Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

Vạch trần âm mưu thâm độc, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

 

Vạch trần âm mưu thâm độc, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn lịch sử và hiện tại, phủ nhận những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, được kiên trì, kiên định triển khai thực hiện suốt từ năm 1930 đến nay, nhờ đó, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành chính quyền về tay nhân dân, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Những điều đó đã được lịch sử dân tộc minh chứng rất rõ ràng.

Ấy vậy mà hiện nay vẫn có những giọng điệu lạc lõng của các thế lực thù địch, phản động đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn và đi theo con đường khác, vì họ cho rằng đó là "con đường sai lầm, dẫn dân tộc đến đường cùng, ngõ cụt". Họ cũng rêu rao rằng: "Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội", kiên định với "chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh" là "lạc nhịp", "lỗi thời".

Thủ đoạn họ thường dùng là tạo dựng, xuyên tạc bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng, thông tin sai sự thật, "lập lờ đánh lận con đen" về tình hình đất nước, rồi tung lên các nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng chống phá Việt Nam.

Danlambao là một trang mạng chuyên đăng tải bài viết của các thế lực thù địch,phản động chống lại sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồi tháng 5/2020, trang này có đưa bài của Nguyễn Dân - một kẻ luôn đưa ra những nhận thức ấu trĩ, thiếu khách quan, cố tình bóp méo sự thật tình hình đất nước. Với những lời lẽ bịa đặt, thông tin thì cắt ghép khiên cưỡng, bài viết này đã bôi nhọ về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Kẻ này xuyên tạc rằng: "Đảng cộng sản dốc tâm lo xây dựng chủ nghĩa xã hội để nắm giữ lợi quyền. Để độc quyền cai trị. Để có cơ nhũng lạm, cướp bóc, làm giàu cho cá nhân, phe nhóm, vinh sang cho một đảng trị vì khiến đất nước cứ mãi lạc hậu đói nghèo". Tất nhiên, sẽ không một ai tin vào những lời lẽ vô lối, hằn học này.

Đây là một bài viết trên kênh VOA Tiếng Việt hồi tháng 11 năm ngoái. Bài này đã bịa đặt, xuyên tạc lố bịch, thổi phồng về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, rêu rao rằng ai đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền đều bị trấn áp, bắt bớ, bỏ tù với những bản án hết sức nặng nề. Trong khi thực tế thì đó là những công dân vi phạm pháp luật.

Họ còn tung ra những cáo buộc vô căn cứ như là: các giá trị đạo đức, văn hóa, những dân chủ nhân quyền chỉ là lời có cánh, nói xong là bay chứ không có trong hiện thực cuộc sống. Trong một tâm địa xấu xa, những kẻ này quả thực có trí "tưởng tượng" phi thường.

Phải có kỷ cương, kỷ luật thì mới đảm bảo được dân chủ một cách thực chất. Nếu không sẽ dẫn đến lợi dụng nhân quyền, lợi dụng dân chủ để chống phá hoặc vì các mưu đồ cá nhân.

Thời gian qua, các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Họ tung ra những quan điểm như là "Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện". Hay là "chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả tiền".

Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động.

Tìm mọi cách bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn lịch sử và hiện tại, phủ nhận những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội đang hiện hữu ở Việt Nam... - mưu đồ trước mắt và lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch, phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

Nhưng đáng buồn là trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội. Thậm chí, có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản.

Những người phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản

Xuyên tạc, bóp méo về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Một trong những nội dung thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, phê phán, bóp méo đó là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ cho rằng, không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.

Họ còn cao giọng rằng, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; Gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục.

Nhưng thực tế thì sao? Những thành quả phát triển kinh tế trong 35 năm qua của một đất nước đã phải trải qua 3 thập kỷ bị chiến tranh tàn phá, gần 1 thế kỷ bị thực dân đô hộ rõ ràng là minh chứng thuyết phục nhất để bác lại những nhận định bóp méo sự thật trên.

Các chuyên gia cũng đã nhiều lần khẳng định: đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết khẳng định vai trò và vị thế của kinh tế tư nhân.

Nghị quyết số 10, Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII đã xác định "kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế".

Và mới đây, Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế.

Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra khoảng 40% GDP, 30% ngân sách Nhà nước và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động. Những thay đổi trong chủ trương, chính sách đã tạo ra những thành tựu to lớn trong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta.

Thế nhưng trong một bài viết mới đây, trang VOA tiếng Việt, vẫn hàm hồ bình luận rằng, việc lựa chọn nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là bóp nghẹt kinh tế tư nhân, và không có tự do cạnh tranh.

Tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta vừa hợp tác với nhau, vừa cạnh tranh với nhau bình đẳng, lành mạnh. Không có chuyện hạn chế cạnh tranh, hạn chế sự phát triển của kinh tế tư nhân.

Nhiều phần tử xấu cũng xuyên tạc về mô hình mà Việt Nam lựa chọn để phát triển. Cho rằng đây là một khái niệm mơ hồ, không có trong thực tế. Nhất là vào thời điểm chuẩn bị diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch đã bình luận rằng: Kinh tế thị trường và xã hội chủ nghĩa khác nhau như nước với lửa; Không có nền kinh tế thị trường nào lại có thể kết hợp cùng xã hội chủ nghĩa.

Đây là một sự gán ghép khiên cưỡng, kìm hãm thể chế thị trường và kìm hãm cải cách. Tất cả nhằm mục đích làm giảm lòng tin của nhân dân vào con đường phát triển kinh tế mà Đảng đã lựa chọn.

 

Kế hoạch ngông cuồng

 Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào".
Tư liệu của Bộ Công an cho biết, từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn.
Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…
Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.
Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay

 

Nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay

Để chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra rất nhiều quan điểm, luận điệu khác nhau, bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau. Sau đây xin nêu lên một số quan điểm đó:

Một là, có quan điểm vin vào yếu tố thời đại để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Quan điểm đó cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hoặc cùng lắm là đầu thế kỷ XX, nó chỉ thích hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai, chỉ thích hợp với văn minh cơ khí, còn bây giờ nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI - là thời đại của cách mạng khoa học - công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên không còn thích hợp nữa, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã bị lỗi thời (!).

Đúng là thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại của Mác - Ăng-ghen - Lê-nin, đã có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc về kinh tế, xã hội, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Không nhận thức được những biến đổi to lớn của thời đại sẽ không hiểu đúng bản chất của thời đại. Tuy nhiên, những biến đổi đó không vượt ra ngoài những quy luật, những nguyên lý chung nhất mà C. Mác đã khám phá ra. Chẳng hạn, đó là những quy luật phổ biến của phép biện chứng duy vật, những quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người, như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, quy luật giá trị thặng dư, những nguyên lý khoa học về nhà nước, cách mạng xã hội, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân...

Đứng trên quan điểm khách quan, có một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới, đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua, song những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, bản chất khoa học và cách mạng vẫn giữ nguyên giá trị cần phải bảo vệ. Hoàn cảnh lịch sử cụ thể luôn luôn thay đổi, song những quy luật phát triển cơ bản, phổ biến của lịch sử loài người mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin nêu lên là không thay đổi, có giá trị trường tồn. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà không một học thuyết nào có thể thực hiện được vai trò đó.

Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thăm hỏi tình hình sản xuất và đời sống của công nhân Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh) _Nguồn: baochinhphu.vn

Hai là, có quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là “ngoại lai”, “ngoại nhập” từ phương Tây, không phù hợp với Việt Nam là một xã hội phương Đông, kinh tế lạc hậu; thậm chí có ý kiến nói “du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”, do đó “cần phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(?).

Quan điểm trên đây là sai lầm vì không hiểu được sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa của lý luận Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là lý luận khoa học nên cũng giống như các khoa học khác (kể cả khoa học tự nhiên) có giá trị phổ quát, vượt biên giới quốc gia - dân tộc, còn khi áp dụng nó đương nhiên phải chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia - dân tộc để tránh giáo điều, máy móc. Mặc dù chủ nghĩa Mác có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ các nước phương Tây, như Đức (về triết học), Anh (về kinh tế chính trị), Pháp (về lý luận chủ nghĩa xã hội), nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, không thể cấm bổ sung chủ nghĩa Mác bằng dân tộc học phương Đông. Nhưng khi nói vậy, Người vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”(2)  - tức ở phương Đông. Những quy luật của chủ nghĩa Mác vạch ra không chỉ đúng với các nước phát triển mà còn đúng cả với các nước kém phát triển. Vì, về mặt phương pháp luận như C.  Mác đã từng chỉ ra, trong cái phát triển cao chứa đựng cái phát triển ở trình độ thấp hơn dưới dạng lọc bỏ.

Mặt khác, nếu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý thì những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi chủ nghĩa Mác  - Lê-nin được truyền bá vào Việt Nam - một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lạc hậu, kém phát triển nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều đổi mới về tư duy lý luận, đã nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tinh thần khẳng định sức sống, giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời loại bỏ những nhận thức không đúng, ấu trĩ, giáo điều về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới trên một loạt vấn đề, như mục tiêu, đặc trưng và phương hướng cơ bản của xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,... đó là những vấn đề không có sẵn trong di sản kinh điển mác-xít. Không có sự vận dụng, phát triển sáng tạo đó thì không có được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đạt được trong gần 35 năm đổi mới.

Ba là, có quan điểm sai lầm đem đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lê-nin, đối lập C. Mác với V.I. Lê-nin để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác lẫn chủ nghĩa Lê-nin, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung. Họ viện dẫn ra sự “đối lập” là C. Mác và Ph.  Ăng-ghen cho rằng, cách mạng vô sản phải nổ ra đồng thời trong các nước tư bản, ít ra là trong các nước tư bản phát triển, còn V.I. Lê-nin lại cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể nổ ra và thành công ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, còn lạc hậu, còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô như nước Nga.

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm và phương pháp của V.I. Lê-nin. Sự đối lập giữa C. Mác với V.I.  Lê-nin mà họ dựng lên là giả tạo, bịa đặt. V.I. Lê-nin là người mác-xít, ông đã tự nhận mình là học trò của Mác: Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lê-nin thống nhất với nhau về bản chất. Chủ nghĩa Lê-nin là chủ nghĩa Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản. C.  Mác và V.I. Lê-nin sống ở hai thời đại khác nhau, C. Mác sống ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh, còn đến V.I. Lê-nin chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi đó cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc nổi lên, mỗi ông phải giải quyết những nhiệm vụ do thời đại của mình đặt ra. V.I. Lê-nin không thể máy móc, giáo điều ngồi chờ cho cách mạng vô sản nổ ra đồng thời ở các nước tư bản phát triển được, mà phải chủ động nhận thức thời cơ, tình thế cách mạng và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. V.I. Lê-nin trung thành với chủ nghĩa Mác trong bản chất cách mạng, khoa học, biện chứng, chứ không phải trung thành một cách máy móc bởi vì học thuyết của các ông không phải giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động.

Bốn là, có quan điểm đem đối lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận cả chủ nghĩa Mác - Lê-nin lẫn tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quan điểm trên đây là sai lầm cả về lịch sử và lô-gic. Về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ việc tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận quan trọng nhất, là cơ sở chủ yếu nhất để hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện lịch sử mới. Như vậy, về mặt lô-gic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập như một số người tưởng tượng ra. Và do đó cũng không có cái gọi là “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin” từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Một số người nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ nói tư tưởng Hồ Chí Minh mới là sản phẩm của Việt Nam, có nguồn gốc Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “ngoại lai”, “ngoại nhập”, không phù hợp với Việt Nam, thậm chí có người muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh (!). Quan điểm đó nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất, trực tiếp và gián tiếp chính là nhằm phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng gồm chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, phù hợp, thể hiện mối quan hệ biện chứng, thống nhất, gắn bó giữa hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, có quan điểm đem quy sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, “sai lầm từ gốc, từ bản chất của học thuyết” (!).

Chúng ta thấy rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội  - mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp, hành chính, mệnh lệnh, xa rời quần chúng nhân dân với nhiều khuyết tật, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung. Sự sụp đổ ấy có nguyên nhân khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, sâu xa và trực tiếp. Chính những khuyết tật của mô hình chủ nghĩa xã hội đó không được phát hiện và khắc phục kịp thời, tồn tại kéo dài, tích tụ lại đã đẩy xã hội Xô-viết đến sự sụp đổ. Sự sai lầm về đường lối cải tổ của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô trước đây - cả đường lối kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đối ngoại, sự phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa của một số lãnh đạo cao nhất trong Đảng cùng với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, sự chống phá của các thế lực thù địch là những nguyên nhân trực tiếp. Không thể quy sự sụp đổ của Liên Xô vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chính sự nhận thức sai, vận dụng sai, sự phản bội lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin của một số người cao nhất trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô là nguyên nhân chủ yếu. Vì vậy, quyết không được đồng nhất những sai lầm đó với bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tại sao công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc, công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam lại đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng? Cải tổ sẽ không thất bại nếu Đảng Cộng sản Liên Xô có đường lối cải tổ đúng đắn, trung thành và sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực đế quốc thù địch, nếu xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, trong sạch, gắn bó mật thiết với nhân dân, chống được quan liêu, tham nhũng... Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô nay đã trải qua 30 năm song vẫn là lời cảnh báo thường xuyên đối với các đảng cộng sản đang cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa để tránh đi vào “vết xe đổ” của Liên Xô.

 

 

Từ tàn quân lưu vong đến khủng bố “chuyển lửa về quê nhà”

 Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".
Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   
Theo tài liệu tố cáo tội ác của “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại (Bộ Công an), Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.
Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.
Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay

 

Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăng-ghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới đã được V.I. Lê-nin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mang bản chất khoa học và cách mạng, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người.

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác đã tồn tại trên 170 năm và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(1).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định đó nói lên ý nghĩa to lớn, giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức thời đại, nhận thức tình hình thế giới và trong nước, là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, cho sự thống nhất và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Trong quá trình xây dựng, phát triển học thuyết khoa học của mình, C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin đã phải thường xuyên đấu tranh chống các quan điểm sai trái, như chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, giáo điều, xét lại. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen từng phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ, của Pru-đông, của Đuy-rinh, của Lát-xan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua đấu tranh phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với quan điểm giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện các kỳ đại hội Đảng toàn quốc thời kỳ đổi mới đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh này. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng yêu cầu tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Ban Chấp hành Trung ương cũng đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”...), Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết chỉ rõ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, trước hết trong xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao.

 

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng mạng internet tiến hành các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch

 Trong những năm gần đây các thế lc thù địch tp trung tiến hành hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Đáng chú ý, sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt, trắng trợn hơn. Vì vậy, để đấu tranh, phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, chúng ta cần nhận diện được những luận điệu sai trái, phản động của chúng.

Về nội dung và bản chất, có thể nhận diện việc lợi dụng mạng xã hội  tiến hành các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cần tập trung vào các vấn đề sau: (1) Các thế lực thù địch tiếp tục truyền bá những thông tin và quan điểm sai trái phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)  của Việt Nam; tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong Đảng và đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa cương lĩnh, hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập” ở Việt Nam.  (2) Tập trung chống phá, xuyên tạc về vấn đề nhân sự cấp cao của Đảng, Nhà nước. Trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... (3) Lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để tuyên truyền xuyên tạc chống phá. Trước việc Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh, không có “vùng cấm” mọi sai phạm của cán bộ, đảng viên các thế lực thù địch đã lợi dụng xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ đội ngũ cán bộ chủ chốt, kích động, gây chia rẽ đoàn kết trong Đảng. (4) Tăng cường tung tin, dựng chuyện, quy trách nhiệm cho Đảng, Nhà nước ta trong các vấn đề về bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam thông qua cái gọi là “tù nhân lương tâm”; lợi dụng cộng đồng người Việt ở nước ngoài giả danh viết "tâm thư" kêu gọi nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, mọi người có trách nhiệm với vận mệnh đất nước nhằm quy kết Đảng, Nhà nước bán nước, bản biển, đảo… Thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video phỏng vấn theo hướng kích động những nhân sĩ, trí thức trong nước có quan điểm trái chiều, phản động. Đối với quần chúng nhân dân, chúng triệt để lợi dụng bộ phận do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, nhất là dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo nhẹ dạ, cả tin bị chúng kích động, lừa gạt, thúc ép buộc phải tham gia các cuộc tụ tập gây rối, biểu tình, tạo thành lực "lượng đối trọng, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp; nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở từng địa phương trên phạm vi cả nước; đòi tự do lập hội để đẩy mạnh tuyên truyền, tập hợp lực lượng, thành lập các hội, nhóm bất hợp pháp.
Về thủ đoạn, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng các phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt.
Một là, sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện, thông qua các trang web, blog, các trang mạng xã hội facebook, youtube…, diễn đàn, báo điện tử khuếch trương thanh thế, cổ súy các tư tưởng lệch lạc. Tạo lập các trang blog để thu hút lượng truy cập, như “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Biển Đông’’, “Ba Sàm”, “Chân dung quyền lực”, “Tạp chí sự thật”, “Lỗi hệ thống”… để tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp dư luận xã hội. Các đối tượng thường núp dưới vỏ bọc các tổ chức “xã hội dân sự”, “diễn đàn dân chủ”... để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm, cương lĩnh, nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”. Lợi dụng một số cá nhân thoái hóa, biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hoặc có tham vọng chính trị cao, thành lập các hội, fanpage... làm cơ quan ngôn luận, địa chỉ hoạt động cho tổ chức “dân chủ” trên mạng. Lợi dụng mạng xã hội phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu, độc, phản động, từ đó kích động hình thành các hoạt động như tuần hành, biểu tình, rải truyền đơn, tụ tập kêu gọi chống đối cán bộ địa phương, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống phá chính quyền, chia rẽ khối đoàn kết giữa Đảng và nhân dân.
Hai là, lập những tài khoản giả mạo trên mạng xã hội, các website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng trong xã hội…; qua đó tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm.
Ba là, sử dụng các trang mạng xã hội kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn. Các thế lực thù địch tạo lập và huy động những tài khoản giả mạo kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập, biểu tình và có các hành vi vi phạm pháp luật. Chúng sử dụng hàng loạt tài khoản đã được xây dựng trước, lấy 2-3 tài khoản làm trung tâm thường xuyên đăng tải bài viết, thông tin xuyên tạc về một chủ đề, lĩnh vực nhất định và hàng trăm tài khoản vệ tinh thực hiện nhiệm vụ chia sẻ trên các nhóm, diễn đàn phản động hoặc các nhóm có số lượng thành viên lớn. Một trong những biểu hiện của thủ đoạn này là tổ chức “cách mạng màu trực tuyến” bằng cách huy động, kêu gọi tất cả các tài khoản trên mạng xã hội gắn các biểu ngữ phản đối tạo ra hiệu ứng đám đông, trong đó người dùng mạng xã hội thường xuyên nhìn thấy các biểu ngữ phản đối hoặc những người không có lập trường tư tưởng vững vàng sẽ bị tác động thay đổi tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực.
Bốn là, sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang mạng xã hội (Facebook), Zalo (các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại), truyền thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, MySpace... để đưa thông tin xuyên tạc, chống phá. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó cài dần các thông tin xấu, độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật, luận điệu sai trái. Người dùng truy cập thông qua đường dẫn (link) của bạn bè trên mạng xã hội dễ dàng “mắc mưu”, bị dẫn dắt và bị động trong việc tiếp nhận thông tin đó. Thực tế cho thấy, đã có những người do nhẹ dạ, cả tin, thiếu bản lĩnh chính trị nên đã tin theo những luận điệu của các thế lực thù địch, từ đó bị chúng dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo và khống chế để làm việc phục vụ cho mưu đồ của chúng.