này này” (Je suis communist comme ca). Ngư­ời cộng sản cũng như­­ bao con ngư­­ời khác, cũng có trạng thái tâm lý hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cũng có tình cảm, cũng có tình nghĩa, cũng có một cuộc sống gia đình bình thường. Có khác chăng là nếu cách mạng cần thì họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng để phục vụ Tổ quốc, biết ứng xử mối quan hệ gia đình trong mối quan hệ chung với Tổ quốc.

Đây thuộc về cái TÂM. Cái tâm không trong sáng, đầy thù hận với sự nghiệp cách mạng gắn với tên tuổi của con người Hồ Chí Minh, thì điểm nhìn và cách nhìn của những người có cái tâm không trong sáng đó chắc chắn bị lệch lạc. Ở đây, không phải là sự ngộ nhận mà là ý đồ cố tình xuyên tạc. Ngộ nhận thì khác. Có thể người ta có cái tâm trong sáng, nhưng những thông tin đến với người ta bị sai lệch cho nên rất dễ làm cho người ta đi đến nhận định không đúng. Mỗi một khi thông tin đã được điều chỉnh, được đính chính thì người ta có thể dễ dàng thay đổi lại nhận định. Hoặc, cũng đối với một số người vốn có cái tâm trong sáng, khi nghiên cứu, nhìn nhận về Hồ Chí Minh nhưng với phương pháp không đúng thì cũng có thể đánh giá về Hồ Chí Minh bị sai lệch. Cũng như trường hợp trên đây, nếu được thay đổi phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận cho phù hợp, cho đúng đắn thì người ta sẽ điều chỉnh lại nhận định cho đúng đắn hơn.

Đằng này, không phải là từ các nguồn thông tin, từ mức độ và chất lượng thông tin (các tài liệu của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh); không phải là từ phương pháp tiếp cận không phù hợp hay phương pháp nghiên cứu, nhìn nhận sai, mà là từ định kiến thâm thù. Đã như vậy thì một số người thuộc về trường hợp này sẵn sàng bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm. Có một số trường hợp, một số người thuộc dạng có cái tâm không trong sáng này thể hiện cách nói, thể hiện ra các bài viết một cách tinh vi, ngụ ý, ẩn dấu, nhưng có không ít trường hợp thật trắng trợn, cực đoan, thể hiện ra bằng những lời lẽ “hàng tôm hàng cá”, hằn học, chửi bới, mạt sát Hồ Chí Minh, v.v. Tất cả các dạng đó có thể không hợp với đối tượng người này nhưng lại hợp với đối tượng người nghe, người đọc loại khác. Nhưng, xem ra, loại bịa đặt nhân chứng, tài liệu, hoặc dựa trên một vài sự kiện có thật để xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác Hồ Chí Minh, nghĩa là những cách trình bày lắt léo, tinh vi, cộng với bút pháp có vẻ ly kỳ hấp dẫn là có vẻ “ăn” hơn cả, nghĩa là có tác động lớn hơn cả, lừa được không ít người, nhất là đối với lớp người trẻ.