Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢN BỘI!

Nguyễn Quang Thiều mấy năm nay thể hiện rất rõ những quan điểm sai trái về chính trị xã hội, về lịch sử, về văn chương, nhưng lại được Đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam bầu làm Chủ tịch với số phiếu rất cao. Khi đắc cử, Nguyễn Quang Thiều đã ngang nhiên thể hiện con đường của mình khi chọn Inrasara, một kẻ có quan điểm văn chương sai trái và phản động, làm Chủ tịch Hội đồng Thơ; vinh danh và chọn đăng tác phẩm của Phạm Lưu Vũ, một kẻ viết những tác phẩm có tư tưởng phản động. Như vậy Hội Nhà Văn Việt Nam lại đi theo vết bánh xe đổ của Hội Nhà Văn Hà Nội từng bỏ phiếu bầu Phạm Xuân Nguyên nhiều lần làm chủ tịch, trong khi Phạm Xuân Nguyên luôn là một người lên tiếng ủng hộ những kẻ phạm pháp và sai trái, từ Lê Công Định, Phương Uyên, Nhã Thuyên cho đến Nguyễn Quang Lập; một nhà phê bình văn học lại cho trong cuộc kháng chiến giành lại nền độc lập của ta là “những người lính là những con người bị vất vào cuộc chiến, buộc phải bắn giết nhau”.

Nếu nền chính trị Việt Nam cũng bầu người như Nguyễn Quang Thiều, Phạm Xuân Nguyên làm người lãnh đạo cao nhất thì chắc chắn chế độ chính trị của nước ta sẽ bị phá hủy, sẽ như Liên Xô ngày nào bị sụp đổ, tan nát.

Thật tếu khi có bọn trí thức và nhà văn thao thức đêm đêm mong chế độ hiện tại của Việt Nam sụp đổ. Họ nghĩ Việt Nam ta chỉ cần thay Đảng lãnh đạo, thay chế độ là sẽ thành Phương Tây, thành Bắc Âu. Họ đã không hiểu Nguyên lý Lượng đổi thành Chất của triết học duy vật biện chứng, chỉ khi nào trình độ quản trị xã hội của thế chế Việt Nam và trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam đủ Lượng mới biến đổi được xã hội Việt Nam về Chất, không thể có chuyện một ông nông dân mặc áo, đeo kính của ông giáo sư là sẽ thành giáo sư. Xã hội Việt Nam dù còn nhiều yếu kém, sai trái, tệ nạn, nhưng tổng thể mặt tốt vẫn nhiều hơn mặt xấu, nên mới ổn định và phát triển như ngày nay. Nó là một quá trình từ từ, khó khăn, đúng theo Nguyên lý Lượng đổi thành Chất. Tất nhiên, ngược lại, nếu Lượng xấu của toàn xã hội phát triển mạnh hơn và chiếm đa số như Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại thì chế độ sẽ sụp đổ. Chúng ta cần phải biết Liên Xô là một nước hùng mạnh, khoa học Kỹ thuật tiên tiến. Hồi Đại chiến Thế giới, Liên Xô tự mình sản xuất xe tăng, máy bay, đạn dược, đánh tận sào huyệt Phát xít Đức, khiến Hít Le phải tự sát. Liên Xô tan vỡ, Nước Nga là một phần lớn cũng giàu tài nguyên khoáng sản, ý thức dân chúng thuần nhất không bị ngoại bang đô hộ, không phức tạp như nước ta, nên đã dần hồi phục. Còn Việt Nam ta nếu sụp đổ, như lịch sử đã nhiều lần lặp lại, sẽ là hỗn loạn, là giành giật cấu xé, là sự can thiệp của ngoại bang, sẽ lại có phe cứu nước, phe bán nước, lại nồi da xáo thịt, sẽ là bản sao dạng Pakistan, Afganistan, Irac, Lybia, Ai Cập, Syria… 

Từ chuyện nhỏ bầu bán Phạm Xuân Nguyên ở Hội Nhà văn Hà Nội đến chuyện lớn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khóc nhận khuyết điểm của Bộ Chính trị trên diễn đàn, được chiếu trên VTV, tôi đã viết về Nguyên lý Tập trung Dân chủ.

Nguyên lý Tập trung dân chủ là khái niệm của nền chính trị Liên Xô thời Lê-nin. Theo tiếng Nga là Демократический централизм. Vậy Dân chủ là tính từ bổ nghĩa cho Tập trung, nếu dịch cho chính xác phải là: Nguyên lý tập trung có tính dân chủ. Vì vậy cái chính là tập trung, là mục đích, nghĩa là làm mọi chuyện phải có sự lãnh đạo. Tiến hành các đại hội, bầu cử nhân sự đều là việc đại sự, tối quan trọng, lại càng phải tuân theo nguyên lý tập trung này. Nhưng để thực hiện được sự tập trung tốt nhất, đúng nhất, lại phải tiến hành một cách dân chủ, mang tính dân chủ, để tránh sự độc đoán, sai trái. Việc Hội Nhà Văn Hà Nội từng bỏ phiếu bầu Phạm Xuân Nguyên làm chủ tịch là điển hình của việc không theo Nguyên lý Tập trung dân chủ, không có chỉ đạo, giám sát tiêu chuẩn các ứng cử viên, nên đã theo một thứ dân chủ tùy tiện, dân chủ bầy đàn, dân chủ chống đối, dân chủ lộn ngược. Theo Nguyên lý Tập trung dân chủ, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cấp trên phải giám sát những việc làm quan trọng của cấp dưới, những người không đủ tiêu chuẩn như Phạm Xuân Nguyên lẽ ra phải bị loại ngay trong danh sách ứng cử, như vậy thì làm sao có được cái kết quả dân chủ lộn ngược trên? Còn Nguyễn Quang Thiều theo Nhà Văn Trúc Phương, đã từng bỏ Đảng, từng sai phạm khi duyệt in sách, nhưng vẫn được đề cử, rồi trúng cử với số phiếu cao. Tiếc là công tác cán bộ ở nhiều lĩnh vực cũng đã có những vụ bầu bán sai Nguyên lý Tập trung dân chủ, nên mới có chuyện những người leo đến Ủy viên Bộ Chính trị cũng bị kỷ luật, vào tù.

Hôm nay vì thấy tình trạng Hội Nhà Văn Việt Nam có sự thoái hóa rất giống xã hội Liên Xô những ngày cuối cùng, tôi viết lại đôi nét sự tan vỡ của Liên Xô.

Báo Nhandan.online đã từng in loạt bài Những bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là sự xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Đảng.

Lê Nin, tháng 4-1906, trong Đại hội lần thứ 4 Đảng Bolshevik đã đề nghị thông qua điều lệ: Mọi tổ chức của Đảng đều được xây dựng trên Nguyên tắc Tập trung Dân chủ. Nhưng sau Cách mạng Tháng Mười, các thế lực thù địch phá hoại điên cuồng, Lê Nin đã tăng cường tính tập trung để giúp cho chính quyền Xô Viết non trẻ đứng vững. Nhưng điều này lại vi phạm dân chủ, dẫn đến khuynh hướng chuyên quyền, độc đoán. Vì thế Lê Nin đã cho thành lập Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban Giám sát Trung ương để đảm bảo cân bằng giữa sự tập trung và dân chủ. Nghiêng về tập trung sẽ thành độc tài, nghiên về dân chủ sẽ thành hỗn loạn. Nhưng kết quả cuối cùng mọi chuyện phải là sự tập trung, thống nhất, nhưng là sự tập trung thông qua dân chủ. Đến thời Stalin, tệ sùng bái làm cho Stalin trở thành độc đoán. Ủy ban Giám sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới và những người bất đồng ý kiến. Thời Brê-zơ-nev đã vứt hẳn giám sát trong Đảng. Cuối cùng đến thời Gooc-ba-chov, trong Đại hội 28, Gooc-ba-chov đã công khai phê phán và cho thông qua Điều lệ Đảng xóa bỏ luôn nguyên tắc tập trung dân chủ.

Từ việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến một chuỗi sai lầm trong công tác cán bộ. Khi lựa chọn cán bộ, tiêu chuẩn tài - đức bị thay thế bởi sự chạy chọt, quen thân, dẫn tới hiện tượng kéo bè, kéo cánh.

Khơ-rút-shov từng thông qua vợ của Stalin, bạn học của ông ta ở đại học, để thể hiện “sự trung thành của mình”. Mấy chục năm sau, Gooc-ba-chov cũng có một hồi ức tương tự: “Khi giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, Chernenko bảo tôi, “Bre-zơ-nev biết đồng chí đứng về phía đồng chí ấy, trung thành với đồng chí ấy. Đồng chí ấy rất coi trọng điều này”. Dưới thời Bre-zơ-nev, khi cân nhắc, đề bạt một ai đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là xem người đó có quan hệ tốt với phe của Bre-zơ-nev hay không? Tikhonov, một người bình thường, nhưng do là đồng hương kiêm bạn học của Bre-zơ-nev nên đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Bre-zơ-nev đã đặc biệt tâm đắc câu nói của Khơ-rút-shov: "Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là sự bảo đảm cho thành công", đã phát triển thành chế độ chức vụ suốt đời. Các cán bộ cao cấp của Liên Xô như Bre-zơ-nev đều qua đời khi còn đương chức.

Khi Gooc-ba-chov lên nắm quyền, ông ta thẳng tay thay thế những cán bộ phản đối “cải tổ”, đề bạt những cán bộ ủng hộ chủ trương “Tây hóa”. Ông ta đã cài người vào các vị trí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, thay thế hơn 20 bộ trưởng và 92,5% bí thư khu ủy, thành ủy, tỉnh ủy, đã tạo ra sự hỗn loạn chưa từng có trong đội ngũ cán bộ ở Liên Xô, rơi vào tình thế không thể nào cứu vãn nổi.

Như vậy sự phản bội lý tưởng đã biến Nhà nước Liên Xô từ Xã hội Chủ nghĩa thành một Nhà nước Phong kiến trá hình. Chính cái nhà nước này đã đẻ ra tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, gây ra sự bất mãn sâu sắc trong xã hội Liên Xô. Dưới thời Gooc-ba-chov, tầng lớp đặc quyền còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có, để lại cho con cháu đời sau. Vì thế khi đất nước đứng trước nguy cơ tồn vong, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của CNTB để hợp thức hóa tài sản.

Sự phản bội thể hiện ngay từ thời trẻ khi Gooc-ba-chov hình thành thế giới quan chính là vào thời kỳ Khơ-rút-shov phủ định hoàn toàn Stalin, phủ định lịch sử của Liên Xô. Điều này đã làm sụp đổ niềm tin vào lý tưởng của Gooc-ba-chov. Gooc-ba-chov từng nói: “Thời trẻ chúng tôi tin theo Đảng, nhưng sau Đại hội 20, tư tưởng của chúng tôi bắt đầu có sự thay đổi”. Gooc-ba-chov còn cùng nhà hoạt động xã hội Nhật Bản Daisaku Ikeda xuất bản cuốn sách không chỉ chĩa mũi dùi vào Stalin mà còn chĩa thẳng vào Lê Nin. Gooc-ba-chov cho Liên Xô cần phải thực hiện một nền dân chủ không hạn chế, đưa ra phương án xây dựng mô hình “Chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo”, thực hiện đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng Cộng sản Liên Xô hoàn toàn mất quyền kiểm soát tình hình. Enxin đại diện cho “phe dân chủ” đòi đa đảng và được Gooc-ba-chov hoan nghênh. Ngày 12-3-1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội đại biểu bất thường, thông qua nghị quyết về lập chức tổng thống Liên Xô và luật bổ sung sửa đổi Hiến pháp Liên Xô. Lời đề tựa, trước hết xóa đi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Dường như đây chính là bài học cho nhóm 72 trí thức nước ta áp dụng khi họ đòi thay đổi Hiến Pháp Việt Nam. Đó chính là thời kỳ tôi viết nhiều nhất, tết rồi mà vẫn có người yêu cầu. Tôi bảo: “Tết rồi không viết nữa!” Vậy mà vẫn “Xin bác cho ý kiến!” 72 ông, mà đứng đầu là cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, gần như đã copy từng bước, từng hành động của những kẻ đã đập vỡ Liên Xô ngày nào. Từ việc nhân danh đấu tranh cho dân chủ, vin vào mọi cớ để quấy rối, đến việc đưa Kiến nghị thay thế Hiến Pháp, xóa bỏ sự hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, tách quân đội và công an khỏi Đảng, thay đổi chế độ! Thật e ngại khi có những khái niệm trở thành “mốt” của ngôn ngữ chính trị. Như chuyện phúc quyết toàn dân Dự thảo Hiện pháp từng được từ Dương Trung Quốc, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường đến cựu Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đều cho rằng Dự thảo Hiến pháp cần phải được phúc quyết toàn dân. Nhưng nhìn một cách thực tế, nếu như vậy, lá phiếu của các vị cũng chỉ có giá trị ngang với bà bán cá, bán rau không hiểu chữ Hiến pháp là gì. Như vậy liệu kết quả phúc quyết toàn dân sẽ là tốt và đúng đắn hơn chăng?

Sự tan rã của Liên Xô là do một loạt nguyên nhân sâu xa về lý luận và thực tiễn. Để rồi cuối cùng chính là việc Goóc-ba-chốp đã bị Enxin đánh bại.

Ngoài những nguyên nhân chính như trên, sự tan rã của Liên Xô cũng có sự góp sức không nhỏ của Phương Tây. Từ năm 1989, Gooc-ba-chov bắt đầu cải tổ làm tình hình kinh tế ngày càng xấu đi, ông ta đã phải quỳ gối cầu viện phương Tây, mở đường cho Phương Tây thực hiện mong ước xóa xổ Liên Xô bằng mồi nhử kinh tế. 5-1991, Gooc-ba-chov đã cử một nhà kinh tế đi Mỹ cùng các chuyên gia Mỹ lập kế hoạch Harvard. Theo đó, mỗi năm phương Tây sẽ viện trợ cho Liên Xô từ 30 tỷ - 50 tỷ USD, tổng cộng trong 5 năm là 150 -200 tỷ USD, đáp lại Liên Xô phải thực hiện cải tổ. Nhưng thực chất Tổng thống Nixon đã nói: “Lợi ích chiến lược lúc này không phải là cứu vớt Moscow về kinh tế mà là phá hủy chế độ XHCN ở Liên Xô”. Kết quả Liên Xô không nhận được một xu nào. Dù vậy, Gooc-ba-chov đã “đâm lao thì phải theo lao”, vẫn phải làm theo con đường phương Tây dẫn dụ. Nhờ đó, riêng Gooc-ba-chov đã được phương Tây trả công bằng giải Nobel hòa bình năm 1990 và rất nhiều tiền dưới hình thức nhuận bút và hình thức khác. 

Dù vậy, khi trở thành kẻ bên lề lang thang, Gooc-ba-chov vẫn không thoát khỏi mặc cảm là tội phạm chủ chốt làm tan vỡ Liên Xô và đã phải thú nhận sự nghiệp chính trị của mình là thất bại.

Với Enxin, một người có bản chất chống đối thể chế Liên Xô, phương Tây cũng coi là đối tượng vận động trọng điểm để tìm cách phân hóa Liên Xô. Khi Enxin có được thế lực, đã được mời thăm Hoa Kỳ và được tiếp đón trọng thị. Enxin đã báo đáp ân huệ mà Hoa Kỳ dành cho mình bằng cách tháng 12-1991, trước khi mật bàn với lãnh đạo Ukraine về việc giải thể Liên Xô, ông đã ta thông báo việc này với Hoa Kỳ.

Như vậy, từ sai lầm và tham vọng, Gooc-ba-chov và Enxin đã làm tay sai cho Phương Tây phá nát chính Tổ Quốc của mình. Mục đích chính của Phương Tây chỉ là phá vỡ đối trọng chủ yếu trên bàn cờ thế giới, chứ không phải vì dân chủ tiến bộ cho người dân Liên Xô! Nên xong việc, những nước thuộc Liên Xô cũ chỉ như dạng chư hầu vương vãi của họ! Cuối cùng việc Liên Xô tan rã chỉ tạo điều kiện cho thế giới trở thành đơn cực nguy hiểm. Trong lịch sử, ta từng thấy quân Nguyên Mông muốn thống trị thế giới như thế nào, rồi bọn Phát xít từng thực hiện tham vọng “làm cỏ” thế giới như thế nào!

Sự tan rã Liên Xô chính là vì người ta nhu nhược không dám bắt giam Gooc-ba-chov, còn chuyện Gooc-ba-chov thua Enxin cũng chính là vì Gooc-ba-chov không dám bắt giam Enxin! Để rồi Tổng thống Nga Putin, người được hưởng lợi nhiều nhất từ sự tan rã của Liên Xô, vẫn phải chua xót nói: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết là một thảm họa địa chính trị lớn nhất của thể kỷ 20”. Đến cả Solzhenitsyn, tác giả đã kịch liệt phủ định Stalin khi suy ngẫm lại cũng phải thừa nhận “Tôi đã hại Tổ quốc Nga”. Còn cựu Tổng thống Ukraine Kravchuk, một trong ba nhân vật tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này cũng nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được cục diện đất nước sẽ phát triển đến như cục diện hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định”.

Con người luôn có phần con và phần người vì vậy các nhà tư tưởng, các nhà khoa học xã hội đã đặt ra các biện pháp để phát huy phần người và khống chế phần con, như nhà nước thì có luật pháp còn nền chính trị Liên Xô từng có nguyên tắc tập trung dân chủ. Hai vế của nguyên lý này luôn phải cân bằng và tùy thuộc vào thực tế, nếu không đều dẫn đến tai họa. Bài học từ sự tan rã Liên Xô thật đau đớn. Chỉ có con người xây dựng nhưng sự đập phá cũng chính từ bàn tay con người. Những kẻ dốt, ác nhưng lại tham vọng chính là những kẻ phá hoại. Những kẽ hở, những sai lầm của công tác cán bộ giúp chúng có vị trí và dần tạo được thế lực để rồi gây họa. Thật e ngại trước tình trạng ở ta cũng có không ít công chức cao cấp vào Đảng chỉ để cầu quyền lợi, hưu rồi không cần nữa thì trở mặt chống Đảng. Kỳ lạ hơn nữa là có cả một số hồi còn đương chức. Như trường hợp Phạm Xuân Nguyên chẳng hạn, là một trưởng phòng của Viện Văn, một Chủ tịch Hội Nhà Văn Thủ đô Hà Nội, nhưng một tay nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng còn một tay lại ký tên trong Danh sách đòi lật Đảng! Tất nhiên không phải họ ngu dốt không phân biệt được tốt xấu, đúng sai, mà chính là họ đã bất chấp tất cả để trục lợi. Vì lĩnh vực truyền thông có không ít người mang danh nhà báo nhưng yếu kém về tri thức, về nhận thức chính trị, nên vẫn đưa tin và hình ảnh của Phạm Xuân Nguyên với tư cách là một nhà phê bình văn học uy tín. Phạm Xuân Nguyên hiện đã mất chức, nhưng lại xuất hiện Nguyễn Quang Thiều ở cấp cao hơn, có sức phá hủy nền văn chương chân chính mạnh hơn, và tác động xấu đến nền chính trị tư tưởng ghê gớm hơn.

Phải chăng vì bàng quan, vì vô cảm, hay vì xã hội ta không còn chuẩn mực của đạo lý nữa nên mới có tình trạng trắng đen lẫn lộn, thiện ác bất minh như vậy?

Môi Trường ST.

Chặn đứng sự lây lan của “diễn biến hòa bình”


          Sử dụng âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động đặt mục tiêu số một là chống phá Đảng, Nhà nước và Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu Nhà nước xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa có lợi cho chúng.

          Sự lây lan của một loại vi rút độc hại – “diễn biến hòa bình” đã tràn sang lĩnh vực mới: quân sự – quốc phòng – an ninh với sự tàn phá ghê gớm, tác hại khôn lường. Đây là sự phái sinh, nảy nở, lây lan của những hận thù, sự tráo trở của loại vi rút “phi nhân tính” cần nhận thức đúng bản chất, âm mưu, hành vi, hoạt động, tác hại và cần phải đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ chúng, không để chúng gây “bệnh”, hại người.

          Âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó được cải biên, cải cách, “đổ thêm hận thù”, “đổ dầu vào lửa”, sự cuồng vọng vào các nội dung, hình thức mới với các chiêu trò chống phá tinh vi, xảo quyệt, vô cùng nham hiểm và xảo trá, gây tác hại không thể lường hết nếu ai đó coi thường hoặc mất cảnh giác.

          Dưới các chiêu thức, chiêu trò và mỹ từ “lộng ngôn, hào nhoáng” để che đậy “cái dã tâm đen tối” bên trong nhưng chúng đã thất bại, bản chất, âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc và cuồng vọng của chúng vẫn lộ ra, đang được phơi bầy nham nhở. Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng mọi phương thức, biện pháp, ý đồ; kể cả biện pháp đê tiện, hèn mọn, bỉ ổi nhất để xóa bỏ bằng được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu thành quả cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của mình qua hai cuộc kháng chiến thần thánh chống kẻ thù xâm lược và hơn 35 năm “thắt lưng buộc bụng” tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước để xây đắp nên cơ đồ, cuộc sống tốt đẹp ngày nay.

          Việc cố tình tìm kiếm các chiêu trò, sử dụng “trăm mưu, ngàn kế” để xoá bỏ nỗi ám ảnh về “hội chứng thua cuộc” đã đeo đẳng bấy lâu nhằm rửa nỗi nhục “bại trận” và lấy lại ánh hào quang đã hoen ố, các thế lực thù địch cho rằng “diễn biến hòa bình” là cách duy nhất, hiệu quả nhất để cướp lại cái đã mất mà không cần súng đạn…, cho nên, sử dụng chiêu trò “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ mà chúng đã áp dụng thành công trong việc lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để “xóa sổ Việt Nam” trên bản đồ thế giới là phương thức hữu hiệu để thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đưa Việt Nam quay về “thời kỳ đồ đá”, phụ thuộc chúng.

          Một trong các chiêu thức được coi là mới nhất, “bạo gan và cuồng vọng nhất”, hết sức nguy hiểm, độc ác là chúng tập trung chĩa mũi nhọn đánh thẳng vào quân đội, công an – lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, bằng cánh thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chúng xác định đây là một trong những mũi nhọn tiến công mang tính đột phá để “hạ bệ “thần tượng” Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Việt Nam.

          Đánh vào Quân đội là “lĩnh vực bất khả xâm phạm từ trước đến nay”, chúng hy vọng thực hiện được mục tiêu kép: vừa rửa sạch mối hận thù trước đây, vừa thủ tiêu được công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyết đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bởi theo chúng, một khi đã đánh gục, xóa bỏ và tước đi sức mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng – chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước thì xã hội Việt Nam sẽ rối loạn, chung chiêng, chao đảo. Lợi dụng tình thế “đục nước béo cò”, chúng sẽ dễ dàng thực hiện mục tiêu tiếp theo là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; đồng thời, thuận đà sẽ đánh đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – ngọn cơ tư tưởng của Cách mạng Việt Nam.

          Âm mưu thâm độc và xảo quyệt ấy chỉ có thể thực hiện “thành công” nhờ áp dụng kịch bản “diễn biến hòa bình” – cuộc chiến trong thời bình, đánh vào lòng người, chiếm đoạt xã hội không cần bom đạn, các loại vũ khí tối tân hiện đại, chúng triệt để khai thác, sử dụng chiêu thức “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Mưu đồ đen tối ấy đang được chúng tập trung tinh lực để đánh thẳng vào trung tâm đầu não – bộ máy lãnh đạo của quân đội và công an; trong đó, xuyên tạc bản chất, vai trò, uy tín, vị thể của Quân ủy Trung ương, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, xuyên tạc Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội; cố tình tung tin, xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc Quân đội ta vào Thành phố Hồ Chí Minh giúp chính quyền và nhân dân Thành phố phòng, chống đại dịch COVID-19 để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, giữa quân đội chủ lực và địa phương, giữa quân đội phía Bắc và phía Nam; qua đó, chia rẽ cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, Nhà nước; so sánh quân đội với công an để hạ thấp vai trò của quân đội là chiêu thức mới nhất, hèn mọn nhất của chúng.

          Đích cuối cùng chúng muốn đi đến, đạt bằng được là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyết đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng ta đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, tách quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đối lập quân đội với Đảng, với Nhà nước; biến quân đội thành tổ chức dân sự, một lực lượng “trung lập”, “quân đội chỉ làm theo pháp luật”, “chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”, v.v.. Đó là cái cách vô cùng thâm độc, tàn ác để chúng vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội, biến quân đội thành đội quân vô dụng, phản bội Đảng, Nhà nước và nhân dân.

          Bằng mọi cách, chúng đang cố tình kích hoạt thực hiện âm mưu thâm độc này. Đích đến của chúng là làm cho Quân đội ta bị “tê liệt”, bị “chệch hướng”, “lầm đường, lạc lối”, mất sức chiến đấu; đến thời điểm đó, chúng hy vọng rằng quân đội ta tất yếu sẽ trở thành đội quân vô dụng, tự đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, trở thành một đội quân “ô hợp”, “vô tổ chức, vô chính phủ”. Đúng vào chính thời điểm ấy, các thế lực thù địch thẳng tay “bóp chết” Đảng, tiêu diệt Nhà nước; triệt phá thành quả cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; thao túng Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tổ chức chính trị – xã hội, ép các tổ chức này phải phục tùng chúng, “ngoan ngoãn” đi theo quỹ đạo của chúng đã “xếp đặt”, vẽ đường. Kịch bản “phi nhân tính” này chúng đã áp dụng thành công ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu những năm 1990 của thế kỷ XX sẽ được tái diễn ở Việt Nam. Một mưu đồ ngông cuồng, phiêu lưu, hết sức mạo hiểm đang bày đặt trước mắt chúng ta, rất cần phải đề cao cảnh giác, không thể xem thường.

          Bài học “xương máu” vô cùng đắt giá, vô cùng đau đớn mà quân đội Liên Xô và quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã mắc mưu “diễn biến hòa bình”, đã bị thao túng, rơi vào tình cảnh bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bị “phi chính trị hóa”, dẫn đến thảm cảnh: “quân hùng, tướng mạnh” là thế, “có lịch sử hào hùng, vẻ vang” là thế, có hàng triệu quân, đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại, được nuôi dưỡng chu đáo, đào tạo rất cơ bản, công phu và được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại từ “đầu đến chân” thế mà mất sức chiến đấu, luôn nhắc nhở chúng ta phải đề cao cảnh giác, không được mắc mưu bị “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”.

          Quân đội nhân dân trong bất kỳ tình hưống nào cũng không được lơ là, sao nhãng việc này; không để lâm vào tình trạng phản bội Đảng, vô ơn Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mang tội với nhân dân, kéo lùi, cản trở sự phát triển tiến bộ của lịch sử; trở nên một đội quân vô dụng; không thể bảo vệ được Đảng, Nhà nước; không bảo vệ được thành quả cách mạng; không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

          Vì vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng phải đạt được hiệu quả: không mắc mưu, bị lừa gạt để bị “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội. Đây là vấn đề “sinh tử”, trực tiếp liên quan đến sự “tồn vong” của quốc gia – dân tộc; có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ đặc biệt hệ trọng, vô cùng cấp bách, liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, quyền sống làm người, miếng cơm, manh áo của gần 100 triệu dân Việt Nam hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau. Đồng thời, là vấn đề tuyệt đối không thể xem nhẹ, coi thường, lơ là, mất cảnh giác.

          Có thể khẳng định đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” nói chung; phòng, chống âm mưu, thủ đoạn và tác hại của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng nói riêng, là nhiệm vụ chính trị mới, đặc biệt hệ trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; là nhiệm vụ “số một” của nhiều nhiệm vụ cấp bách, khẩn cấp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong thời bình, từ khi đất nước chưa lâm nguy.

          Để góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam, trước hết (1) phải giữ sạch lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không được để sự lây nhiễm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”. Chúng ta cần phải (2) nghiên cứu thật kỹ sự phái sinh, mức độ nảy nở, lây lan; sự tác động, ảnh hưởng của hình thức này để tìm ra mô thức đấu tranh phòng, chống hiệu quả nhất. Cùng toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (3) cần phát huy tốt hơn nữa vai trò xung kích, nòng cốt, chủ động, tích cực hơn nữa trong tham gia xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh; góp phần (4) bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (5) bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng; không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đó là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới

CHÂN THIỆN MỸ


          Trong tuần vừa qua là 2 câu chuyện về tôn giáo mà khiến chúng ta phải suy ngẫm.

          Trước hết, đó là câu chuyện về sự hi sinh, cống hiến cho Phật pháp của Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Tại ngôi chùa đã hơn trăm tuổi ở giữa vùng chiêm trũng nông thôn Bắc bộ, được coi là tổ đình của Phật giáo Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua, nơi không có hòm công đức, không có cúng sao, đốt vàng mã, Đại lão hòa thượng Thích Phổ Tuệ cùng sư tăng làm ruộng, trồng rau, trồng cây ăn quả tại vườn để tự nuôi sống mình và tu tập, hành đạo, không hề phiền lụy đến chúng sinh. Ngài thường nói với các đệ tử: “Trong chùa không nên có tiền, tôi không ở gần tiền được”.

          Ông sống, cống hiến cho Phật pháp, một đời chay tịnh, với tâm niệm "Sống được bao nhiêu năm không phải là thước đo giá trị của đời người. Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo". Chẳng cần phải sống trong những ngôi chùa xa hoa, dát vàng, phật tử xe hơi nườm nượp kẻ đưa người đón, tung hô, nhưng ông vẫn nhận được sự kính trọng của chúng sinh, của Phật tử. Đó mới thực sự là giá trị chân thiện mỹ mà không chỉ Phật tử mà ngay cả các tăng ni, Đại đức của Phật giáo phải học tập.

          Trái ngược với câu chuyện hi sinh của Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, đó là những gì đáng xấu hổ của Tịnh Thất Bồng Lai với một kẻ nhơ bẩn nhưng khoác áo thầy tu Lê Tùng Vân. Sẽ thật khập khễnh đẽ so sánh giữa một Đại lão Hòa thượng và một kẻ giả danh như Lê Tùng Vân. Nhưng có thể thấy, những kẻ như Lê Tùng Vân không thiếu trong giới chức sắc tôn giáo hiện nay. Đam mê tửu sắc, ham mê vật chất, thích thú với danh vọng…. đó như một Trư Bát Giới trong giới tu hành. Chúng cấu kết với một đám truyền thông, tôn vinh nhau, sử dụng mạng xã hội để khuếch trương thanh thế, mục đích duy nhất để đánh lừa người dân và từ đó, kiếm lời bất chính từ những đồng tiền từ thiện của những mạnh thường quân, vốn bị che mắt bởi những chiêu trò giả dối.

          Đáng tiếc, chúng ta đang mất dẫn những người tu hành thực sự như Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Thay vào đó, những kẻ như Lê Tùng Vân lại xuất hiện nhan nhản khắp nơi, khiến cho người ta bị lừa bịp, u mê trong câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản: Thế nào là Chân Thiện Mỹ?

          Nên nhớ, tôn giáo phải hướng người ta đến những điều tốt đẹp, đừng coi tôn giáo là một nghề kiếm tiền.

 

CẢNH GIÁC VỚI KÊNH “N10TV” CHỨA NỘI DUNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC


          Thời gian qua, trên không gian mạng xuất hiện nhiều kênh Youtube với nội dung xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước. Trong đó, nổi lên kênh “N10TV” – kênh Youtube do Trương Quốc Huy lập ra, chứa nhiều nội dung tuyên truyền chống Nhà nước, thường được các đối tượng bất mãn, chống đối chính trị chia sẻ rộng rãi trên không gian mạng.

          Trương Quốc Huy, sinh năm 1980 tại Tp. Hồ Chí Minh. Huy học hết lớp 7, từng đi bộ đội nhưng bị trả về do nghiện ma túy. Y đã từng 02 lần bị bắt, bị kết án 06 năm tù vì liên kết với Lisa Phạm (đối tượng thuộc tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”) rải truyền đơn chống Nhà nước để có tiền ăn chơi. Thời điểm năm 2005, Huy bị bắt về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Khi được ra tù, tưởng đâu y sẽ ăn năn hối cải, song ngựa quen đường cũ, Huy gia nhập “Khối 8406” do Nguyễn Văn Lý khởi xướng nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, đòi đa nguyên, đa đảng chống lại Nhà nước. Năm 2011, y trốn qua Thái Lan rồi sang Hoa Kỳ để tránh các chế tài pháp luật của nước ta.

          Sau khi sang Mỹ, Huy tham gia TỔ CHỨC KHỦNG BỐ “Việt Tân”. Dưới sự chỉ đạo của tổ chức, Trương Quốc Huy lập kênh “N10TV” trên Youtube, Facebook để tuyên truyền chống phá nhà nước. “N10TV” sử dụng danh nghĩa cập nhật tin tức, tình hình trong nước cho người Việt Nam tại nước ngoài nhưng thực chất là để chia rẽ sự đoàn kết của người dân Việt Nam với chính quyền, kích động bạo lực, gây bất ổn trong nước và quan trọng hơn cả, là để KIẾM TIỀN trên các nền tảng mạng xã hội.

          Khi thành lập kênh “N10TV”, Huy tỏ vẻ là người hiểu biết tình hình trong nước. Tuy nhiên, Trương Quốc Huy chỉ lợi dụng các bài viết mà báo chí trong nước đã đăng để biên tập các video suy diễn các vấn đề trên theo hướng xuyên tạc, gây hiểu lầm cho người dân, dẫn dắt người dân theo hướng tiêu cực nhằm chống phá sự ổn định của đất nước. Từ khi dịch bệnh Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam, với trí tưởng tượng phong phú của mình, Huy thường xuyên sử dụng “N10TV” để đăng tải các video nói xấu hoạt động phòng, chống dịch Việt Nam. Y phủ nhận hoàn toàn công tác chống dịch của Nhà nước, thậm chí còn bịa đặt, vu cáo ngược lại. Trong khi bạn bè quốc tế ghi nhận thành tích chống dịch của các cấp chính quyền và nhân dân thì Huy lại cố tình kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

          Những chiêu trò xuyên tạc của Trương Quốc Huy đều dựa vào những “thuyết âm mưu” do y nghĩ ra. Huy cập nhật tin tức, tình hình Việt Nam qua báo chí rồi “phỏng đoán” chứ không hề có một bằng chứng, căn cứ xác thực nào. Cũng như các thành viên của tổ chức khủng bố “Việt Tân”, Huy mang bản chất ngoan cố chống Nhà nước và Nhân dân Việt Nam bằng mọi cách. Y lợi dụng các sai sót mang tính cá biệt, nhất thời; các thông tin chưa được kiểm chứng hoặc thậm chí “nghe giang hồ đồn” để bịa đặt, xuyên tạc, thổi phồng để “câu view” kiếm tiền. Trương Quốc Huy càng nói, dư luận trong nước càng căm tức, bất bình vì nhân dân chính là người hiểu rõ nhất về hiện tình đất nước. Y không quan tâm tin tức của mình là đúng hay sai, tốt hay xấu, y chỉ quan tâm các video của mình hôm nay được bao nhiêu lượt xem, kiếm được bao nhiêu tiền.

          Suy cho cùng, “N10TV” hay Trương Quốc Huy đều là những kênh thông tin “lá cải”, nhằm để câu view, kiếm tiền. Những thông tin được chia sẻ trên “N10TV” đều là những thông tin chưa được kiểm chứng, bịa đặt nhằm xuyên tạc, chống phá Nhà nước ta.

          Ngành chức năng khuyến cáo, các hành vi chia sẻ, cổ súy cho kênh “N10TV” là hành vi vi phạm pháp luật, quy định tại Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; thậm chí có thể bị xử lý hình sự với mức phạt tù.

          Hiện nay trên không gian mạng có nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt được các đối tượng chống phá tô vẽ, thêm thắt; nếu người tiếp nhận không cẩn thận sẽ mắc bẫy, nếu chia sẻ, tán phát thì vô tình đã tiếp tay cho kẻ xấu tán phát thông tin vi phạm pháp luật.

Theo: Pháp luật

BẢN LĨNH TRÍ TUỆ VIỆT NAM!


          Ngay đến cả Trung Quốc, một quốc gia với tiềm lực mạnh hơn, kinh tế mạnh hơn, khoa học kỹ thuật nhỉnh hơn, cũng không thể tin được rằng Việt Nam dám làm, dám thực hiện một dự án đầy tính mạo hiểm như vậy giữa lúc bộn bề khó khăn.

          Một số quốc gia ở Đông Nam Á cũng từng nghĩ vậy, người Việt chắc chắn không làm được, không thể được. Vì lúc ấy Việt Nam đang là quốc gia hạ cấp ở một khu vực vũng trũng của thế giới. Để triển khai các cụm nhà giàn như vậy là một điều phi lý và chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Họ nghĩ rằng Việt Nam đang lãng phí lớn cho một dự án đầy mạo hiểm và không khả thi.

          Và rồi Việt Nam đã chứng minh những điều ngược lại. Những công trình nhà giàn nhỏ bé mọc hiên ngang giữa Biển Đông đầy bao la, bốn bề đều là biển cả. Màu xanh của biển và của mây trời, màu xanh của áo lính.

          Trong những năm cuối thập niên 80, kinh tế nước ta còn nghèo nàn, bị cấm vận, khối Đông Âu và Liên Xô gặp khó khăn, tình hình biên giới rất căng thẳng. Nhưng những nhà giàn như thế này, mọc lên giữa biển khơi, đã chứng tỏ rằng: Thứ gì đã thuộc về chủ quyền dân tộc, dù phải đánh đổi tất cả cũng vẫn phải giữ vững.

          "Thực sự rất khủng khủng khiếp. Mình từng được nghe kể các chiến sĩ ngoài nhà giàn khi bão đến phải tự lấy dây thừng hoặc tương tự để buộc mình cố định vào vị trí nào đó để tránh bão cuốn phăng đi. Không ít chiến sĩ đã hi sinh. Ở trong đất liền thực sự thấy biết ơn các anh".

          Chúng ta đã từng có những sự hi sinh ở đây, đại đa phần chúng ta không hiểu rõ được những khó khăn mà người lính gặp phải. Người ta nói: hi sinh giữa thời bình là như vậy. Ngay đến cả hiện tại, ở ngoài đảo xa, vẫn có những chiến sĩ im lặng về với đất mẹ. Đặt ra một câu hỏi rằng: Tại sao họ phải làm thế?

          Dĩ nhiên là không phải là "nghĩa vụ thuế" của mấy bạn đóng được vài đồng VAT hay phí môi trường. Đừng đem sinh mạng của các chiến sĩ ra tính toán thiệt hơn.

          "Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu…" - Đô đốc Giáp Văn Cương

          Trên mỗi nhà giàn, đều có lá cờ đỏ hiên ngang, dòng chữ "CHXHCN Việt Nam" và những ánh đèn chiếu rọi.. Giữa biển khơi, mỗi người ngư dân khi nhìn thấy dấu hiệu này, họ hiểu rằng biển cả là nhà, để những người trong đất liền có thể thấy rõ chủ quyền dân tộc giữa biển khơi được gìn giữ như thế nào. Lá cờ tuy nhỏ, dòng chữ cũng không lớn, thân người thì bé xíu.

          Nhưng Tổ Quốc Việt Nam này, to lớn lắm và vững chãi lắm.

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ: NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG SOI SÁNG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong kho tàng di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng của Người về hội nhập quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại, hợp tác, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

Gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới

TÁM CÁI TÊN – MỘT NIỀM TIN, MỘT Ý CHÍ

 Tổ gồm tám đồng chí, mỗi người một việc khác nhau nhưng có cùng nhiệm vụ: Bảo vệ Bác Hồ. Cả tám đồng chí được Bác đặt tên vào một sáng mùa xuân (tháng 3-1947): Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi.


Tám người con, tám cuộc đời, tám số phận rất đẹp. Nói đúng ra là mười hai con người, mười hai cuộc đời, mười hai số phận. Bởi vì, do yêu cầu nhiệm vụ, có đồng chí chuyển sang công tác khác. Có tới ba đồng chí mang tên “Trường”, hai đồng chí mang tên “Nhất”, và hai đồng chí mang tên “Thắng”.

30 NĂM SAU SỰ SỤP ĐỔ CỦA ĐCS LIÊN XÔ - BÀI HỌC XƯƠNG MÁU CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Chỉ còn ít ngày nữa là đến thời điểm tròn 30 năm Liên bang Xô viết sụp đổ, đánh dấu bằng buổi tối mùa đông lạnh giá 25-12-1991, lá cờ đỏ búa liềm từ đỉnh tháp Kremli sau 74 năm tung bay đã phải hạ xuống, thay vào đó là lá cờ ba sắc. Sự kiện được coi là cơn địa – chính trị chấn động thế kỷ XX này đã làm thay đổi sâu sắc thời đại chúng ta đang sống và để lại rất nhiều bài học đắt giá về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm của Đảng về công tác tư tưởng trong thời kỳ mới

 

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề xây dựng, củng cố và phát triển nền tảng tư tưởng xã hội, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, coi đó là một trong 3 bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng Đảng và được xác định ở vị trí hàng đầu, nhằm tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và quân ta.

Tư tưởng và công tác tư tưởng luôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của lịch sử xã hội.

Quốc gia dân tộc nào có nền văn hóa phát triển cao, một hệ tư tưởng tiến bộ và bền vững thì quốc gia dân tộc đó có được sức mạnh bền vững và sự phát triển toàn diện.

Trong thời đại ngày nay, khi cuộc cách mạng khoa học-công nghệ phát triển mạnh mẽ, xu thế toàn cầu tácđộng đến tát cảcác quốc gia dân tộc trên thế giới, thì các vấn đề về văn hóa -tư tưởng, như bản sắc văn hóa, nền tảng tư tưởng trở thành vấn đề lớn của mọi quốc gia.

Để xã hội bảo đảm định hướng phát triển theo đúng mục tiêu đãxác định, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nền tảng tư tưởng xã hội là yếu tố quyết định.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề xây dựng, củng cố và phát triển nền tảng tư tưởng xã hội, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, coi đó là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị và tư tưởng - văn hóa). Bởivậy, công tác tư tưởng- văn hóa luôn là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng từ khi thành lập cho đến nay.

Trong thời kỳ đổi mới, công tác tư tưởng của Đảng diễn ra trong bối cảnh tình hình phức tạp, trong đó nổi lên là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm phá hoại thành quả cách mạng của Đảng, phá hoại sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Đảng và dân tộc ta. Để bảo vệ thành quả cách mạng, thựchiện công cuộc xây dựng, phát triển đât nước, công tác tư tưởng của Đảng luônđược đặt lên hàng đầu.

Xuất phát từ tư tưởng của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng”(1), vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng”(2), Đảng ta đã hình thành hệ thống quan điểm chỉ đạo công tác tư tưởng.

Một là, công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phong của Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, công tác tư tưởng phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.

Ba là, công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp uỷ các cấp và đồng chí bí thư cấp uỷ, của cả hệ thống chính trị với sự tham gia, đóng góp của nhân dân, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận, báo chí của Đảng; phải phát huy dân chủ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Đảng và toàn xã hội để tạo bước phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, báo chí.

Bốn là, công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí và tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực; phải gắn bó mật thiết và phục vụ có hiệu quả công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao đời sống và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Năm làbáo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí.  

Giải pháp mới, hiệu quả mới trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

             Trong thời gian gần đây, lợi dụng mạng xã hội các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nhất là những sự kiện chính trị, xã hội lớn của nướcta để xuyên tạc, bịa đặt, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, biểu tình chống đối chính quyền, tập dượt bạo loạn, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Để công tác công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc ngày càng có hiệu quả trong thời gian tới, thiết nghĩ các cấp ủy đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

            Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Phải luôn chủ động nâng cao kiến thức xã hội về mọi mặt, nhằm xây dựng cho mình nhận thức chính trị đúng đắn để xem xét, tiếp cận thông tin một cách khách quan, đầy đủ, chính xác từ những nguồn thông tin chính thống, tránh tiếp cận thông tin phiến diện, một chiều. Cảnh giác trước các nguồn thông tin sai trái, thù địch, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó phải có ý thức tự giác, phát huy tính kỷ luật của người cán bộ, đảng viên trong quá trình tiếp xúc thông tin; chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tiếp cận Thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng; những điều Đảng viên không được làm…

            Hai là, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên khi tham gia mạng xã hội cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, chủ động phân tích, bình luận, chia sẻ, cung cấp những thông tin chính thống, tuyên truyền quảng bá về hình ảnh đẹp của mảnh đất và con người Thăng Bình. Tăng cường đăng tải các thông tin về thành tựu phát triển kinh tế -xã hội; quốc phòng, an ninh, gương điển hình người tốt, việc tốt;những mô hình mới, cách làm hay trong các phong trào thi đua yêu nước, học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh. Cùng với đó phải tố giác và sẵn sàng tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý.

            Ba là, phát huy vai trò, tính chủ động của Ban Chỉ đạo 35 huyện về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đẩy mạnh tuyên truyền đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên chia sẻ những thông tin chính thống để cùng tuyên truyền vận động bạn bè, người thân, đồng nghiệp, cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp; bên cạnh đó cần định hướng những trang thông tin, những tài khoản facebook chính thống để cán bộ, công chức, đảng viên theo dõi, cập nhật thông tin.

            Bốn là, các cấp ủy, chính quyền cơ sở thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng kịp thời dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên; lắng nghe ý kiến phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân địa phương, thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động. Cần dựa vào những tài liệu, thông tin chính thống, hướng dẫn của cấp ủy cấp trên để tổ chức cung cấp nhanh cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động những luận cứ, thông tin xác đáng và dựa vào đó, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Tích cực, chủ động xử lý nghiêm các đối tượng cá nhân, tổ chức thuộc địa bàn, đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, vi phạm quy định của pháp luật và công khai các kết quả xử lý để răn đe, cảnh tỉnh các đối tượng khác.

            Tin tưởng rằng, với những kết quả đạt được cùng với sự cố gắng, nỗ lực của mỗi cán bộ, đảng viên, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ góp phần lan toả những thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác tin giả, tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội, góp phần làm thất bại các âm mưu, hoạt động phản động của các thế lực thù địch, góp phần chung tay giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội.

            Ba2505


Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong những năm gần đây, thực tiễn đã có nhiều biến đổi, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những âm mưu ngày càng thâm độc, những thủ đoạn ngày càng tinh vi. Trước tình hình đó, việc nhận diện các quan điểm sai trái thù địch là yêu cầu có tính quyết định để từ đó giúp Đảng, Nhà nước ta có phương thức đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi trong thực tiễn.

Có thể hiểu quan điểm sai trái, thù địch là những quan điểm thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý luận cũng như nhận thức thực tiễn hoặc là những quan điểm, lập trường có chủ đích đi ngược lại và đối lập hoàn toàn với quan điểm, lập trường chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, là những quan điểm phủ nhận và đối lập với lập trường giai cấp công nhân, với lợi ích của quốc gia, dân tộc Việt Nam, nhằm chống lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Các quan điểm sai trái, thù địch rất đa dạng, với nhiều luận điệu và màu sắc khác nhau, có thể chia thành những nhóm quan điểm như sau:

Thứ nhất, những quan điểm sai trái do các thế lực thù địch tác động tuyên truyền

Một số xu hướng mà các thế lực thù địch thực hiện truyền bá những quan điểm sai trái:

Một là, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các quan điểm sai trái, thù địch chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin: Về lý luận, các thế lực thù địch, phản động đang ra sức phủ định tính khoa học, cách mạng, nhân văn và các giá trị cốt lõi phù hợp với thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như: về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...Về thực tiễn, lợi dụng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, chúng rêu rao lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng, rêu rao chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của nhân loại, sẽ tồn tại vĩnh hằng.

Các quan điểm sai trái, thù địch chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh: Các luận điệu tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh theo hai hướng: Một mặt, các thế lực thù địch phủ nhận nội dung, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng đây chỉ là “mớ lý thuyết hỗn độn nhằm đề cao, sùng bái cá nhân”, là “một di hại to lớn của lịch sử”, “Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”... Mặt khác, chúng lại ra sức tuyên truyền, đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Hai là, quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nướcbằng các luận điệu xuyên tạc như:Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử của cách mạng Việt Nam; cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang; phủ nhận kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi tách biệt, đối lập “kinh tế thị trường” với “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chúng còn cho rằng chế độ hiện nay mắc “lỗi hệ thống”, đòi cải cách thể chế chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, thực hiện “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây, với âm mưu không gì khác ngoài việc chống phá sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”

Ba là, lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất Đảng. Loại quan điểm này luôn luôn lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng ta; lợi dụng những khó khăn, hạn chế của chúng ta, hay lợi dụng tình trạng có một số đảng viên có chức quyền tham nhũng, quan liêu để qua đó nói xấu, xuyên tạc bản chất của Đảng, cho Đảng ta là quan liêu, tham nhũng, xa dân, không vì lợi ích của Nhân dân; gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng sự sụp đổ, khó khăn của chủ nghĩa xã hội để phủ định con đường lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ngụy tạo, tô vẽ, thổi phồng, quy kết những biểu hiện cá biệt, những khuyết điểm của một số tổ chức đảng và cá nhân đảng viên thành bản chất của Đảng cầm quyền, từ đó kích động đối lập Đảng với nhân dân, tạo sự xa cách, oán thán, thù ghét, tẩy trừ cán bộ, đảng viên.

Bốn là, phủ nhận thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa, phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa. 

Chúng hạ thấp những thành tựu phát triển của đất nước: phủ nhận kết quả đạt được của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận sự thay đổi tích cực trên tất cả các mặt của đất nước và đời sống xã hội của nhân dân, phủ nhận vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Chúng xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phủ nhận những cố gắng, nỗ lực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Qua đó, trực tiếp phủ định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng ca ngợi các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, ca ngợi tự do kiểu phương Tây, ca ngợi dân chủ phương Tây, ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ, ca ngợi những giá trị của phương Tây, ca ngợi văn hóa thực dụng phương Tây, tuyên truyền cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ngoại lai vào nước ta… làm Nhân dân ta dao động.

Thứ hai, những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra

Đối tượng này là một số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn thể trong hệ thống chính trị bị tha hóa; những phần tử chống đối, phản cách mạng đã từng bị xử lý nuôi tham vọng chờ cơ hội phục thù, những nhân sỹ, trí thức, các chức sắc tôn giáo, văn nghệ sỹ, thậm chí có cả một bộ phận trí thức trẻ, có nguồn gốc xuất thân từ các thành phần xã hội phức tạp, thiếu tu dưỡng rèn luyện, nặng về hưởng thụ, lãng quên trách nhiệm với cộng đồng…

Chúng lợi dụng sự phát triển của mạng xã hội để đẩy mạnh xuyên tạc, dựng chuyện, bịa đặt, tác động mạnh vào tâm lý, nhận thức của công chúng và xã hội; chúng sẵn sàng phủ nhận thành tựu, sự nỗ lực cố gắng của cả một dân tộc. Chúng hô hào tập hợp lực lượng, kéo bè kéo cánh nhằm phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; tìm kiếm, bới móc và hả hê trước những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ, chính quyền các cấp; tuyên truyền, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo, chống phá Nhà nước Việt Nam.. .

Thứ ba, những quan điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị chưa cao

Đồng bào ở các vùng chiến lược về an ninh, quốc phòng ở nước ta chủ yếu là đồng bào theo đạo, người dân tộc thiểu số, có trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Đây là những địa bàn trọng yếu nhưng hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu kém nên đã trở thành một trong những điểm yếu để các thế lực thù địch tác động mạnh bằng chiến tranh tâm lý. 

Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như tầm thường văn hóa, chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, thác loạn, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Trên thị trường băng đĩa nhạc xuất hiện hàng loạt băng đĩa đồi trụy, phản động được lưu hành. Hàng loạt thông tin xâm nhập vào không được kiểm chứng, dẫn đến nhận thức sai lệnh thông tin và hình thành nên quan điểm sai trái. Một số báo đưa tin, bài không trung thực, thiếu định hướng tư tưởng gây ảnh hưởng xấu trong dư luận.

Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài (AFP, Reuter, BBC, VOA) đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, không công bằng…. Không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe những tác phẩm này, không phân biệt đúng sai, nhiều cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và suy thoái về chính trị. Các thế lực thù địch còn rất quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên vì đây là lực lượng hùng hậu, là đội ngũ quan trọng trong xã hội, nhất là trí thức, lớp trẻ. Chúng coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. 

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch để chúng ta luôn cảnh giác trước những luận điệu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Qua đó chúng ta luôn tự hào trước những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng và luôn tin theo sự lãnh đạo của Đảng, vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên những chặng đường tiếp theo.

Mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị và dân chủ

Quan hệ giữa chính trị và dân chủ nói chung và đa nguyên chính trị với dân chủ nói riêng luôn tồn tại những cách hiểu và những cách tiếp cận khác nhau. Bài viết tập trung làm rõ hai cách hiểu về mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị và dân chủ. Một là, coi đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết, là khai mở cho một nền dân chủ. Hai là, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ.

“Đa nguyên chính trị”, “dân chủ” cũng như mối quan hệ giữa chúng thực chất không quá khó hiểu nhưng thực tiễn cho thấy, không phải ở nước nào, cá nhân nào cũng hiểu và hành xử vấn đề mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ cho đúng.

Có hai cách hiểu về vấn đề này như sau:

Một là, coi đa nguyên chính trị là một điều kiện tiên quyết, là sự khai mở cho một nền dân chủ của xã hội. Số người có ý kiến này cho rằng, đa nguyên chính trị đối nghịch với nhất nguyên, chứ không phải chúng thuộc phạm trù triết học cái riêng - cái chung, cũng không phải là cái “nhất” nằm trong cái “đa” hay cái “đa” bao chứa cái “nhất”. Họ cho rằng, xã hội nào mà có đa nguyên chính trị thì xã hội ấy tất yếu đi liền với hiện trạng đa đảng chính trị, thậm chí là có nhiều đảng đối lập với đảng cầm quyền; rằng, đã đa nguyên chính trị là phải có đa ý thức hệ, là sự thống nhất trong đa dạng; rằng, đa nguyên chính trị là biểu hiện sự năng động của nền dân chủ trong xã hội; đa nguyên chính trị là một điều kiện tiên quyết và chính đó là sự khai mở cần thiết cho việc xây dựng một nền dân chủ cho xã hội, v.v..

Số người có ý kiến này còn cho rằng, đa nguyên chính trị là một giá trị văn hóa tốt đẹp phổ quát của nhân loại, khi nhân loại tiến bước mạnh mẽ trên con đường dân chủ, mà đã là dân chủ thì xã hội mới có sự phát triển được, chứ nhất nguyên chính trị chỉ dẫn đến sự kìm hãm và bóp nghẹt sự phát triển của xã hội, thậm chí dẫn xã hội đến chỗ nghẹt thở của chế độ độc tài mà thôi.

Xung quanh vấn đề này, có hai nhóm ý kiến. Nhóm ý kiến thứ nhất là của một số nhà khoa học, một số nhà hoạt động chính trị trong và ngoài nước có sự khác nhau về nhận thức chứ không phải là muốn phủ nhận chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam. Nhóm ý kiến thứ hai muốn nhân vấn đề mối quan hệ giữa đa nguyên chính trị với dân chủ để chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn xóa bỏ chính thể hiện hành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, rắp tâm bẻ lái, đưa Việt Nam rẽ sang mục tiêu và con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

Hai là, xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ. Đã có một số công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố trên một số tạp chí và báo trong nước, chủ yếu là ở trong các lực lượng vũ trang, nêu lên lập luận liên quan vấn đề này. Nhiều bài viết rất công phu, phân tích chặt chẽ. Nhưng cũng có không ít bài lại dùng lý lẽ Mác - Lênin để đối thoại với cả những người “phá bĩnh”, trích dẫn cả C.Mác viết như thế này, Ph.Ăngghen viết như thế kia, rồi V.I.Lênin đã lập luận như vậy, Hồ Chí Minh nói như thế, như thế… Phương pháp này không hiệu quả.

Sở dĩ xã hội không nhất thiết phải có đa nguyên chính trị thì mới có dân chủ là vì:

1. Đa nguyên chính trị, và thậm chí trong đó có cả đa đảng (đối lập), không phải là một giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả các thời kỳ của một quốc gia - dân tộc

Nói như thế để thấy rằng, đa nguyên chính trị có thể đúng và phù hợp với quốc gia - dân tộc này nhưng cũng có thể không đúng và không phù hợp với quốc gia - dân tộc khác. Cũng như vậy, trong một quốc gia - dân tộc hiện đang có đa nguyên chính trị thì có khi trong quá khứ và trong tương lai chưa chắc đã có hoặc phải cần đến đa nguyên chính trị, nó có thể tồn tại trong một thời gian nào đó mà thôi; do đó, nó không phải là một giá trị vĩnh cửu. Hiện trạng này đang biểu đạt sự phong phú quá trình vận động của thế giới. Mỗi một quốc gia - dân tộc đều có hoàn cảnh và điều kiện phát triển riêng; và vì vậy đều có quyền lựa chọn mục tiêu và con đường phát triển cho quốc gia - dân tộc mình tùy vào những điều kiện nhất định.

 Một số nhà khoa học Ấn Độ cho rằng đa nguyên chính trị là điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng một nền dân chủ. Đó là điều kiện và quan điểm của họ. Ấn Độ hiện có khoảng gần 1.800 đảng chính trị (số đăng ký ngay trước mỗi lần tiến hành bầu cử gần đây nhất). Ở Ấn Độ hiện có nhiều đảng với tên gọi là “đảng cộng sản” (hiện nay có ít nhất hai đảng: Đảng Cộng sản Ấn Độ - CPI và Đảng Cộng sản Ấn Độ (mácxít) - CPI-M). Như thế thì lại là có đa nguyên chính trị ngay trong quá trình vận hành của ý thức hệ cộng sản. Đó cũng là việc của Ấn Độ. Ở một quốc gia cùng một lúc có nhiều đảng cộng sản thì ngay việc này thôi cũng đã không phù hợp với những nguyên lý xây dựng đảng vô sản rồi. Việt Nam đã có một thời gian như thế cuối những năm 20 đầu những năm 30 thế kỷ XX và trên thực tế đã tiến hành hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

Việt Nam cũng đã có thời kỳ đa đảng chính trị, và thậm chí là đa đảng đối lập những năm 1945-1946. Do đó, có người cho rằng, ở Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ có đa đảng, và thậm chí có cả đa đảng đối lập, với Đảng Cộng sản cầm quyền là không đúng. Thực tế là, những năm 1945-1946, bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương, còn có Việt Nam Quốc dân đảng (gọi tắt là Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Cách) vốn lưu vong ở Nam Trung Quốc, lúc này theo chân quân đội Trung Hoa Dân quốc (Tưởng Giới Thạch) vào giải giáp quân đội Nhật Bản đang đóng ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra theo sự phân công quốc tế (riêng quân của Trung Hoa Dân quốc và thế lực chính trị lưu vong Việt Quốc, Việt Cách còn lợi dụng tình hình này để thực thi âm mưu “Diệt cộng, cầm Hồ”. Ngay cả bản thân Đảng Xã hội cũng như Đảng Dân chủ cũng được lập ra do sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1946. Đã có Chính phủ liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm nhiều lực lượng chính trị khác nhau được lập ra ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Tuy nhiên, lịch sử đã lựa chọn, sau đó xã hội Việt Nam không cần đa đảng chính trị, khi các đảng chính trị đối lập (Việt Quốc, Việt Cách) vốn là tay sai của chính quyền Tưởng Giới Thạch theo chân quân đội Tưởng Giới Thạch trở về Trung Quốc năm 1946. Còn hai Đảng Xã hội và Dân chủ với điều kiện hoạt động và hoàn cảnh của mình đã tự giải tán vào năm 1988.

Điều kiện lịch sử của Việt Nam giai đoạn sau đó và hiện nay cũng như trong tương lai không bao chứa những điều kiện giống như trước đây (những năm 1945 - 1946). Đó là những điều kiện của thời kỳ ngay khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập, nhiều tổ chức chính trị tồn tại trên đất nước, tất cả các lực lượng đối lập chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tìm mọi cách kiếm chác quyền lực đối với xã hội với sự giúp đỡ của nhiều thế lực quốc tế.

Việc lập Chính phủ liên hiệp trong một xã hội nhiều đảng phái diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt lúc đó để tập hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết toàn dân tộc xây dựng chế độ mới trong những buổi đầu của thể chế chính trị mới. Hiện nay, những điều kiện ấy không còn. Không có lý do gì hiện nay, và chắc chắn trong cả tương lai, Việt Nam lại áp dụng một cơ chế đa nguyên chính trị và đa đảng, trong đó có những đảng đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Không, lịch sử Việt Nam không lặp lại những điều kiện và hoàn cảnh như thế. Do đó, nếu ai cứ đòi hiện nay ở Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng thì không những người đó có cái tâm không lành, mà còn có cái trí không minh và bản lĩnh chính trị thấp. Muốn có dân chủ thực sự cho đất nước Việt Nam mà lại gắn với đa nguyên chính trị thì đó là phi thực tế, không phù hợp với điều kiện đất nước.

Bài học nhãn tiền của Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu trong những năm 80-90 thế kỷ trước đang soi rọi vào tư duy chính trị này. Những đảng cộng sản đó đã trượt dài trong việc làm xói mòn bản lĩnh chính trị vốn có của một đảng cộng sản cầm quyền, tự mình xóa bỏ sự lãnh đạo của bản thân mình để tạo ra lực lượng chính trị đối lập trỗi dậy lấn lướt để triệt tiêu sinh lực chính trị của bản thân. Những mong cải tổ để có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn, công khai, dân chủ nhiều hơn, nhưng hại thay và nguy hiểm thay, lại tạo ra những giá trị ảo, mù mờ để rồi đảng cộng sản không tìm thấy lối ra trong cơn khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng. Sự sụp đổ của các đảng cộng sản cầm quyền ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu vào thời kỳ đó do nhiều nguyên nhân khác nữa, cả nguyên nhân sâu xa, khách quan và chủ quan nhưng điểm mấu chốt nhất vẫn là từ tư duy chính trị sai lệch trong quan niệm về đa nguyên chính trị và dân chủ.

2. Một đảng duy nhất trong xã hội và đảng đó đóng vai trò cầm quyền vẫn bảo đảm và phát huy được dân chủ trong xã hội

Thực tế cho thấy, số lượng các chính đảng, mà nhiều người hay lấy đó làm tiêu chí để xác định xã hội đó có đa nguyên chính trị, dân chủ hay không, không ảnh hưởng gì tới nền dân chủ của một xã hội. Việt Nam hiện nay đang thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang hội nhập ngày càng sâu và đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hóa. Với tình hình đó, ở Việt Nam đang có nhiều thành phần kinh tế khác nhau, tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của công dân, tôn trọng quyền con người, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, v.v.. Tất cả những điều đó đã được ghi nhận trong Hiến pháp và được thể chế hóa trong các luật.

Trong xã hội Việt Nam, tuy vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về con đường phát triển của dân tộc nhưng đa số đều đồng thuận với sự lựa chọn của Đảng. Tuy có những ý kiến khác nhau nhưng điều này không phản ánh bản chất của chế độ chính trị. Do đó, ở Việt Nam hiện nay không có đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập. Cũng đã có những nhận thức khác nhau về dân chủ, cả ở phạm vi quốc tế và ở cả trong nước. Dân chủ gắn liền với thiết chế nhà nước và xác định quyền của người dân. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phù hợp nhất đối với Việt Nam: dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ.

Dân chủ là tự do. Hai giá trị này là khát vọng chung của cả xã hội loài người. Tự do cũng là một yếu tố mà Hồ Chí Minh đã ghi vào tiêu đề văn bản nhà nước (Độc lập - Tự do - Hạnh phúc). Nhưng tự do là gì thì không phải ai cũng dễ có sự thống nhất. Tự do là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Khi con người ta đã nhận thức đúng cái tất yếu và làm theo đúng cái tất yếu đó thì mới có tự do đích thực. Như vậy, đến lúc đó, tự do của cá nhân này không làm phương hại đến tự do của cá nhân khác và tự do cho cả cộng