Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

"KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO" - ĐỪNG NHẦM LẪN GIỮA SỰ GIÀU CÓ VỚI SỰ ĐỘC LẬP TỰ DO!

VÌ VẬY, ĐỪNG BAO GIỜ CHO RẰNG NỀN KINH TẾ PHÁT TRIỂN ĐÓ CHÍNH LÀ TẤT CẢ SỰ HẠNH PHÚC CỦA MỘT QUỐC GIA, CỦA MỘT DÂN TỘC. 


     "Không có gì quý hơn độc lập tự do" - đây là chân lý, đây là một phạm trù triết học đã được rút ra từ thực tiễn xã hội, đời sống nhân sinh. 

Đây không phải đơn thuần chỉ là tư duy, là hệ tư tưởng của một cá nhân mang tính chủ quan để có thể cho rằng nó đúng với người này mà không đúng với người kia. Mà đây là hiện thực khách quan, là quy luật bất biến của đời sống xã hội, của quan hệ xã hội nhân loại.

Tôi dám chắc 100% rằng không có một nhà triết học, nhà xã hội học, không có một giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học xã hội nào có thể vượt qua trình độ nhận thức, tư tưởng triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, tôi cũng tự tin 100% rằng, tôi có thể dùng hệ tư tưởng và dùng triết học Hồ Chí Minh để bẻ gãy bất cứ một hệ tư tưởng, một thứ lý thuyết, lý luận, luận điểm, luận điệu nào đi ngược lại, trái chiều với tư tưởng, học thuyết Hồ Chí Minh cho dù người đó là ai, cho dù họ có học hàm học vị như thế nào. Đây là tôi nói rất chân thật, chân thành chứ không hề có ý ngạo mạn, tự cao tự đại, hay vỗ ngực tinh vi, tinh tướng.

100 năm thực dân Pháp đô hộ nước ta là minh chứng lịch sử chân thật nhất chứng minh cho chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Dân tộc ta đã sống như thế nào dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến (một cổ hai tròng - hai ách thống trị) khi đất nước ta được cho là có nguồn tài nguyên giàu có với rừng vàng biển bạc? Bên cạnh đó, quan điểm cứu quốc của Phan Bội Châu (mượn Nhật để đánh đuổi Pháp), quan điểm cứu quốc của Phan Chu Trinh (mượn Pháp để đánh Pháp - tức là mượn nền kinh tế của Pháp để phát triển nền kinh tế nước ta, sau khi ta đã mạnh lên rồi thì quay trở lại đánh đuổi thực dân Pháp), và quan điểm cứu quốc của Hồ Chí Minh đã chứng minh cho chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" để đạt được sự thành công, để giải phóng dân tộc. 

Từ nguồn tư tưởng ý thức hệ, từ lý trí này của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Đảng, Chính phủ và Nhà nước ta bao năm qua luôn luôn giơ cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã nêu rõ về tinh thần độc lập tự do, độc lập dân tộc, và không liên kết với một nước thứ hai để chống lại nước thứ ba. Ngoài ra, đó cũng còn là sự định hướng cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Vậy tại sao giờ đây lại có một số lãnh đạo bộ, ban, ngành và chính quyền địa phương lại có thể tự hào, tự đắc, tự mãn khi cho rằng phát triển nền kinh tế đã là thành công, đã là mang lại tất cả sự hạnh phúc cho nhân dân, để rồi từ đó họ buông lỏng ý thức hệ chính trị, buông lơi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vỗ ngực tự hào với trung ương, và họ đã làm kinh tế địa phương bất chấp những nguy hiểm, nguy cơ bất ổn chính trị đang rình rập? Tôi đoán rằng, họ chỉ mải lo phát triển kinh tế mà buông lơi sự quan tâm đối với việc học tập, tu dưỡng, nâng cao kiến thức, hiểu biết và bản lĩnh chính trị, nên họ đã làm ẩu, làm bừa, làm ngơ trong một số công tác bảo vệ sự ổn định chính trị./.



Môi Trường ST.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng

 

     Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước đúng đắn khi được đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin và khẳng định: 1) “Hỡi đồng bào bị đọa đầy, đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[1]; 2) “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[2]; 3) Cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[3]; 4) “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” và “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]; 5) “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng4) (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”[5] và Người đã nỗ lực hoạt động, xúc tiến, chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930.

     Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

     Trước Đại hội VII của Đảng, văn kiện các kỳ Đại hội và Điều lệ Đảng đều khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Song từ quá trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tiến trình cách mạng Việt Nam.

     Tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi. Tư tưởng của Người được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam; tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông, phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc; đã nỗ lực xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, với một Đảng phụng sự và liêm chính, Chính phủ liêm kiết và sáng tạo, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại...; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[6].

       Vì thế, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”[7]. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”[8]; đồng thời, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991); trong đó, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”[9]. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng: cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 91 không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

     Cùng với thời gian, Đảng đã nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng của Người được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực và khẳng định tại Đại hội IX rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[10]. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”[11].

     Thực tiễn những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh rằng: Nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng chính là nhờ sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.


“Gắp lửa bỏ tay người”

             Theo Từ điển Tiếng Việt “Gắp lửa bỏ tay người” được ví như hành động vu khống để gieo vạ cho người một cách độc ác.

            Những trò chống phá của Phản động Việt Tân đối với cuộc chiến đấu kiên cường của Việt Nam trong phòng, chống đại dịch Covid - 19 vừa qua đã và đang bị dư luận đánh giá là hành vi “Gắp lửa bỏ tay người”.

             Chỉ qua tìm hiểu một số bài viết, thông tin của Việt Tân trên mạng xã hội  YouTube Việt Tân, Fanpage Việt Tân từ tháng 7 - 2021 đến nay cũng đủ thấy rõ hành vi “Gắp lửa bỏ tay người” của phản động Việt Tân.

             Ngay khi dịch Covid - 19 mới xuất hiện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị và cộng đồng đoàn kết, thống nhất cùng phòng, chống dịch. Bằng phương pháp khoa học, sự đúng đắn, sáng tạo đã đem lại hiệu quả thiết thực trong phòng, chống dịch cho Việt Nam được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao. Trong khi đó, Việt Tân lại tuyên truyền bậy bạ rằng lãnh đạo Việt Nam không quan tâm đến phòng, chống dịch và “ Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hoàn toàn bất lực”, “ làm toàn những việc phản khoa học”…Việt Nam đã và đang thực hiện rất tích cực chiến lược vaccine nhằm sớm tiêm Vaccine miễn phí cho toàn dân, việc tiêm vaccine được triển khai hợp lý, công bằng, công khai. Thế mà Việt Tân lại bịa đặt, vu cáo rằng: nhà cầm quyền bắt dân đóng tiền mua vaccine “ để rồi chưa mua được thì nhà cầm quyền cho đó là tiền nhàn dỗi, bỏ vào ngân hàng lấy lãi”. Chúng còn bịa đặt, nói láo: cán bộ, đảng viên thì được tiêm vaccine tốt, vaccine không tốt thì tiêm cho dân thường !

               Không biết dựa vào đâu mà Việt Tân trắng trợn rêu rao rằng: Nhà cầm quyền Việt Nam “ Hoàn toàn không quan tâm gì đến người dân sống khổ sở trong đại dịch ra sao ? Chỉ nghĩ làm sao moi tiền dân bằng mọi cách…”, hay  “ Chỉ thương cho đồng bào, chưa chết vì dịch thì nhiều người đã có khả năng chết vì đói”. Trong khi trên thực tế, với quan điểm sức khỏe của người dân là quan trọng nhất, trên hết, Việt Nam đã tập trung chăm lo cho nhân dân về mọi mặt, kiên quyết không để có người dân nào bị đói hay không được chăm sóc y tế. Ngay cả những người lang thang, cơ nhỡ cũng được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và các cơ sở tích cực quan tâm, chăm sóc. Cùng với nguồn lực của Nhà nước, sự chi viện, ủng hộ, tương trợ lẫn nhau của cả cộng đồng theo tinh thần nhân ái vốn có của người Việt Nam đã tạo sức mạnh tổng hợp to lớn bảo đảm đời sống ổn định cho người dân vùng dịch. Chúng ta chỉ thấy sự xúc động, cám ơn chứ đã có ai kêu ca phàn nàn vì đói khổ như Việt Tân phán bậy bạ?

           Trong những ngày vừa qua, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tăng cường chi viện phòng, chống dịch cho TP.Hồ Chí Minh và mội số tỉnh khu vực phía Nam, đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của mình. Cùng với nhiều lực lượng khác, “ Bộ đội Cụ Hồ” đã xung kích nơi tuyến đầu, hăng hái tham gia chăm sóc sức khỏe cho dân, đem lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm đến t

tận tay người dân, giúp đỡ, thương yêu người dân như những người ruột thịt của mình. Người dân phấn khởi, xúc động vỗ tay hoan nghênh, chào đón, rơi nước mắt cám ơn “ Bộ đội Cụ Hồ”. Chắc chắn thực tế tốt đẹp của tình quân dân cá nước, của tinh thần “ Quân với dân một ý chí” bền vững ấy sẽ đập tan luận điệu của Việt Tân khi chúng xuyên tạc, vu cáo “ Quân đội sẽ đàn áp nếu dân đói xuống đường biểu tình, đòi quan chức mở kho lương. Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch!”.

           Cũng thật dã man, nguy hiểm khi giữa những ngày Việt Nam đang tập trung, gắng sức phòng, chống đại dịch Covid - 19 thì Việt Tân lại lợi dụng những sự kiện nóng xảy ra ở một số nước trên thế giới và một vài hiện tượng sai phạm mang tính cá biệt trong nước mà chúng ta đã khắc phục, xử lý kịp thời, nghiêm minh, để chúng tuyên truyền chống phá. Việc tuyên truyền xuyên tạc, khích động chống phá này có mưu đồ rất thâm độc, xấu xa là để người dân gây rối, biểu tình, bạo loạn nhằm gây khó khăn cho công tác phòng, chống đại dịch Coid - 19 và sự bình yên của đất nước Việt Nam.

           Nhưng cũng lại như thực tế thời gian qua, hành vi “ gắp lửa bỏ tay người” và mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của Việt Tân chắc chắn sẽ thất bại trước tinh thần cảnh giác và ý chí quyết tâm phòng, chống của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Phản động Việt Tân chớ có ngoan cố chống phá,  “gắp lửa bỏ tay người”. Bởi không có cửa cho chúng, bởi đã không ít thành viên của Việt Tân vì chống phá mà đã bị trừng phạt và ngay cả một số kẻ ở trong nước cố tình theo đuôi, bám vào Việt Tân chống phá đất nước, nhân dân cũng đã bị pháp luật Việt Nam xử lý kiên quyết, nghiêm minh. Dư luận lên án, pháp luật không dung tha chính là lời cảnh cáo đanh thép đối với phản động Việt Tân và những kẻ cố tình chống phá cách mạng Việt Nam.

PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” TRONG NỘI BỘ

 

Trong giai đoạn hiện nay, việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem như là nội dung, yêu cầu quan trọng trong vấn đề tự bảo vệ, nhằm ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự suy thoái”. Bởi vì, có khắc phục hiệu quả tình trạng quan liêu, tham nhũng, suy thoái mới làm cho mỗi đảng viên và tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hơn, có sức đề kháng cao hơn trước các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, là công tác con người, dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của con người. Do vậy, yêu cầu đặt ra là, mỗi cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ lấy mình; phải nâng cao trình độ năng lực, lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị. Không ai có thể làm thay sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của từng cán bộ, đảng viên.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nhưng nó có phát triển đến mức nào, có làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, biến chất Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta được hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào khả năng đề kháng của mỗi cán bộ, đảng viên, khả năng tự bảo vệ và sức mạnh của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có thể khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, không thế lực nào có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phải tập trung nâng cao khả năng tự bảo vệ, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ với xây dựng, xây dựng phải gắn với bảo vệ, bảo vệ phải nhằm mục đích phát triển tốt hơn. Không để vì một lý do nào đó rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt mục tiêu lý tưởng, đi ngược lại con đường cách mạng của Đảng, của dân tộc./.

CHỐNG GIẶC NỘI XÂM

 

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Đối với Việt Nam chúng ta, trong nhiều năm qua và nhất là giai đoạn hiện nay, thì kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nó nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong đội ngũ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn là rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và “giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, theo tôi cần có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.

4. Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gũi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.

5. Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta./.

“AI LÀM ĐAU TIẾNG VIỆT”

 

Trước thực trạng nói/ viết sai tiếng Việt đang diễn ra nghiêm trọng, Tiến sĩ ngôn ngữ Hồ Xuân Mai đã viết cuốn sách “Ai làm đau tiếng Việt?” được Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM ấn hành. “”Ai làm đau tiếng Việt?” muốn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho ý thức gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt.

Mục đích của tác giả là cung cấp cho bạn đọc những suy nghĩ về cái sai trong sử dụng tiếng Việt hiện nay và cách khắc phục hữu hiệu.

Ngôn ngữ không phải là thứ bất biến, mà thay đổi theo thời gian và không gian. Hai trạng thái thay đổi này luôn luôn bổ sung cho nhau, làm thành một hiện trạng của một ngôn ngữ. Chẳng hạn, thời gian khiến cho tiếng Việt dần mất đi các tổ hợp phụ âm đầu, trở thành đơn tiết như hiện nay. Nhưng chắc chắn quá trình này không diễn ra hoặc nếu có thì cũng sẽ rất chậm, không triệt để nếu như tiếng Việt không tiếp xúc với các ngôn ngữ trong khu vực.

Quy luật của tiếp xúc ngôn ngữ là vay mượn. Kết quả của tiếp xúc là sự thay đổi bên trong của mỗi ngôn ngữ. Sự thay đổi dễ thấy nhất là ngữ âm và từ vựng. Yếu tố ngữ pháp của một ngôn ngữ chậm thay đổi nhất. Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, hơn hai phần ba là từ vay mượn. Đó là kết quả của tiếp xúc giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Khmer… Nếu không có sự vay mượn này, không có tiếng Việt phong phú và trong sáng như hôm nay.

Thế nhưng, trong quá trình hội nhập, ngôn ngữ chat, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ teen… thi nhau xuất hiện và tương tác với nhau thành những kiểu tiếng Việt khá buồn cười và hơi quái dị. Một trong những nguyên nhân là do áp lực xã hội, áp lực từ báo chí - truyền thông đã khiến cho thế hệ trẻ (và cả người lớn) nói/ viết sai tiếng Việt.

Mỗi chúng ta đều có những lúc viết hớ, nói ngọng tiếng Việt. Tuy nhiên, đó không phải là bản chất. Những cái sai này chỉ ảnh hưởng tới giao tiếp giữa những người tham gia; hoàn toàn không để lại bất cứ ảnh hưởng nào tới đời sống ngôn ngữ cộng đồng. Nhưng những cơ quan có chức năng bảo vệ, phát triển và truyền bá ngôn ngữ mà sai thì hậu quả sẽ khôn lường.

Thời gian qua, có một thực tế, rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng viết/ nói sai tiếng Việt. Sai tới mức rất đáng giận. Thế nhưng không một tổ chức chuyên môn nào lên tiếng. Cái sai, như vậy, cứ ung dung tồn tại, lan truyền trong cộng đồng. Tới mức, nhiều người, kể cả những người có trình độ học vấn cao, cũng không nhận ra và còn tiếp tay làm biến tướng tiếng Việt.

Vì vậy, theo tác giả, cần sớm có một giải pháp về tiếng Việt, cụ thể là lập pháp ngôn ngữ. Chừng nào chưa có sở xử phạt, chừng nào còn buông lỏng tiếng Việt, chừng nào còn tình trạng không ai kiểm soát tiếng Việt, cái sai trong sử dụng tiếng Việt còn tồn tại.

Chúng ta nói rất nhiều về việc “bảo vệ và phát triển tiếng Việt” và “nói đúng tiếng Việt, viết đúng tiếng Việt” nhưng một khi chính các cơ quan nhà nước và những người có trình độ học vấn cao mà sử dụng tiếng Việt sai, thì những lời kêu gọi, những băng-rôn, khẩu hiệu chỉ là trò chơi không hơn không kém. Rất mong chúng ta sớm có luật ngôn ngữ và trên hết là lập pháp ngôn ngữ để bảo vệ dân tộc mình, trước hết là tiếng Việt./.

THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động tập trung lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, khai thác thông tin trên báo chí chính thống về những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để hư cấu, xuyên tạc, thổi phồng, lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, đăng tải thông tin thật - giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để tuyên truyền, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Chúng thường tung ra những thông tin bịa đặt về bí mật nội bộ Đảng nhằm tác động, làm gia tăng các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, qua đó tác động, thẩm thấu vào một bộ phận cán bộ lão thành cách mạng, trí thức, văn nghệ sĩ để chính họ bộc lộ, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin. Thúc đẩy lối sống thực dụng, tư tưởng bất mãn, văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội.

Trong thời gian qua, các tổ chức phản động ở bên ngoài tiếp tục duy trì, lập mới hàng nghìn website, blog, fanpage Facebook nhằm đẩy mạnh chiến dịch “chiến tranh tâm lý”, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc chia rẽ nội bộ, gieo rắc tâm lý hoang mang, hoài nghi, bất bình trong nhân dân đối với chế độ.

Trong 5 năm qua, đặc biệt trong thời gian Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội XIII, chúng tập trung vào một số hoạt động sau:

Tạo lập hàng ngàn trang mạng xã hội, mới nhất là các kênh YouTube Nguyễn Văn Đài, Lê Dũng Vova,… trong đó nhiều trang giả mạo cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền các nội dung chống Đảng, Nhà nước.

Sử dụng các đài, báo bên ngoài kết hợp các kênh mạng xã hội để viết bài, cắt ghép, nhào nặn video xuyên tạc, phê phán Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp.

Lan toả các thông tin lượm lặt từ báo chí trong nước và từ tài khoản Facebook của một số cá nhân có quan điểm cực đoan trong nước nhằm phê phán chính quyền, Đại hội Đảng các cấp.

Tổ chức soạn thảo, phát tán “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”, “đơn kêu cứu”,… để thu hút sự chú ý của dư luận, cổ súy hoạt động của một số đối tượng có quan điểm cực đoan. Tổ chức các chương trình, tọa đàm, phỏng vấn một số đối tượng chống đối, một số luật sư có tư tưởng phức tạp, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, ngành để tuyên truyền gây mất đoàn kết nội bộ, hình thành dư luận “lề trái”…

Điểm mới trong phương thức, thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng so với 5 năm trước là: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ, ứng dụng các loại hình dịch vụ mới trên không gian mạng để đăng tải, phát tán thông tin sai trái, thù địch trên diện rộng với nhiều bình luận phức tạp. Sử dụng ứng dụng thoại trên internet, thư điện tử, phần mềm chuyên dụng, mạng xã hội để hoạt động chống phá. Chúng lập các nhóm kín trên mạng xã hội phân chia theo khu vực địa lý để tập hợp lực lượng trong nước tham gia tổ chức, chỉ đạo chống phá. Các đối tượng chống đối, bất mãn, khiếu kiện, lợi dụng tôn giáo thường xuyên liên hệ, trao đổi qua mạng với các đối tượng phản động lưu vong để nhận sự giúp đỡ hoặc trả lời phỏng vấn, phát trực tiếp (livestream) trên mạng xã hội./.

ÂM MƯU SAU LỜI KÊU GỌI “TẨY CHAY”

 

Thật lạ là trong khi đại đa số người dân rất mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông đi vào hoạt động để được đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường, thì một số phần tử lại ra sức kêu gọi “tẩy chay”, vận động người dân không sử dụng tàu điện này với lý do: Đó là đường sắt “Tàu” (!); đó là công trình điển hình về tham nhũng và chậm tiến độ (!); ai đi tàu điện này là… không yêu nước (!)

Sự kiện này được người dân Hà Nội, nhất là những người có nhu cầu đi lại trên tuyến đường thuộc loại đông đúc nhất Thủ đô mong chờ từ lâu, bởi đường sắt trên cao đi vào hoạt động sẽ đánh dấu bước phát triển của vận tải hành khách công cộng, góp phần quan trọng giúp người dân đi lại nhanh chóng, thuận lợi, giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

Trước đó, ngay từ khi tuyến đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông được khởi công xây dựng, những đối tượng này đã ra sức chống phá: Nào là Trung Quốc làm tuyến đường sẽ “trấn yểm long mạch” Thủ đô của Việt Nam, “chặn linh khí quốc gia” làm cho nước ta lụi bại (!); lãnh đạo Việt Nam sợ Trung Quốc nên buộc phải giao cho Trung Quốc làm tổng thầu (!); công nghệ tàu điện và đường sắt trên cao của Trung Quốc lạc hậu (!)…

Đặc biệt, khi tuyến đường thi công chậm tiến độ, điều chỉnh, phát sinh nhiều hạng mục dẫn đến đội vốn (từ hơn 8.000 tỷ đồng lên hơn 18.000 tỷ đồng) thì các đối tượng càng lợi dụng để vu khống, chống phá quyết liệt. Dù không có bằng chứng, cơ sở nào nhưng họ vẫn ngang nhiên suy diễn, vu cáo rằng “các nhà lãnh đạo Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải, TP Hà Nội tham nhũng rất nhiều từ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông” (!)

Âm mưu, bộ mặt thật của những đối tượng này đã bộc lộ rõ nhất ở chỗ: Mỗi lần dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông gặp sự cố (tai nạn lao động, chậm tiến độ…) thì chúng “vui như mở cờ” vì có cớ để thổi phồng, chống phá; còn khi công trình triển khai thuận lợi, được đơn vị liên danh tư vấn độc lập của Pháp (ATC) cấp chứng nhận an toàn, chạy thử thành công, được toàn bộ 9/9 thành viên Hội đồng kiểm tra Nhà nước chấp thuận đồng ý kết quả nghiệm thu có điều kiện để đưa vào vận hành, khai thác thương mại (ngày 29-10 vừa qua) thì chúng lại vô cùng tức tối.

Bởi, thực tâm những đối tượng này chỉ mong tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông (và các công trình khác ở Việt Nam) trở thành phế tích để có cớ chống phá Đảng, Nhà nước ta, chứ chúng hoàn toàn không xót gì tiền bạc của nhà nước và nhân dân, cũng không cần biết nỗi khổ của người dân khi đi lại khó khăn, giao thông ách tắc.

Chủ trương xây dựng tuyến đường sắt Cát Linh-Hà Đông là hoàn toàn đúng, nhưng quá trình triển khai thực hiện dự án có nhiều thiếu sót do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến dự án chậm tiến độ gần 6 năm và đội vốn hơn gấp đôi so với dự toán ban đầu. Điều này đã được Kiểm toán Nhà nước kết luận rõ ràng và Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội đã công khai giải trình từng vấn đề mà báo chí và nhân dân có ý kiến, nêu trách nhiệm cụ thể đối với từng thiếu sót.

Nếu công dân không đồng tình với những kết luận, giải trình đó, có bằng chứng về những sai phạm thì hoàn toàn có thể đề nghị, thậm chí tố cáo để các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra, làm rõ theo đúng quy định của pháp luật. Đảng, Nhà nước ta luôn khuyến khích nhân dân phát huy vai trò giám sát và chủ động tố giác khi phát hiện những sai phạm, chứ không hề cấm đoán việc này; nếu có sai phạm thì Đảng, Nhà nước sẽ xử lý nghiêm như thực tiễn đã chứng minh.

Thế nhưng, việc một số đối tượng cố tình kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” với những lý do chỉ có tính suy diễn, quy chụp, vu khống (hoàn toàn không có cơ sở nào) là không thể chấp nhận, cần phải xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.

Ở bất kỳ quốc gia nào cũng không thể có chuyện tùy tiện suy diễn, quy chụp, vu cáo người nào đó tham nhũng trong khi không có bằng chứng gì. Khi xem xét bất kỳ sự việc gì cũng phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, chứ không thể phiến diện, thành kiến, chủ quan, “vơ đũa cả nắm”, áp đặt ác ý, gây tổn hại danh dự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức, cá nhân.

Thiết nghĩ, việc kêu gọi “tẩy chay tàu điện Cát Linh-Hà Đông” để nhằm mục đích gì, có lợi cho ai và gây thiệt hại cho ai thì tất cả những người có lương tri đều biết tỏng. Có những kẻ ra sức kêu gọi, chỉ mong người dân không đi tàu đó, để rồi lại có cớ rêu rao, phủ nhận hiệu quả của một chủ trương đúng, từ đó cho rằng việc quyết định làm tuyến đường này không phải vì sự đi lại thuận lợi của nhân dân, vì tiến bộ và văn minh đô thị mà vì… lợi ích nhóm (chúng hướng tới mục đích sâu xa là gây mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước).

Bên cạnh đó, cũng có một số người a dua, hùa theo bởi sự đi lại thuận lợi của nhân dân phần nào làm giảm thu nhập của họ. Đó là bản chất của vấn đề mà mọi người cần tỉnh táo nhận rõ để có thái độ, ứng xử đúng đắn, không mắc phải những mưu đồ đen tối gây tổn hại cho nhân dân, đất nước và phụ công sức, sự nỗ lực của bao người.

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang được triển khai xây dựng và hoàn thiện ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, quá trình đó, theo nhận định của Đại hội XIII là vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về nhận thức và tổ chức thực hiện; cùng với đó là những khó khăn, thách thức đến từ sự chống phá của các thế lực thù địch với mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp.

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trong thời gian tới cần chú trọng:

Một là, đấu tranh với quan điểm “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”.

Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm, luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(5); rằng CNXH là chuyên chính, không có dân chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, tha hóa...

Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.

Hai là, đấu tranh với quan điểm lợi dụng “xã hội dân sự” để âm mưu gây chuyển hóa chính trị ở Việt Nam.

Bằng nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa “công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất, tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

Mục đích của những luận điệu kêu gọi thúc đẩy “xã hội dân sự” không ngoài nhằm làm suy yếu vai trò tổ chức, quản lý xã hội của Nhà nước, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, qua đó tạo môi trường xã hội cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, núp dưới danh nghĩa “xã hội dân sự”.

“Xã hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình, kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.

Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta.

Ba là, đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát quyền lực”.

Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN.

Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy, “tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Bất kể thể chế chính trị nào, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ có thể thành công khi có quyết tâm chính trị cao, coi trọng công tác phòng ngừa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục, tu dưỡng rèn luyện là cơ bản với trừng trị nghiêm khắc những cá nhân vi phạm; hoàn thiện thể chế về chống tham nhũng, tăng cường năng lực của bộ máy nhà nước và tính đồng bộ về pháp luật, pháp chế, kỷ cương; thực hiện tốt việc giám sát của các tổ chức, cá nhân trong xã hội với hoạt động của cơ quan nhà nước; có chính sách đãi ngộ với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức...

 

ĐỪNG LÀM SAI LỆCH SỰ THẬT

 

Ngày 29-10 vừa qua, sau khi tòa án ở Việt Nam xét xử công khai và tuyên án 5 đối tượng thuộc nhóm "Báo Sạch", thông cáo của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu ra những ý kiến thiếu khách quan, sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam để bênh vực cho những đối tượng vi phạm pháp luật.

Bản thông cáo có đoạn viết: “Một tòa án Việt Nam đã kết án các nhà báo liên kết với nhóm "Báo Sạch" (Clean Journalism), Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Lê Thế Thắng, kết án họ nhiều năm tù về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự”.

Lạ lùng hơn, bản thông cáo còn nêu: “Chúng tôi hiểu nhóm nhà báo này tập trung đưa tin điều tra về tham nhũng, tất nhiên, không phải là tội phạm” để rồi “kêu gọi trả tự do cho 5 nhà báo này và tất cả những người bị giam giữ vô cớ”.

Cái gọi là Tổ chức Phóng viên không biên giới cũng đã ra thông báo phản đối các bản án đối với “các nhà báo” của nhóm "Báo Sạch", vu cáo Việt Nam “gia tăng đàn áp truyền thông độc lập”. Còn cái gọi là Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) ngày hôm qua 1-11 cũng ra thông cáo có nội dung sai sự thật khi yêu cầu Việt Nam "ngưng đàn áp các nhà báo".

Cái gọi là Sáng kiến pháp lý Việt Nam do hai đối tượng Trịnh Hữu Long và Trần Quỳnh Vi - những kẻ có quan hệ mật thiết với Voice ngoại vi của Việt Tân trước đó cũng ra tuyên bố, cho rằng việc điều tra, bắt giam và truy tố, xét xử đối với các thành viên nhóm “Báo Sạch” là vi phạm quyền tự do ngôn luận.

Dư luận và người dân Việt Nam chẳng ai xa lạ gì luận điệu bổn cũ soạn lại của những tổ chức như Phóng viên không biên giới, Sáng kiến pháp lý Việt Nam hay những đối tượng như Trịnh Hữu Long và Trần Quỳnh Vi hay Phạm Đoan Trang. Đây là những tổ chức, cá nhân thường xuyên lợi dụng, xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, nhà nước Việt Nam.

Cũng không lạ khi Trịnh Hữu Long bênh vực Báo Sạch bởi Long nằm trong bộ 3 với Nguyễn Anh Tuấn và Phạm Đoan Trang được Voice đào tạo để chống phá đất nước. Trong chuỗi hoạt động của những đối tượng này mấy năm qua, có nhiều sự việc từng được một vài thành viên nhóm "Báo Sạch" tham gia hoặc cổ xúy.

“Tim đen” của họ thì đã rõ nhưng quả là đáng thất vọng khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, một cơ quan có đầy đủ thông tin hơn, nắm rõ hơn về sự phát triển của tự do báo chí ở Việt Nam lại có thể đưa ra những lập luận thiếu khách quan, thiếu thiện chí như vậy.

Trong vụ việc này, TAND huyện Thới Lai (Cần Thơ) đã tuyên phạt các bị cáo là thành viên nhóm “Báo Sạch” tổng cộng 14 năm 6 tháng tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo khoản 2, Điều 331 Bộ Luật Hình sự.

Quá trình xét xử, tranh tụng công khai, dân chủ. Chính các luật sư cũng cho rằng, việc truy tố các bị cáo là không oan sai vì có nhiều bài viết đã xâm phạm đến các cá nhân, tổ chức.Các bị cáo cũng đã nhận tội và tỏ ra ăn năn, ân hận.

Cũng cần phải nói thêm rằng, tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam được bảo đảm theo đúng pháp luật quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam, không có cái gọi là nhà báo độc lập, nhà báo công dân như lập luận của một số tổ chức thiếu thiện chí.

Còn xét về luật pháp quốc tế, theo những giá trị phổ quát nhất, tự do báo chí luôn mang tính lịch sử, cụ thể gắn với hoàn cảnh phát triển, văn hóa của mỗi quốc gia; không thể có tự do báo chí vô hạn độ đến mức có thể xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, xâm hại nhân phẩm, danh dự của người khác.

Không nên để thông tin xấu “gây nhiễu”

Trong bối cảnh quan hệ Việt - Mỹ đang được tăng cường, phát triển tốt đẹp. Trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, Việt Nam luôn nỗ lực nghiêm túc thực hiện cam kết, nghĩa vụ theo các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như các cơ chế nhân quyền quốc tế. Trong đó, đặc biệt coi trọng Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Phát biểu vào tháng 9 vừa qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ.

Trên thực tế, những thành tựu mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước là những bằng chứng không thể phủ nhận cho các nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm thực thi quyền con người. Việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người luôn được Ðảng, Nhà nước ta thể chế hóa cũng như thực thi nghiêm túc trong thực tiễn. Việc thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được tuân thủ nghiêm túc theo những cam kết, nghĩa vụ trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như các cơ chế nhân quyền quốc tế. Chính vì vậy, Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, tiếp tục triển khai hiệu quả các Mục tiêu phát triển bền vững.

Tại Hội thảo quốc tế về xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc do Bộ Ngoại giao phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức ngày 14-7-2021 với sự tham dự của hơn 150 đại biểu trong nước và quốc tế, thành tựu của Việt Nam về công tác nhân quyền tiếp tục được ghi nhận. Ông Kamal Malhotra - Ðiều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, hoan nghênh Việt Nam cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và bảo vệ quyền con người mà minh chứng là quyết định thực hiện Báo cáo giữa kỳ tự nguyện. Liên hiệp quốc đánh giá cao Việt Nam.

Thiết nghĩ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nên thay đổi cách tiếp cận và khách quan hơn, toàn diện hơn khi đề cập vấn đề liên quan đến nhóm "Báo Sạch"; không để những thông tin gây nhiễu dẫn đến những bình luận sai lệch; không chỉ đối với vụ án nhóm "Báo Sạch" mà trong nhiều vụ án, vụ việc khác.

“Uống nước nhớ nguồn” - giá trị sống, vẻ đẹp nhân cách con người


          Mỗi chúng ta đều nằm lòng câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Đây không chỉ là đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta được trao truyền từ đời này qua đời khác, mà còn là lẽ sống cao cả, là tình cảm ân nghĩa thủy chung, là thái độ ứng xử có trước có sau của một nhân cách văn hóa.

          Nó thể hiện ở lòng biết ơn, biết trân trọng, ghi nhớ tất cả những gì mà tổ tiên, ông cha đã tốn bao công sức, trí tuệ và cả xương máu để ươm trồng, vun đắp và tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp cho con cháu hôm nay và mai sau; là một giá trị sống, đồng thời là một phương châm ứng xử nhân văn, tinh tế để góp phần làm nên vẻ đẹp nhân cách của con người.

          Đối lập với đạo lý trên là sự vô ơn. Khi được người khác đối đãi tử tế nhưng bản thân lại đối xử trở mặt như trở bàn tay là những kẻ ăn mật trả gừng. Khi hưởng thụ quyền lợi nơi này nhưng lại ủng hộ, vun vén cho nơi khác là những kẻ ăn cây táo rào cây sung. Khi đạt được mục đích cá nhân nhưng vội quên ngay người khác giúp đỡ mình là những kẻ “được chim bẻ ná, được cá quên nơm”. Đáng khinh nhất là những kẻ vô ơn bạc nghĩa khi thể hiện thói ích kỷ cá nhân đến mức “khỏi vòng cong đuôi”, “qua cầu rút ván”, “ăn cháo đá bát”...
          Càng đáng phê phán hơn khi có những người từng mấy chục năm được hưởng “ăn cơm nhà nước, hưởng lộc người dân” nhưng sau khi rời nhiệm sở trở về cuộc sống đời thường lại nảy sinh tư tưởng tiền hậu bất nhất. Họ lợi dụng MXH chê bai đủ thứ về hiện thực đất nước qua lăng kính chỉ toàn màu đen. Có người khi đương chức, đương quyền thì giữ gìn lời ăn tiếng nói, cẩn trọng phát ngôn từng câu, từng chữ để được tiếng là “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, nhưng khi về hưu lại biến mình thành “thông tấn xã vỉa hè” bởi ngồi ở đâu, chỗ nào cũng có thể “bàn loạn” chuyện quốc gia đại sự mà không hề giữ mồm, giữ miệng, thậm chí tùy tiện nhận xét cán bộ đương chức này kém cỏi, đánh giá cán bộ đương nhiệm khác tài hèn đức mọn với động cơ thiếu lành mạnh.

          Thời gian qua, đất nước trải qua không ít sự cố bởi dịch bệnh, thiên tai hoành hành gây ra biết bao hệ lụy cho xã hội. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, đối với những người yêu nước, thương dân thật lòng thì không bao giờ kêu ca, than phiền hay bày tỏ thái độ dửng dưng, vô cảm trước những tổn thất của người dân.

          Đáng tiếc có người thời còn giữ chức vụ lời nói có trọng lượng, nhưng khi về hưu lại mở miệng chê bai, phê phán cấp ủy, chính quyền thiếu sâu sát, quyết liệt, thiếu thương dân nên mới để dịch Covid-19 tái phát. Cũng có người một thời sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, đồng bào trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, thì nay một phần để cho tư tưởng công thần lên ngôi, phần khác vì bị lôi kéo, kích động bởi các phần tử cơ hội chính trị nên không bảo trọng vẹn toàn lời thề kết nạp Đảng năm nào, tự biến mình trở thành “cái loa” phát ngôn cho những thông tin sai trái, lệch lạc, làm nhiễu nhương dư luận, gây phân tâm lòng người.

          Cách ứng xử như thế cũng là tiền hậu bất nhất và họ đang tự biến mình thành người vô ơn bạc nghĩa trước tấm lòng cao cả của cộng đồng, tổ chức và chế độ từng nuôi dưỡng, bao bọc, rèn luyện và tạo cơ hội cho họ thành danh trước khi rời vị trí công tác xã hội.

          Một trái tim biết đồng cảm với khó khăn, hoạn nạn của người khác là một trái tim nhân hậu. Một con người biết chia sẻ với nỗi buồn, đau thương của người khác là một con người giàu tình cảm nhân văn. Nói rộng ra, khi con người, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thể hiện tình cảm, bổn phận, đạo lý, trách nhiệm đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực với cộng đồng, xã hội, đất nước, chế độ cũng là biểu hiện cao cả của lòng biết ơn.

          Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, thể hiện lòng biết ơn không chỉ đối với tổ tiên, dòng họ, gia đình, thầy cô, nhà trường, làng xóm, quê hương-nơi mình sinh ra, lớn lên, học tập; mà cần bền bỉ duy trì, thực hiện văn hóa tri ân đối với cộng đồng, đất nước, dân tộc, nhân dân-nơi mình được bao bọc, nuôi dưỡng về thể chất và tâm hồn; đối với tổ chức, cơ quan, đơn vị và thể chế chính trị-nơi mình được công tác, làm việc, cống hiến, trưởng thành, có địa vị xã hội và cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc.

          Khi cán bộ, đảng viên chú trọng bảo toàn nét đẹp văn hóa tri ân của bản thân ở mọi lúc, mọi nơi sẽ góp phần lan tỏa giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đồng thời đây cũng là một cách phòng ngừa thói tiền hậu bất nhất và sự dửng dưng, vô cảm-một nguy cơ làm bào mòn tâm hồn, cốt cách của người cộng sản. Đây cũng là một cách tự phòng ngừa bản thân tránh rơi vào tình trạng “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị.

 

 

Âm mưu hướng lái các hoạt động thiện nguyện sang cổ súy chiêu bài “xã hội dân sự”

 

Với truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân phát huy tinh thần “tương thân, tương ái”, tích cực tổ chức các hoạt động, chương trình từ thiện, chung sức, đồng lòng cùng với cả nước vượt qua những khó khăn, mất mát của đại dịch COVID-19. Tuy nhiên với mục tiêu phá hoại, các thế lực thù địch đã lợi dụng những hoạt động thiện nguyện này để xuyên tạc, phủ nhận công lao của Đảng, Nhà nước, chính quyền và các lực lượng chức năng, đồng thời cổ súy, thúc đẩy chiêu bài “xã hội dân sự” đã bị biến tướng mà chúng hằng mơ ước thiết lập ở Việt Nam.

Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19, với mục tiêu “bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của người dân là trên hết, trước hết”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực ngày đêm, quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh. Trong đó có nhiều bác sỹ, y tá tận tuỵ ngày đêm, quên ăn, quên ngủ, dốc sức thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch, tranh thủ từng giây, từng phút quý báu để giành lại mạng sống cho bệnh nhân. Lực lượng Công an Nhân dân, Bộ đội Cụ Hồ không ngại vất vả, hy sinh, bảo đảm trật tự an ninh, an toàn phòng, chống dịch. Nhiều người làm việc đến kiệt sức, ngã quỵ, nhiều chiến sỹ đã hy sinh trong cuộc chiến chống dịch này. Nhiều người phải sống cách ly, xa gia đình hàng tháng trời, không thể về nhà ngay cả khi người thân trong gia đình lâm bệnh, qua đời.

Đó còn là hình ảnh những cán bộ làm công tác phòng chống dịch ở cơ sở “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” chịu không biết bao nhiêu áp lực, khó khăn. Đoàn viên Thanh niên, tình nguyện viên thầm lặng cống hiến, góp sức tham gia tuyến đầu chống dịch…

Tuy nhiên với mục tiêu phá hoại, các thế lực thù địch đã lợi dụng những hoạt động thiện nguyện này để xuyên tạc, phủ nhận công lao của Đảng, Nhà nước, chính quyền và các lực lượng chức năng, đồng thời cổ súy, thúc đẩy chiêu bài “xã hội dân sự” đã bị biến tướng mà chúng hằng mơ ước thiết lập ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, hiện nay việc thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Chính phủ là hành động ngăn sông cấm chợ, người dân khắp nơi phải hứng chịu cảnh đói, thiếu lương thực, thực phẩm, thuốc men. Trong khi đó Đảng, Nhà nước, chính quyền thì chống dịch không hiệu quả. Không những không giúp đỡ Nhân dân mà còn đưa quân đội, súng ống vào đàn áp, coi dân như giặc, ngăn cản hoạt động của các hội, đoàn thiện nguyện. Chúng cho rằng: “Các hội đoàn thiện nguyện, người dân rất cần trong cơn đại dịch. Và cũng từ dịch bệnh, ta mới thấy sự cần thiết của cái gọi là xã hội dân sự chứ không phải là xã hội quân sự”.

Tránh nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng được xác định là nguyên tắc sống còn trong phòng chống dịch hiện nay. Làm từ thiện không có nghĩa là sẽ được ưu ái bỏ qua nguyên tắc này mà hơn ai hết cần phải triệt để hơn. Cuộc chiến chống dịch lần này, chúng ta đã xác định đang đi đúng hướng, dù cho hôm nay chúng ta chưa hoàn toàn thắng lợi, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục “vững chí, bền lòng”, quyết tâm chiến thắng, bảo vệ thành quả nỗ lực của Đảng, Nhà nước, chính quyền và toàn thể Nhân dân. Chúng ta không thể chấp nhận bất cứ một hành động nào làm làm nguy hại đến thành quả lớn lao đó.

Giãn cách xã hội, phong tỏa, cách ly… là những biện pháp tối ưu trong phòng chống dịch bệnh COVID-19, điều này không phải chỉ Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận. Hơn nữa các biện pháp này không phải mới áp dụng hiện nay, với đại dịch COVID-19, mà đã từng được áp dụng với nhiều đại dịch truyền nhiễm khác lịch sử nhân loại. Cho nên việc áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội, phong tỏa hay cao hơn nữa ở Việt Nam hiện nay cũng chỉ là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân chứ hoàn toàn không vì mục đích nào khác.

Từ khi dịch bệnh bùng phát đến nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, dù ngoài miệng luôn kêu gào “yêu thương dân tộc, đồng bào” nhưng thực chất chẳng đóng góp gì để hỗ trợ nhân dân mà đứng bên ngoài kích động, phá hoại hòng trục lợi cá nhân, kiếm tiền bẩn từ phía các tổ chức phản động bên ngoài. Hãy sáng suốt khi đặc niềm tin giữa một bên là sự hy sinh thầm lặng công sức, tiền của, sức khỏe, cuộc sống cá nhân, gia đình, ngày đêm lăn xả ở tuyến đầu, hết mình phục vụ nhân dân… một bên là những kẻ “ăn không ngồi rồi”, “đục nước béo cò”, lấy nguy nan của dân tộc, của đất nước làm thời cơ để chống phá, trục lợi…

Hiện nay âm mưu hướng lái các hoạt động thiện nguyện sang cổ súy, thúc đẩy chiêu bài “xã hội dân sự” là một âm mưu nguy hiễm của các thế lực thù địch. Bản chất của cái “xã hội dân sự” bị biến tướng của các thế lực thù địch nhằm chống phá Việt Nam hiện nay là gì?

Thực chất khái niệm “xã hội dân sự” (Civil Society) có nguồn gốc từ phương Tây, được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình. Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.

Với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch đã bóp méo, biến tướng, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước. Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng đã hình thành các hội nhóm, tổ chức nhằm tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến thực hiện “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Âm mưu, thủ đoạn của chiêu bài “xã hội dân sự” là cổ súy tính ưu việt, tính dân chủ của “xã hội dân sự”, đánh lừa nhận thức của người dân, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Móc nối với các cá nhân, tổ chức phản động ở nước ngoài để “nội công, ngoại kích”, thực hiện âm mưu chính trị chống phá Việt Nam. Lợi dụng danh nghĩa tiến hành gây sức ép, đòi thay đổi đường lối, chính sách, pháp luật theo hướng có lợi cho hoạt động chống phá trong nước của chúng. Thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng…

Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ.

Chúng ta thấy rằng âm mưu của các thế lực thù địch hiện nay là vô cùng đa dạng, phức tạp. Việc lợi dụng các hoạt động thiện nguyện để hướng lái hướng lái các hoạt động thiện nguyện sang cổ súy, thúc đẩy chiêu bài “xã hội dân sự” là một trong nhưng âm mưu nguy hiểm trong giai đoạn đại dịch diễn biến phức tạp hiện nay cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.