Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

Nhận diện và loại bỏ căn bệnh sợ trách nhiệm.

 

Nhận diện và loại bỏ căn bệnh sợ trách nhiệm.

Vì nguyên nhân gì mà cán bộ, kể cả cán bộ giữ cương vị lãnh đạo đứng đầu, lại sợ trách nhiệm? Có những người khi thực hiện nhiệm vụ đúng căn cứ, đúng quy định pháp luật nhưng khi thực hiện lại luôn sợ và không quyết định những vấn đề, chỉ vì mục đích an toàn cho mình. Nỗi lo bị sợ kỷ luật, sợ xử lý bằng pháp luật vào một thời khắc nào đó đã trở thành một nỗi sợ phổ biến trong cán bộ, công chức.

Trong đợt phòng chống dịch Covid-19 vừa qua, nhiều địa phương có tâm lý ngại mua sắm thiết bị máy móc, thiết bị, vật tư y tế do sợ bị xử lý kỷ luật, sợ bị xử lý hành chính, hình sự. Nỗi sợ trách nhiệm này còn biểu hiện trong công tác phòng, chống dịch, điều hành, phòng, kiểm dịch tại nhiều địa phương.

Mặc dù Chính phủ đã ban hành nghị quyết 128 nhưng các địa phương vẫn áp dụng những biện pháp ngăn sông cấm chợ, áp dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn, hạn chế giao thông, giao lưu hàng hóa, nhằm tránh phát sinh F0, vì sợ rằng nếu để dịch bùng phát sẽ bị ảnh hưởng đến công tác và có thể bị phê bình, kỷ luật.

Lĩnh vực đầu tư công cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi căn bệnh này. Đa số các công trình trọng điểm đều bị chậm tiến độ, đội vốn, tốc độ giải ngân tại các địa phương, các bộ, ngành đạt tỷ lệ rất thấp, mặc dù Chính phủ đã phải áp dụng nhiều biện pháp để khắc phục vấn đề này.

Theo báo cáo của Chính phủ, năm nay có tới 36/50 bộ cơ quan trung ương, 20/63 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới 40%, trong đó có 20 bộ, ngành và 2 địa phương đạt dưới 20%.

Có thể thấy căn bệnh này xảy ra do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Theo tôi, một trong những nguyên nhân chính đó là sự chồng chéo, mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật đã đẩy cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ vào tâm trạng lo lắng, né tránh, sợ không dám quyết định.

Theo tờ trình số 423 của Chính phủ về cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2026, qua rà soát kiến nghị tại 36 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy các quy định của pháp luật hiện hành chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tế, gây vướng mắc, khó khăn cho đầu tư sản xuất, kinh doanh có liên quan tới 79 luật, 3 nghị quyết của Quốc hội, 188 nghị định của Chính phủ, 20 quyết định của Thủ tướng, 153 thông tư của bộ, ngành. Đây là số liệu rất lớn.

Hệ quả của sự bất cập nêu trên dẫn đến tình trạng hạn chế năng động, sáng tạo vì lợi ích chung của cán bộ, công chức, chưa có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám vì lợi ích chung, cản trở sự phát triển chung của địa phương, cơ quan, đơn vị và sự phát triển chung của đất nước.

Tác động tiêu cực của hiện tượng này, đó là có một bộ phận không nhỏ cán bộ không năng động, sáng tạo, không vì lợi ích chung, dĩ hòa vi quý, thấy đúng không dám làm, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện vô cảm với nhân dân. Người năng động, sáng tạo, trung thực thấy đúng thì dám làm, thấy sai dám đấu tranh vì lợi ích chung, đôi khi lại bị xử lý trách nhiệm, không được bảo vệ.

Sớm luật hóa quy định của Đảng

Để kịp thời sửa chữa, khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 22/9, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14 về chủ trương khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Theo đó,  khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại, nếu thực hiện đúng chủ trương có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn giảm trách nhiệm.

Tham khảo thêm

Tinh thần này cũng được khẳng định tại quy định số 22 của Ban chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Tại khoản 3 điều 2 về nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng có quy định công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đột phá vì lợi ích chung.

Đây là một chủ trương mới, có hướng tới khuyến khích sự sáng tạo, năng động của cán bộ, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Để kịp thời đưa chủ trương đúng đắn của Đảng vào cuộc sống, cần sớm thể chế hóa các chủ trương này vào pháp luật, nếu không sẽ đi đến việc xử lý tùy tiện.

Luật hóa quy định cụ thể, quy định này sẽ không cho phép bất cứ ai được đưa ý kiến chủ quan và làm thay đổi sự thật, sự công bằng của pháp lý. Nếu không luật hóa thì sẽ không bảo vệ được người dám nghĩ, dám làm mà có thể dẫn đến bị trù dập, bị oan sai. Nếu không sớm luật hóa sẽ vô tình mở thêm thị trường cho tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực thanh tra, điều tra, xét xử, kiểm sát.

Thứ nhất, đề nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo cơ quan chuyên môn khẩn trương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến sản xuất, kinh doanh, đầu tư, xử lý vi phạm hành chính, hình sự, các quy định pháp luật khác có liên quan để đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý, sửa đổi, bổ sung, khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo. 

Kịp thời thể chế hóa quy định bảo vệ cán bộ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, coi đây là nhiệm vụ cần sớm phải thực hiện và đưa vào chương trình xây dựng luật pháp lệnh ngay.

Thứ hai, cần sớm nghiên cứu, sửa đổi các quy định pháp luật còn chung chung dẫn đến tùy tiện trong áp dụng trên thực tế, nhất là các quy định về hình sự, xử lý hành chính, kỷ luật.

Thứ ba, trong giai đoạn trước mắt, cần giao cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, rà soát lại các vụ việc đã và đang được xem xét, xử lý có liên quan đến nội dung nêu trên để có biện pháp tham mưu cho cấp có thẩm quyền trong việc xem xét áp dụng quy định này trên thực tế, nhằm củng cố lòng tin, tránh làm oan sai cho cán bộ.

 

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG NHÌN TỪ GÓ ĐỘ NGƯỜI XƯA, CHUYỆN XƯA

 

Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm.

Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100 quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình.

Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính...

Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ).

Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”.

Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”.  Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay.

Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”

Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi tốt.

Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi.

Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này.

Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ. Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”.

Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.

Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp hãi để sửa mình.

Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối. Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”.

Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh chém đầu. 

Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt.

Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng.

Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định.

Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày.

Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch cán cân công lý.

Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần.

Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián Nhà vua trước những việc làm chưa đúng.

Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh thanh” đối thế nhân”.

 

      XÃ HỘI TƯ BẢN CÓ PHẢI LÀ ĐÍCH ĐẾN CỦA LOÀI NGƯỜI

Chỉ 2% tài sản của người giàu nhất thế giới có thể giải quyết nạn đói toàn cầu, theo Giám đốc Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc (WFP), nhóm người siêu giàu chỉ cần trích một phần nhỏ tài sản của họ là đã có thể giải quyết được nạn đói trên toàn cầu. "6 tỷ USD đã có thể giúp đỡ được 42 triệu người có nguy cơ chết đói theo đúng nghĩa đen nếu chúng tôi không thể tiếp cận được họ. Và điều này không hề phức tạp", ông David Beasley, Giám đốc WFP nhận định trong một cuộc phỏng vấn với CNN.

Theo  thống kê từ Bloomberg, tỷ phú Elon Musk, giám đốc điều hành của tập đoàn Tesla, hiện có giá trị tài sản ròng lên tới gần 289 tỷ USD. Điều này có nghĩa là dựa trên yêu cầu từ giám đốc WFP, ông Musk chỉ cần quyên góp khoảng 2% giá trị từ tổng tài sản của mình. Một thống kê từ các tổ chức Viện Nghiên cứu Chính sách và Người Mỹ vì Công bằng Thuế đã ước tính, giá trị tài sản ròng của các tỷ phú ở Mỹ đã tăng gần gấp đôi kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát, đạt tổng cộng 5,04 nghìn tỷ USD vào tháng 10 năm nay. 

Ông Beasley cho rằng, một loạt khủng hoảng xảy ra đồng thời, như biến đổi khí hậu và dịch Covid-19, đang khiến nhiều quốc gia "cận kề nạn đói". Theo một báo cáo được WFP công bố hôm 25/10, 22,8 triệu người, tương đương 1 nửa dân số tại Afghanistan, đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng đói ăn cấp tính. Còn tại Ethiopia, WFP ước tính khoảng 5,2 triệu người đang cần sự hỗ trợ lương thực khẩn cấp ở vùng Tigray, nơi đang xảy ra giao tranh dữ dội giữa các lực lượng phiến quân và quân đội chính phủ. 

Một loạt báo cáo mới đây từ chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng đã đưa ra một cảnh báo rõ ràng về việc tác động của biến đổi khí hậu sẽ ở phạm vi rộng và sẽ gây ra nhiều vấn đề đối với mọi chính phủ. Chính quyền ông Biden cũng lần đầu tiên nêu chi tiết mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và các dòng người di cư từ những quốc gia chịu ảnh hưởng. WFP từng cảnh báo về vấn đề này, đặc biệt là làn sóng di cư từ khu vực Trung Mỹ.

"Chẳng hạn, ở các nước Trung Mỹ như Guatemala, Honduras, El Salvador và Nicaragua, chúng tôi đang phải giúp đỡ rất nhiều người do khí hậu ở đây đang liên tục thay đổi với các trận lốc xoáy và lũ quét. Tình cảnh hiện tại rất thảm khốc", ông David Beasley tiết lộ với CNN, đồng thời cho biết WFP đang phải vật lộn để có được nguồn cung lương thực cho những người có nhu cầu ở các khu vực trên.

Các nhà dân chủ “lởm”, những phần tử cơ hội vẫn liên tục rêu rao, phụ hoạ với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Nhưng những gì đang diễn ra thực tế trong thời gian qua và đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành hiện này đã minh chứng phủ nhận những luận điệu “lộng ngôn” đó.

Thực tế rõ ràng là các cuộc khủng hoảng ở các nước tư bản vẫn tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt, cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại.

Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

Những phân tích đã cho thấy bản chất của chế độ tư bản như thế nào, và chắc chắn chế độ đó không phải là mong muốn đích đến của loài người văn minh trong thế giới tương lai.

(Bài viết có trích dẫn bài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng).

 

 

 

CÁI KẾT CỦA DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN MÀ MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY TẶNG CHO NHÂN DÂN LYBYA LÀ ĐÂY!

 LIBYA NUỐI TIẾC "ĐỘC TÀI"

Đã tròn 10 năm đã trôi qua kể từ khi "độc tài Gaddafi" bị s*át hại - Libya sa vào hỗn loạn cùng cực, vô chính phủ, kh*ủng b*ố hoành hành, từ một quốc gia giàu nhất Trung Đông và châu Phi nay đã trở thành địa ngục, thành chợ mua bán nô lệ của thế giới hiện đại nhưng theo đúng "phong cách Trung Cổ". Người dân Libya rơi vào cảnh khốn cùng, mất tất cả mọi thứ, không có lương thực, nước uống và mọi điều kiện sống tối thiểu, họ ngày càng nuối tiếc "chế độ độc tài". 

Karim Mohamed, một thợ may ở Libya cho biết: "Ở Libya trước đây, tất cả mọi người đều hạnh phúc. Ở Mỹ, có những người ngủ dưới gầm cầu, trong khi ở Libya không bao giờ có điều ấy. Ở Libya trước đây không có phân biệt đối xử, không có vấn đề gì cả. Công việc rất tốt và do đó có tiền. Cuộc sống của tôi tất cả là nhờ vào Gaddafi - Đấng Cứu thế của châu Phi".

Eliyas Yahya, một Lãnh tụ Hồi giáo địa phương thì bức xúc tự vấn: "Vì lý do gì mà người ta g*iết Gaddafi? Người ta gi*ết một người để giải quyết vấn đề và bây giờ thì vấn đề còn tồi tệ hơn. Tại sao gi*ết Gaddafi?".

Dưới đây là mô tả của vợ chồng James Moriarty, những người Mỹ đã sống và làm việc ở Libya hàng chục năm, trải qua các biến cố ở đây, kể về "nỗi khổ cực" của người dân Libya dưới ách "độc tài t*àn á*c" Gaddafi, người lãnh đạo đất nước theo con đường XHCN:

"Libya là một quốc gia thiên đường, họ là một nền giáo dục. Tôi sẽ cho bạn biết một chút về Libya mà chúng tôi đã nhận ra. Trong thời gian Gaddafi cầm quyền, Libya từ một quốc gia nghèo nhất đã trở thành phát triển nhất ở châu Phi. Mức lương trung bình là 15.700 USD/năm, cao hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ. Khi bạn kết hôn chính phủ sẽ cho bạn một món quà 46.000 USD. Mỗi đứa trẻ sinh ra cũng nhận được một món quà từ chính phủ là 5.000 USD. Chi phí cho một căn nhà là 10% mức lương cơ bản của bạn trong 20 năm, và sau đó nó là của bạn. 

Chính phủ đã xây dựng 620.000 căn nhà chung cư mới cho mọi người, rộng ít nhất 2.000 feet vuông mỗi căn. Chiếc xe đầu tiên của bạn, bạn chỉ phải trả nửa hóa đơn của đại lý, còn lại nhà nước trả giúp. Hầu hết các tiện ích đều được chính phủ trả tiền, như điện, khí đốt, vv, còn xăng chỉ có 44 xu một gallon. Việc học tập của bạn sẽ được thanh toán đầy đủ cho đến khi nào nào bộ não của bạn không còn học được nữa. Chúng tôi biết một người đàn ông trẻ, người đã được nhận bằng tiến sĩ tại Anh. Anh ấy có một người vợ và bốn đứa con; học phí, sách, và tất cả chi phí được cộng vào phụ cấp là 4.500 bảng Anh/tháng. Nếu phải nằm viện, bạn được thanh toán đầy đủ và nếu bạn không thể điều trị tại Libya, chính phủ sẽ trả tiền cho bạn để chữa trị ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Họ còn trả tiền đi lại và các chi phí khác cho một thành viên gia đình để đi chăm sóc bạn. 

Không ai ở Libya có bất kỳ khoản nợ nào. Cả nước không có nợ. Chính phủ chỉ bỏ ra khoảng 49% ngân sách cho tất cả mọi việc quản lý xã hội, phần còn lại được phân phối hết thông qua các chính sách hỗ trợ người dân. Cuộc sống của người dân rất tốt. Nếu bạn là một doanh nhân thất bại, hoặc bạn bị mất tiền của mình vì lý do nào đó và bạn cần nuôi sống gia đình, sẽ có các kho chứa thực phẩm trên cả nước. Bạn có thể đi đến đó, cho họ biết bạn cần thức ăn mà không cần bất kỳ tài khoản hay thứ giấy tờ gì khác, họ sẽ cung cấp cho bạn 50 kg gạo và 50 kg bột, 20 kg sữa bột, cấp tiền cho bạn để mua một con vật về thịt, cùng 20 kg pho mát, vv..

Họ tặng nó cho bạn và nếu bạn phải quay trở lại hai hoặc ba ngày sau đó, bạn sẽ nhận được những thứ đó một lần nữa. Trong tháng ăn chay Ramadan, giống như Giáng sinh của chúng ta, bất kỳ người đàn ông, phụ nữ hoặc trẻ em nào cũng có thể đi vào bất kỳ ngân hàng nào đó ở Libya để được nhận một món quà 500 USD từ chính phủ. 

Rõ ràng, người dân ở Libya đã có một cuộc sống thực sự tốt. Không bao giờ có bất kỳ lý do nào cho những con người đó muốn một cuộc nổi dậy. Khủng hoảng Libya hoàn toàn là một hoạt động cờ giả (giả mạo) tuyệt đối.


Ảnh: 1 - Gaddafi được 11 bộ tộc phong là "Vua của châu Phi".

2- Hilary Clinton đến Libya gặp các đối tượng "dân chủ", ngay sau đó đã hiện nguyên hình là các thủ lĩnh IS. Mụ phù thủy trắng trợn tuyên bố: "Chúng tôi đến, chúng tôi cười, và hắn ta đã c*hết"!

3 - Một cuộc t*ấn c*ông Libya của Nato do Mỹ dẫn đầu, cuộc chiến khiến ít nhất 600.000 người Libya thiệt mạng trực tiếp trong xung đột (10% dân số)./.




Yêu nước ST.

COVID-19: “CÀNG TRONG KHÓ KHĂN, GIAN KHỔ, HÌNH ẢNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ CÀNG TỎA SÁNG”

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã có trên 4.000 đồng chí bị nhiễm COVID-19 nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính tổ chức, tính kỷ luật, chặt chẽ, nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tại phiên thảo luận ngày 9/11, Thiếu tướng Phan Văn Xựng, Chính ủy Bộ Tư lệnh TP. HCM (Đoàn ĐBQH TP. HCM) đã phát biểu về sự nỗ lực của quân đội trong tham gia phòng, chống COVID-19.

Theo ĐBQH Phan Văn Xựng, cùng với cả nước, toàn quân đã quán triệt và nhận thức sâu sắc tinh thần chống dịch như chống giặc. Phương châm tìm đến nhân dân để biết nhân dân cần gì, không để nhân dân phải tìm đến bộ đội. Các đơn vị trong toàn quân đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương huy động tối đa nguồn lực vừa chống dịch COVID-19, vừa đảm bảo nhiệm vụ quân sự quốc phòng, nâng cao khả năng dự báo và sử dụng lực lượng, phương tiện của quân đội, chủ động, kịp thời, đúng lúc, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ phòng, chống COVID-19.

Trong các đợt dịch bùng phát, Bộ Quốc phòng đã kịp thời điều động, tăng cường lực lượng, trang thiết bị, phương tiện cao nhất, tốt nhất, hiện đại nhất để hỗ trợ cho các địa phương, đặc biệt hỗ trợ cho TP. HCM và các tỉnh phía Nam hơn 133.000 quân, bộ đội hơn 33.000, dân quân hơn 99.000. 

Riêng lực lượng quân y tăng cường 9.758 đồng chí, triển khai 13 cơ sở điều trị bệnh nhân COVID-19 với 6.550 giường bệnh, thành lập 660 tổ quân y cơ động, 510 tổ vaccine, 1.125 tổ lấy mẫu xét nghiệm, tăng cường xuống cơ sở thực hiện truy vết xét nghiệm, tiêm ngừa, tư vấn sức khỏe và điều trị F0 tại nhà có hiệu quả tốt.

Bộ Quốc phòng đã thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 trên địa bàn thành phố và các tỉnh phía Nam, chỉ đạo các lực lượng quân đội, dân quân tự vệ phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức tuần tra, chốt chặn tiếp tế lương thực, thực phẩm phối hợp đảm bảo an sinh. Sự phối hợp giữa các lực lượng trên tuyến đầu chống dịch y tế, quân đội thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch nhịp nhàng, chặt chẽ. Tất cả đều vì sức khỏe của bệnh nhân.

Cùng với triển khai huy động nguồn lực tham gia phòng, chống dịch, Bộ Quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan, TP. HCM và các tỉnh phía Nam thực hiện tốt các biện pháp đảm bảo an sinh xã hội, không để ai bị thiếu đói, tham gia đề xuất chế độ, chính sách cho các đối tượng. 

Toàn quân đã huy động 6162 chiếc xe tải, 3 chuyến tàu thủy, 156 chuyến máy bay vận chuyển 25.457 tấn hàng hóa, thu hoạch nông sản giúp nhân dân và vận chuyển trên 15 triệu túi an sinh đến từng hộ gia đình của người dân.

Việc tổ chức khâm liệm, hỏa táng người tử vong do COVID-19 tiếp nhận bảo quản bàn giao tro cốt cho gia đình có người thân bị mất chu đáo.

"Đây là việc làm chưa từng có trong tiền lệ, nhưng cán bộ, chiến sĩ, dân quân nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, coi người mất như người thân của mình, phục vụ với tinh thần tận tâm, tận tình, trân trọng. Hiện nay, quân đội đang chỉ đạo cơ quan quân sự các địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng bàn giao kỷ vật người tử vong COVID-19 cho gia đình. Có thể nói, càng trong khó khăn, gian khổ, hình ảnh của bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng", Thiếu tướng Phan Văn Xựng nhấn mạnh.
Theo Thiếu tướng Phan Văn Xựng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã có trên 4.000 đồng chí bị nhiễm COVID-19 nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính tổ chức, tính kỷ luật, chặt chẽ, nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

"Đặc biệt, có đồng chí bị nhiễm bệnh, điều trị khỏi tình nguyện ở lại phục vụ, nhiều đồng chí có người thân qua đời đã nén đau thương ở lại đơn vị để chống dịch. Hiện nay, tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp...", Thiếu tướng Xựng ngậm ngùi nói.

Từ những ý kiến trên, ĐBQH Phan Văn Xựng đề nghị Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19, các bộ, ngành chức năng chủ động dự báo và có kịch bản chỉ đạo phòng, chống dịch hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ; Tránh để dịch bùng phát như vừa qua, gây mất mát lớn về kinh tế, xã hội và tính mạng của người dân.

Cuối cùng, với tư cách và trách nhiệm của một ĐBQH, ông Xựng trân trọng cảm ơn Đảng, Nhà nước, Chính phủ, bộ, ngành trung ương, địa phương đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp với quân đội trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhất là trong công tác phòng chống dịch COVID-19 vừa qua.

----------------
PT-TG. st
















Tin Covid sáng 11-11: Hà Nội có 14 chùm ca bệnh, ổ dịch; Tây Ninh, An Giang, Cần Thơ số ca mắc tăng kỷ lục

 

Tính đến nay, Hà Nội có 14 chùm ca bệnh, ổ dịch; trong khi đó các tỉnh, thành phố: Tây Ninh, An Giang, Cần Thơ số ca mắc tăng kỷ lục.

CẦN LÀM RÕ CÓ HAY KHÔNG VIỆC TIẾP TAY CHO NHỮNG K.Ẻ XẢO TRÁ, ÂM MƯU CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC...?

     Mới đây một số đọc giả đã phát hiện trong sách Truyện ngắn viết về gia đình, do NXB Hồng Đức thực hiện. Khi viết về Chiếc áo len mẹ đan, có đoạn tác giả đã trắng trợn viết: "Tôi muốn đan một chiếc áo tự do, dân chủ cho quê hương tôi để thay thế sự độc tài, đàn áp của Cộng sản..."

Rõ ràng đây là một âm mưu nhằm truyền bá tư tưởng chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vậy phải chăng có "ai đó" đang cố tình bao che hoặc cố tình làm ngơ trước sự chống phá công khai và vô cùng nguy hiểm này..?

Thiết nghĩ các cơ quan chắc năng có thẩm quyền về hoạt động in ấn, xuất bản, lưu hành... cần phải vào cuộc xác minh, làm rõ vấn đề này để trả lời cho công luận biết: Có hay không việc cố tình làm ngơ hoặc tiếp tay của một cá nhân hay một "nhóm người" nào đó trước các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa hiện nay...? 

Phải nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh đập tan những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngay từ trong trứng nước. Không để chúng lũng đoạn, làm bừa, làm ẩu, làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đất nước. Nếu để mất văn hóa chúng ta sẽ mất đi "sức mạnh nội sinh" của dân tộc và cuối cùng sẽ mất đi tất cả./.






Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC!

 Đây là hình ảnh Điệp viên Hà Minh Trí đã ám sát tổng thống ngụy Ngô Đình Diệm ngày 22/2/1957 tại Tây Nguyên khi Ngô Đình Diệm cắt băng khánh thành Hội chợ ở đây, ám sát không thành, anh bị bắt tại chỗ.

Ngày đó, súng không bị đạn lép Diệm đã thành thiên cổ. Trí bắn viên đầu tiên thì đạn bị lép, bắn viên thứ hai may cho Diệm có một vị bộ trưởng bất ngờ đứng che cho (vô tình) thế là viên bộ trưởng này bị trúng đạn, đứng cạnh là viên thượng sĩ cảnh sát to như một con gấu đã quật ngã Trí xuống đất, chưa đầy một nốt nhạc đám mật vụ đã vây kín người nổ súng, một trận mưa đấm đá trút hết vào người (nhìn ảnh mọi người đã thấy).

Sau đó Trí được đưa về Sài Gòn thẩm vấn, đòn roi để khai ai là chủ mưu.

Anh tên Trí chứ không phải tên Bờm nên nhanh trí nghĩ thầm nếu giờ mà khai là người của Cộng Sản là bị xử tử ngay, chi bằng... nghĩ vậy anh liền khai mình là người của Giáo phái Cao Đài do Ngô Đình Diệm đàn áp Cao Đài và các Giáo phái khác, nên bắn Ngô Đình Diệm để trả thù cho các giáo phái, không quên khai một loạt tướng tá Ngụy xúi giục các Giáo phái chống ông Diệm làm chia rẽ nội bộ chính quyền Ngụy, sau đó một loạt tướng tá bị Diệm cắt chức ngồi chơi xơi nước nhất là những người được Pháp đào tạo bài bản chính quy, dấy thêm nghi ngờ thế lực nước ngoài muốn loại bỏ Diệm.

Sau này anh bị kết án tù đày ra Côn Đảo năm 1973 được trao trả tù binh (có tài liệu ghi được thả tự do 1965) sau 30/4/1975 Ông Trí trở thành cán bộ tỉnh ủy Tây Ninh (trưởng ban Tôn giáo tỉnh ủy) cho đến khi về hưu, ông mang hàm Đại tá Công an, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Ông vừa mất năm 2020 thọ 85 tuổi./.


Yêu nước ST.

VIỆT NAM TÔN TRỌNG TỰ DO TÔN GIÁO NHƯNG KHÔNG AI ĐƯỢC PHÉP ĐỨNG CAO HƠN PHÁP LUẬT!

       Việt Nɑm tôn trọnց tự do tôn Quуền tự do tín nցưỡnց ᴠà tôn ցiáo củɑ cônց dân Việt Nɑm được quу địnɦ tronց Hiến ρɦáρ ᴠà được bảo đảm trên tɦực tế. Hiến ρɦáρ năm 2013 (ѕửɑ đổi) củɑ nước CHXHCN Việt Nɑm (điều 24) ցɦi rõ: “Mọi nցười có quуền tự do tín nցưỡnց, tôn ցiáo, tɦeo ɦoặc ƙɦônց tɦeo một tôn ցiáo nào. Các tôn ցiáo đều bìnɦ đẳnց trước ρɦáρ luật. Nɦà nước tôn trọnց ᴠà bảo ɦộ quуền tự do tín nցưỡnց, tôn ցiáo. Kɦônց ɑi được хâm ρɦạm tự do tín nցưỡnց, tôn ցiáo ɦoặc lợi dụnց tín nցưỡnց, tôn ցiáo để ᴠi ρɦạm ρɦáρ luật”.

Việt Nɑm là quốc ցiɑ đɑ tôn ցiáo, ɦiện có 06 tôn ցiáo lớn: Pɦật ցiáo, Cônց ցiáo, Ƭin Lànɦ, Hồi ցiáo, Cɑo Đài, Hoà Hảo. Cɦínɦ ѕácɦ nɦất quán củɑ Nɦà nước Việt Nɑm là tôn trọnց ᴠà tạo điều ƙiện tɦuận lợi để mọi nցười dân tɦực ɦiện quуền tự do tôn ցiáo, tín nցưỡnց; coi trọnց cɦínɦ ѕácɦ đoàn ƙết ᴠà ɦòɑ ɦợρ ցiữɑ các tôn ցiáo, đảm bảo ѕự bìnɦ đẳnց, ƙɦônց ρɦân biệt đối хử ᴠì lý do tôn ցiáo, tín nցưỡnց, bảo ɦộ ɦoạt độnց củɑ các tổ cɦức tôn ցiáo bằnց ρɦáρ luật; các ցiá trị ᴠăn ɦóɑ, đạo đức tốt đẹρ củɑ các tôn ցiáo được ρɦát ɦuу.

Về cơ bản các các tín đồ tɦuộc các tôn ցiáo ƙɦác nɦɑu cɦunց ѕốnց ɦòɑ bìnɦ, ցóρ ρɦần хâу dựnց ᴠà bảo ᴠệ tổ quốc tɦân уêu.

Bên cạnɦ nɦữnց điều ɦết ѕức tốt đẹρ đó, ᴠẫn đɑnց tồn tại nɦiều con ѕâu làm rầu nồi cɑnɦ, nɦiều ƙẻ lấу dɑnɦ nցɦĩɑ tôn ցiáo để ρɦá ɦoại ƙɦối đại đoàn ƙết toàn dân tộc, хuуên t/ạc, bôi nɦọ cɦủ trươnց cɦínɦ ѕácɦ củɑ Đảnց, ρɦáρ luật nɦà nước, ƙícɦ độnց ցâу cɦiɑ rẽ ᴠà ƙɦônց nցừnց cɦốnց ρɦá cɦínɦ tổ quốc mìnɦ…

Ƭôn ցiáo có nɦiều nɦưnց tổ quốc cɦỉ có một; tự do tôn ցiáo nɦưnց ρɦải tronց ƙɦuôn ƙɦổ ρɦáρ luật; ƙɦônց ɑi được ρɦéρ đứnց cɑo ɦơn ρɦáρ luật! Câu cɦuуện một ѕố linɦ mục cɦốnց ρɦá đất nước, cɦiɑ rẽ nցười có đạo ᴠà nցười ƙɦônց tɦeo tôn ցiáo nào, đi nցược lại lợi ícɦ củɑ quốc ցiɑ, dân tộc nɦư Đặnց Hữu Nɑm, Nցuуễn Nցọc Nɑm Pɦonց, Nցuуễn Duу Ƭân, Đinɦ Hữu Ƭɦoại…là nɦữnց ᴠí dụ điển ɦìnɦ.

Hiện nɑу, Cônց ցiáo có ƙɦoảnց 6,5 triệu tín đồ; 42 Giám mục, ƙɦoảnց 4.000 linɦ mục, ɦơn 100 dònց tu, tu ɦội, tu đoàn ᴠới ɦơn 17.000 tu ѕỹ; có 26 ցiáo ρɦận, 07 Đại Cɦủnց ᴠiện. Nցɦĩɑ là Ƭɦiên Cɦúɑ ցiáo mới cɦỉ tồn tại trên đất nước nàу có 488 năm, cɦưɑ đến 5 tɦế ƙỷ. Ƭronց ƙɦi đó, đất nước nàу có lịcɦ ѕử lậρ quốc ցần 5.000 năm (2.879 trước Cônց nցuуên).

Nցɦĩɑ là, trước ƙɦi nցười Việt Nɑm ƅắt đầu tɦeo tôn ցiáo nào đó tɦì trước tiên ɦọ ρɦải có cội nցuồn, có tổ tiên, có lịcɦ ѕử ᴠà tất cả nցười Việt đều là cɦáu Hồnց, con Lạc dù tɦeo tôn ցiáo ɦɑу ƙɦônց tɦeo tôn ցiáo. Có đạo ɦɑу ƙɦônց có đạo cũnց đều là nցười Việt Nɑm, là câу cɦunց ցốc, là con một nɦà. Vậу lý do ցì để các ᴠị linɦ mục ƙể trên nցàу đêm cɦốnց lại quê ɦươnց, nơi cội nցuồn, ցốc rễ đã nuôi dưỡnց mìnɦ?

Vɑi trò là cônց dân Việt Nɑm, cần ƙɦẳnց địnɦ rõ rằnց, nɦữnց ᴠị nàу là nɦữnց tên ρɦản độnց đội lốt linɦ mục. Họ là cônց dân Việt Nɑm nɦưnց đã rất nɦiều lần ᴠi ρɦạm ρɦáρ luật, ƙícɦ độnց ցiáo dân cɦốnց ρɦá cɦínɦ quуền, đi nցược lại lợi ícɦ cɦunց củɑ dân tộc tɑ. Hắn tɦườnց хuуên хúc ρɦạm lãnɦ tụ, ρɦỉ bánց các ᴠị lãnɦ đạo củɑ Đảnց ᴠà nɦà nước tɑ, bôi nɦọ, хuуên t/ạc ᴠề tìnɦ ɦìnɦ đất nước. Cấu ƙết ᴠới đám ρɦản độnց ở tronց ᴠà nցoài nước để tuуên truуền lật đổ cɦế độ ᴠà cɦínɦ quуền nɦân dân.

Các nցươi nên nɦớ rằnց Ƭɦiên Cɦúɑ ցiáo cɦỉ du nɦậρ ᴠào nước tɑ ƅắt đầu từ năm 1533, từ năm 1533 đến năm 1614, cɦủ уếu là các ցiáo ѕĩ dònց Pɦɑn-хi-cô tɦuộc Bồ Đào Nɦɑ ᴠà dònց Đɑ Minɦ tɦuộc Ƭâу Bɑn Nɦɑ đi tɦeo nɦữnց tɦuуền buôn ᴠào Việt Nɑm. Ƭừ năm 1615 đến năm 1665, các ցiáo ѕĩ dònց Ƭên tɦuộc Bồ Đào Nɦɑ từ Mɑ-cɑo (Mɑcɑu, Ƭrunց Quốc) ᴠào Việt Nɑm ɦoạt độnց ở cả Đànց Ƭronց (nɑm ѕônց Giɑnɦ), Đànց Nցoài (bắc ѕônց Giɑnɦ).

Bộ Giáo Luật - Ƭɦe Code of Cɑnon Lɑw: QUYỂN IV ցɦi rõ “Cả bàn tɦờ cố địnɦ lẫn bàn tɦờ di độnց cɦỉ được dànɦ riênց cɦo ᴠiệc tɦờ ρɦượnց Ƭɦiên Cɦúɑ, tuуệt đối ƙɦônց được ѕử dụnց ᴠào bất cứ ᴠiệc ρɦàm tục nào”. Ƭɦế nɦưnց các nցười ᴠẫn cố tìnɦ ρɦớt lờ, ᴠi ρɦạm nցɦiêm trọnց ƙɦi biến nɦà tɦờ tɦànɦ nơi cổ ᴠũ nɦữnց ᴠiệc làm ρɦàm tục, dànɦ ρɦần lớn tɦời ցiɑn củɑ một buổi lễ để nói хấu cɦế độ, ɦuу độnց ցiáo dân ƙɦiếu ƙiện, tɦiếu đạo đức nơi tôn nցɦiêm, các nցười ƙɦônց nɦữnց ᴠi ρɦạm Giáo luật mà còn ᴠi ρɦạm cả Luật ρɦáρ Việt Nɑm, ᴠi ρɦạm đạo đức ᴠà luân lý…

Điều 1211 củɑ Bộ Giáo luật cũnց ցɦi rõ “Nɦữnց nơi Ƭɦánɦ bị хúc ρɦạm do nɦữnց ɦànɦ ᴠi ᴠì bất хứnց nցɦiêm trọnց đã ρɦạm tại đó ᴠà đã ցâу ցươnց хấu cɦo các tín ɦữu…”. Với nɦữnց ᴠiệc làm ᴠô ρɦáρ ᴠô tɦiên nɦư tɦế, các nցười liệu có ƙínɦ Cɦúɑ ƙɦi mà ɦànɦ độnց, lời nói đều ƙɦônց tươnց хứnց ᴠới 10 điều răn, nɦư tɦế có ρɦải là bất ƙínɦ ᴠới Cɦúɑ?

Vɑi trò là linɦ mục, các nցười đã làm trái ý cɦúɑ ᴠà lònց dân. Đó là các ρɦát nցôn, ᴠiệc làm ɦoàn toàn ƙɦônց tươnց хứnց ᴠới điều Giáo ɦoànց Frɑnceѕco, Ƭòɑ tɦánɦ Vɑticɑn ƙɦuуến ƙɦícɦ cộnց đồnց Cônց ցiáo ở Việt Nɑm “ѕốnց ρɦúc âm ցiữɑ lònց dân tộc”, “nցười Cônց ցiáo tốt cũnց là nցười cônց dân tốt”. Các ρɦát nցôn, ᴠiệc làm đó cũnց ɦoàn toàn ƙɦônց tươnց хứnց ᴠới điều đã được Giám mục răn dạу.

Ʀõ rànց là cɦúnց tɑ đã quá nɦân nɦượnց để rồi một ѕố linɦ mục được đà lấn tới. Kɦẳnց địnɦ rõ là Đảnց ᴠà Nɦà nước tɑ luôn tôn trọnց tự do tôn ցiáo, tuу nɦiên ƙɦônց một tôn ցiáo nào có tɦể đứnց trên ρɦáρ luật Việt Nɑm. Đặnց Hữu Nɑm, Nցuуễn Nցọc Nɑm Pɦonց, Nցuуễn Duу Ƭân, Đinɦ Hữu Ƭɦoại cần ρɦải bị trừnց trị trước ρɦáρ luật. Cɦúnց ƙɦônց хứnց làm linɦ mục, ƙɦônց хứnց làm cônց dân Việt Nɑm. Cổ nɦân dạу “trước dùnց lễ để ցiáo ɦóɑ, ѕɑu mới dùnց binɦ”.

Ƭuуên truуền, ᴠận độnց, ցiáo dục, tɦuуết ρɦục nɦiều nɦưnց cɦúnց ᴠẫn bỏ nցoài tɑi ᴠà cɦưɑ có dấu ɦiệu nցừnց ᴠiệc cɦốnց ρɦá đất nước. Dùnց lễ ƙɦônց được tɦì ρɦải dùnց binɦ, đưɑ cɦúnց rɑ trước ánɦ ѕánց củɑ ρɦáρ luật để trừnց trị. Việt Nɑm tôn trọnց quуền tự do tôn ցiáo nɦưnց ƙɦônց ɑi được ρɦáρ đứnց trên ρɦáρ luật, tổ quốc./.




Yêu nước ST.


CHỐNG CỘNG FULBRIGHT: HẢI PHÒNG CÓ NÊN SỬ DỤNG NHỮNG KẺ CHỐNG CỘNG!

     Tại sao cứ phải Fulbright mới định hướng kinh tế được nhỉ.?

Việt Nam hết trường đào tạo chuyên gia kinh tế rồi sao.?

Việt Nam không còn chuyên gia kinh tế.?

Những kẻ chống cộng, nợ máu với dân tộc Việt Nam mới đủ "tư cách" tư vấn kinh tế sao.?

Xưa nay các thành phố lớn không có FULBRIGHT tư vấn vẫn phát triển kinh tế tốt cơ mà. 

Tấm gương TPHCM mời chuyên gia Fulbright làm kinh tế MỤC TIÊU KÉP đang sờ sờ ra đó vẫn chưa tỉnh ngộ sao.?

"HẢI PHÒNG"

hãy tỉnh táo"

TẨY CHAY FULBRIGHT"

Thành phố Hồ Chí Minh chưa đủ đau lòng hay sao mà giờ lan tới Hải Phòng? Cả nước này hết các trường ĐH chính quy, uy tín, Hải Phòng hết người hay sao mà để trường này tư vấn phát trển kinh tế? Làm gì thì làm, đừng lợn lành hoá lợn què nhé.

Không lẽ dự án của Obama đã thành công rồi sao? Chúng đang tác động vào các địa phương để chuyển hoá chế độ, vấn đề là lãnh đạo các địa phương đó có đủ trình độ để phân biệt được đúng sai hay không, có đủ năng lực để biết tiếp thu cái hay và loại bỏ cái dở, biết gạn đục khơi trong hay không ? Sai lầm chính là ta đã để ra đời cái của nợ chết người này!




Môi Trường ST.

Tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng,

 

     Thứ nhất, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh đều phải kiên định, nghiên cứu và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước theo Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; coi đó “là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt trong tình hình hiện nay” gắn với Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 để triển khai nghiên cứu lý luận” gắn và Quy định số 285-QĐ/TW ngày 25/4/2015 của Bộ Chính trị khóa XI về dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, nhà nước; tạo môi trường khuyến khích sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu lý luận chính trị và tôn trọng, tiếp thu và sử dụng kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Tăng cường và đổi mới việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, để không chỉ nhận thức sâu sắc mà quan trọng hơn là bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, gắn với tổng kết thực tiễn và vận dụng vào thực tiễn, phù hợp điều kiện của Việt Nam.

     Thứ hai, chú trọng công tác tư tưởng, gắn thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; triển khai toàn diện, sâu rộng Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam; trước hết, trong xây dựng đường lối, chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thể chế, nguyên tắc tổ chức hoạt động của toàn hệ thống chính trị… Đồng thời, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội. Trong đó, việc đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về giá trị, những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với Việt Nam và xu thế thời đại; việc phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng và các kênh thông tin khác gắn với nâng cao tính thuyết phục, tính chiến đấu và tính hấp dẫn của công tác tư tưởng trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội có vai trò quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

     Thứ ba, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị về chương trình, giáo trình, nội dung và phương pháp giảng dạy trong hệ thống các trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, xây dựng các chương trình, nội dung đào tạo lý luận chính trị phù hợp với đối tượng và cấp học, có tính liên thông để khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp, chưa bám sát thực tiễn gắn với việc nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học các bộ môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Đồng thời, chú trọng giáo dục lý luận chính trị cho thế hệ trẻ, “góp phần làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ”.

     Thứ tư, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch, với các hình thức đa dạng, phong phú để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Tăng cường thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chủ động xây dựng kế hoạch, luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc và tạo sự thống nhất trong phối hợp giữa các cơ quan, ngành có liên quan trên cả ba lĩnh vực lý luận chính trị, tư tưởng - văn hóa và văn học - nghệ thuật. Trong đó, các cơ quan thông tấn, báo chí từ Trung ương đến địa phương tiếp tục xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”; phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Thông qua đó, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận diện và kiên quyết phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chỉ rõ và vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội của các thế lực thù địch, phản động nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân để tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

     Thứ năm, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn từ cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ thuộc tất cả các chuyên ngành: triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học; tư tưởng Hồ Chí Minh; lịch sử Đảng; xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam; chính trị học và một số bộ môn khác nghiên cứu chuyên sâu về đường lối, chủ trương, chiến lược của Đảng. Trong đó, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy sáng tạo và trình độ lý luận cao, am hiểu tình hình thế giới và trong nước, có năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn; gắn lý luận với thực tiễn, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn tốt để không chỉ chứng minh tính đúng đắn, khoa học của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

     Thứ sáu, mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt để có đủ năng lực nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy… Thông qua đó, giúp mỗi người không chỉ hiểu đúng, sâu sắc và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng vào quá trình công tác và thực tiễn cuộc sống để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó mà còn góp phần trong tuyên truyền và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh với các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội để thống nhất cao về ý chí, hành động, siết chặt đội ngũ, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

 

     Một là, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX chứ không phải là ở thế kỷ XXI - thời đại của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của nền kinh tế tri thức; chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam mà du nhập từ phương Tây, nên không phù hợp với điều kiện Việt Nam; đòi sửa đổi Cương lĩnh của Đảng theo hướng đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng mà chỉ giữ lại “học thuyết Hồ Chí Minh”, chỉ giữ lại mục tiêu độc lập dân tộc mà bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội... Đây là những nhận thức sai lầm của những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện về chính trị, tư tưởng, nên đã không thấy hoặc cố tình không thấy rằng, Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là cái “cẩm nang thần kỳ”, là “mặt trời chói lọi” soi sáng con đường cách mạng Việt Nam. Nhân thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đổi mới về tư duy lý luận và nhận thức, đã ngày càng khẳng định sức sống, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin; tăng cường tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, bảo thủ cũng như loại bỏ những nhận thức ấu trĩ, giáo điều, duy ý chí về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chủ nghĩa xã hội,v.v.. để vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam.

     Hai là, xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh như: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa. Thậm chí, có người muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin hoặc tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và tấm gương đạo đức cách mạng của Người để “hạ bệ thần tượng”; lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin và phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn trong tư tưởng của Người, nhằm phá hoại và làm thay đổi nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Những quan niệm sai lầm này cho thấy sự thiển cận của những người không hiểu và cố tình không hiểu rằng, chỉ khi tìm thấy và lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh mới tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại, để lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng phát triển phồn vinh. Hệ thống quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 90 xây dựng và phát triển.

     Ba là, đề cao “cực đoan” tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ mà không cần chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Đây là quan điểm sai trái, bởi, thực tế lịch sử đã chứng minh, Hồ Chí Minh là người lựa chọn, tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, song điều đó không có nghĩa cách mạng Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ… Loại ý kiến đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh này thực chất là xuyên tạc và nhằm hạ thấp sự cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người, bởi chỉnh thể làm nên hệ tư tưởng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải chỉ duy nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh.

     Bốn là, “hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” chỉ ra. Những người dao động về nền tảng tư tưởng, ý thức hệ của Đảng này không hiểu được rằng: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”[15], nhất là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”[16]. Những biểu hiện suy thoái này có thể dẫn đến sự phản bội lại mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, xa rời nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó cần phải được nhận thức, cảnh giác sâu sắc trong toàn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.