Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến
triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn
ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc
thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào
kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá
số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa”
của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10
tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm.
Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành
văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này
hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy,
cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan
tâm và có những chế tài nghiêm khắc.
Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế
quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3
năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng
bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9
quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100
quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình.
Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã
xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều
lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự,
Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính...
Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan
việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức
quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định
thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2
bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở
nhiều mức độ).
Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ
1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu”
(“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở
lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng
cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu
lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi
thường gấp đôi trả dân”.
Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt
50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội
làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”. Để ngăn
chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101,
128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc
phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc
ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn
ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay.
Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm”
hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc
này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không
được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất
phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị
đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị
lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không
thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”
Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác,
việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã
tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức
nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa
khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi
tốt.
Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan
lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không
đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất
đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc;
không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi.
Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh
lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ
máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ
luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về
Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ
thể về vấn đề này.
Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội
liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan
lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ.
Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ
nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người
thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”.
Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm
tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật
lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi
dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội
nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng
hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi
thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng
thì tử hình.
Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi
tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ
chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực
lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm
lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị
chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm
xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ
Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp
hãi để sửa mình.
Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức
Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối.
Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và
bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ
dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ
làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”.
Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và
Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan
hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho
dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc
này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát
giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh
chém đầu.
Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của
nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình
bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở
thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người
để thị uy, đe nẹt.
Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều
triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt
khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không
được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận
hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi
thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm
vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét
xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị
oan uổng.
Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là
luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được
phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không
được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được
có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được
dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định.
Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các
việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình
đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí
bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê
nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh
sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi
trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày.
Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật
xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia
đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện
những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch
cán cân công lý.
Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện
những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn
giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu”
Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông
đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần.
Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã
dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc
Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm,
chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián
Nhà vua trước những việc làm chưa đúng.
Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan
luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước
muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc
chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra
trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan
trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân,
mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh
thanh” đối thế nhân”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét