Tư tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin,
sự đồng thuận xã hội. Vì thế, các thế lực chống phá, thù địch luôn xác định đây
là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập trung tấn công.
Tư
tưởng chính trị bàn ở đây là tư tưởng về vấn đề chính trị mà Đảng Cộng sản Việt
Nam tổ chức, xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân. Lập trường này
được C.Mác cùng F.Ăngghen xây dựng trên cơ sở sự vận hành và phát triển của các
hình thái kinh tế xã hội trong hiện thực lịch sử nhân loại. Đó là học thuyết vĩ
đại của xã hội loài người-học thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Đó cũng chính là tư tưởng chính trị then chốt; là yếu tố quan trọng hàng
đầu cần được xác lập một cách vững vàng trong mỗi chủ thể của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tư
tưởng chính trị là nhân tố hàng đầu tạo niềm tin, sự đồng thuận xã hội. Vì thế,
các thế lực chống phá, thù địch luôn xác
định đây là mắt xích, mũi đột phá quan trọng cần tập
trung tấn công. Trong cuốn sách Chiến thắng không cần chiến
tranh (1999), Níchxơn đã viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết
định nhất”, “vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ
kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư
tưởng”. Theo đó, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân
quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không
ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ
nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của
chúng ta.
Các
thế lực thù địch, phản động, chống phá vẫn luôn tự cho họ “cái quyền” đòi
Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn với “lỹ lẽ” rằng đó là
“con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt”. Họ ra sức lợi
dụng sự kiện CNXH theo mô hình Xô viết ở Liên xô và các nước Đông Âu trước đây
sụp đổ để “kết luận” rằng CNXH đã cáo chung, Đảng Cộng sản đã hết vai trò lịch
sử; rằng Việt Nam kiên định đi lên CNXH là sai lầm, là đi vào “vết xe đổ” Liên
Xô và Đông Âu. Họ cố tình xuyên tạc: “Chủ nghĩa xã hội mà C.Mác nêu ra chỉ là
một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện
được”. Hơn thế, họ “dạy” Đảng ta cần phải đi theo con đường - mô hình “xã hội
dân chủ”, “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”... Đồng thời không ngừng rêu
rao, kích động, bôi đen chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế thị trường
định hướng XHCN, cho rằng, kinh tế thị trường với CNXH như lửa với nước, không
thể đồng hành, từ đó phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất
đai… Những luận điệu nêu trên vẫn thường được “nhai đi nhai lại” khi trắng
trợn, lúc tinh vi; lúc thì “mượn mồm” của một số người biến chất, bất mãn, khi
thì thô lỗ nhân danh, khoác áo “những nhà chính trị”, “tổ chức nọ”, “hội kia”.
Tuy giọng điệu, cung bậc khác nhau, song đều chung một kiểu “mưa dầm thấm lâu”,
nhằm làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm
tin chính trị.
Để
tạo sức “đề kháng” trước những “cơn gió độc”, bên cạnh không ngừng củng cố bản
lĩnh và sự kiên định của mỗi công dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng
viên vào mục tiêu, con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, chúng
ta cần tiếp tục thấu triệt: Sự thay thế của hình thái kinh tế XHCN vào
hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa là sự tiếp nối tất yếu trong dòng chảy phát
triển. Vấn đề này đã được khẳng định bằng chính quá trình phát triển của lịch
sử nhân loại. Thực tiễn tiến trình cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng đã
và đang minh chứng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với
thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại. Kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự kiên định khoa học, khách
quan, đúng đắn, phù hợp, đang từng bước thỏa mãn khát vọng chính đáng của nhân
dân: độc lập, hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Những nhà tài phiệt của chủ
nghĩa tư bản luôn muốn duy trì sự bất bình đẳng của xã hội để thâu tóm lợi ích.
Vì thế, bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc của quần chúng nhân dân lao động
không phải là mục tiêu mà họ hướng tới, không phải là bản chất chế độ mà họ
muốn duy trì.
Vẫn
“quanh đi quẩn lại” với những “diễn giải” như, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi
thời, chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất phương Tây thế kỷ XIX; ở thế
kỷ XXI, chủ nghĩa này đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua... từ đó, những thế
lực chống phá, phản động luôn “to mồm” rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp
với Việt Nam; việc du nhập chủ nghĩa này vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử,
chỉ đưa đến tai họa vì đây là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân
tộc... Cùng với đó, họ không ngừng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh
cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Người; bóp méo sự thật công cuộc đổi mới ở
Việt Nam... Những “giọng điệu” đó đều không nằm ngoài mục đích: phủ định sự vận
dụng sáng tạo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt
Nam; phủ nhận nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng và nhân dân ta trong sự
nghiệp xây dựng xã hội của dân, do dân và vì dân.
Để
phản bác lại những “lập luận” nêu trên, chúng ta cần không ngừng nắm rõ, hiểu
sâu, củng cố lại nhận thức: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và
học thuyết khoa học do C.Mác và Ph.Ăng-ghen xây dựng, V.I.Lênin bảo vệ và phát
triển, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, bổ sung trong điều kiện cụ thể một nước
thuộc địa, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu; được hình thành và phát triển trên
cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là
thế giới quan phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn
cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân
dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. Trên
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác -
Lênin đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là những quy luật
của quá trình ra đời, phát triển, suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất mới - phương thức sản
xuất cộng sản chủ nghĩa. Xây dựng CNXH ở Việt Nam là kết quả tất nhiên của sự
vận dụng thế giới quan, phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác -
Lênin, CNXH khoa học vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trên cơ sở quan điểm
Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng trong quá trình trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, cùng toàn dân xây
dựng một xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Hết
năm này qua năm khác, các phần tử, tổ chức phản động, thù địch vẫn không ngừng
ra rả những luận điệu “rườm tai” như “Đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ có
khả năng quản trị đất nước”; “chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là trái với
nguyên tắc nhà nước pháp quyền, khiến xã hội không có tự do, dân chủ”; “từ bỏ
độc quyền lãnh đạo là then chốt của chế độ dân chủ”... Đồng thời, họ dẫn những
quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập; đồng nhất nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá
nhân...
Một
số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị ở trong nước cũng thường “vào hùa” “ăn theo”,
khi thì nhân danh “quyền công dân”, khi thì gắn mác “tâm nguyện vì nước vì dân”
để đưa ra những “yêu sách” kiểu như: Đảng phải “thay đổi Cương lĩnh xây dựng
đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”... Tất cả những “kiểu cách” nêu
trên, dù được ngụy trang bằng những mỹ từ nào đi nữa, thì bản chất và mục đích
vẫn là nhằm làm phân tâm, tạo hoài nghi trong xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”
“tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên, để từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng
chính trị của Đảng, làm “nhiễu loạn” mọi hệ giá trị, tiến tới phủ nhận chế độ,
thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó, việc nắm chắc những nội dung căn cốt
về tư tưởng chính trị là “vũ khí” quan trọng nhất để mỗi chúng ta chiến thắng
chính mình - vượt qua những mơ hồ, hoài nghi, dao động; đồng thời đấu tranh
phản bác có hiệu quả với những giọng điệu “ngụy dân chủ”, “ngụy lý luận”.
Như
chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng
có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn
tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa
chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh
lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất
dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo
của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân
dân. Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan
phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết,
trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng
đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều
kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích
của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh là tại các
nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có
thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị;
đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư
bản.
Đại
hội XIII của Đảng cũng đã xác định: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các
nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Để
đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư
tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước
hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận
thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền
“phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó
tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng
cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư
tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu
XHCN. Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội
dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời
và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong
tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện
nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục
đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng
nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối
tượng.
Đấu
tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù
địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng.
Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt
nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc
sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng,
bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc và chống phá Đảng ta. Mọi người phải nêu cao tinh thần cảnh giác, tránh bị lôi cuốn vào những thông tin sai lệch của chúng
Trả lờiXóa