Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN


     Hội nghị Trung ươpng 4 khóa XII đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái”.

     Xuất phát từ những lời dạy của Hồ Chí Minh và các giải pháp Trung ương nêu ra, xin nhấn mạnh, làm rõ mấy điểm như sau:

     Thứ nhất, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và XIII đều đề cập công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Vấn đề đặt ra là phải xem lại chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này đến đâu? Như thế nào? Cái gì làm tốt, cái gì chưa tốt, nguyên nhân, giải pháp? Phải chăng công tác giáo dục chính trị tư tưởng vẫn chưa thật sự thấm sâu vào tim, óc của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy đảng các cấp và cán bộ, đảng viên nhận thức và thực hiện nhiệm vụ này chưa thấu.

     Trong những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, có một điều rất quan trọng thể hiện tư cách của một Đảng chân chính cách mạng, xuyên suốt trong lãnh đạo của Đảng. Đó là “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(9).

     Nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu và xuyên suốt là phải xem xét lại việc giáo dục chính trị tư tưởng để có biện pháp ráo riết, triệt để khắc phục những gì làm chưa được, chưa tốt. Bởi vì, có được giáo dục chính trị tư tưởng một cách thật sự mà cụ thể là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên thì mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới chống được chủ nghĩa cá nhân, làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình.

     Không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên xem nhẹ, coi thường việc học tập chính trị tư tưởng. Họ không hiểu rằng nhận thức sai thì hành động sai; nhận thức lệch lạc, méo mó thì hành động lệch lạc, méo mó. Hiểu không thấu thì làm không đúng. Vấn đề là học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.

     Thứ hai, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu lại, nhấn mạnh việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận. Đây là nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng và rất cần thiết được Hồ Chí Minh bàn tới rất sớm, sâu sắc, toàn diện. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII đã đề cập. Muốn nhân dân, báo chí, công luận thực hiện được vai trò giám sát thì điều quan trọng nhất là xây đắp, vun bồi nền dân chủ. Phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân. Đây là cốt lõi của giải pháp hoàn thiện tính khoa học của bộ máy và cơ chế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lễ văn khai mạc Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng 05/09/1960. (Ảnh tư liệu)

     Dân giám sát là một điểm mới, điểm nhấn trong Đại hội XIII. Muốn thực hiện tốt điều này, không gì tốt hơn học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

     Trước hết, cán bộ, đảng viên phải hiểu thấu rằng “nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp cho các chú tiến bộ hơn… Công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”(10). Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, khuyến khích, tạo điều kiện cho quần chúng nói. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Điều quan trọng nhất là để cho dân nói. Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(11). Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát là tốt nhất, đó là kiểm soát từ dưới lên. Người viết: “Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất”(12).

     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh, phải có “cái lồng nhốt” quyền lực. “Cái lồng” đó là vai trò, trách nhiệm của các tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát, cấp ủy. Nhưng nhất định phải dựa vào “cái lồng nhân dân” với nội dung cốt tủy là dân chủ thật sự.

     Cơ chế, bộ máy, trong đó có khía cạnh tính nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật đảng. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì hàng đầu, xuyên suốt là giải thích, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục. Nhưng không phải là không xử phạt. Nếu không xử phạt thì mất hết kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Theo Hồ Chí Minh, “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(13).

     Thứ ba, ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên là hết sức quan trọng, vì “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Mặt khác, tính xấu của môt người thường, chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.

    Bộ máy, cơ chế dù hoàn thiện đến đâu mà con người hư hỏng thì sẽ phá tan bộ máy. Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Tư tưởng, đạo đức, phong cách, phương pháp của các đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp có ảnh hưởng, tác động rất lớn tới quần chúng nhân dân và xã hội. Công cuộc đổi mới thuận lợi hay khó khăn, thành công nhiều hay ít đều do cán bộ tốt hay kém.

     Hy vọng và tin tưởng rằng, nếu nhận thức và hành động đúng thì khía cạnh nhỏ sẽ đem lại kết quả lớn trong việc quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng./.


CẦN NHẬN THỨC NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁCH MẠNG DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ NHỮNG TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG

 

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII.


     Trong mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ tư thường diễn ra vào quý IV năm đầu của nhiệm kỳ. Hội nghị Trung ương lần thứ tư các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng đều có nội dung bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm tới sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIII là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết hội nghị Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong 35 năm đổi mới, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XI và XII.

     Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII nêu rõ thành tựu của cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là “từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, và nhờ thế đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta -Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

     Đồng thời, Nghị quyết cũng vạch ra những tiêu cực, hư hỏng của cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong đó, nhấn mạnh nhất là sự “phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng”.

     Trung ương nhấn mạnh nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, “bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân”. Vì vậy, Trung ương nhấn mạnh phải “kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân trong toàn Đảng”.

     Nhân đây, cần nói thêm, nhấn mạnh mấy điểm về chủ nghĩa cá nhân.

     Chủ nghĩa cá nhân là quan điểm của người chỉ chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, đặt quyền lợi của cá nhân mình lên trên quyền lợi của toàn thể và của xã hội. Khác với cá nhân chủ nghĩa là nói đến hành vi cụ thể chỉ nghĩ đến quyền lợi của riêng mình, không nghĩ đến quyền lợi của người khác hay của tập thể, nói chủ nghĩa cá nhân là nói đến quan điểm, tức là cách xem xét và giải quyết vấn đề quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung theo lập trường, quan điểm và tư tưởng nào? Trung ương nói tới chủ nghĩa cá nhân là nói tới cái nguồn, cái gốc có tính chất bao trùm, xuyên suốt, cao hơn, rộng hơn, sâu hơn cá nhân chủ nghĩa, “cha đẻ” của mọi thứ xấu xa, tội lỗi, trong đó, có cá nhân chủ nghĩa. Vì vậy, muốn đẩy lùi các tiêu cực, suy thoái, tha hóa của cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì phải tiêu diệt, quét sạch, nhổ tận gốc là chủ nghĩa cá nhân.

     Đánh giá tư tưởng và ý thức của đảng viên là thông qua cách xem xét, bàn bạc và hành động của đảng viên đối với các vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, tổ chức, đường lối cách mạng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Xem thái độ và lập trường của mọi người đối với những vấn đề căn bản của cuộc đấu tranh chính trị, xem cách bàn bạc hành động, xem kế hoạch, phương châm của họ đối với những vấn đề ấy, thì ta biết rõ họ đại biểu cho tư tưởng, quan điểm, mong muốn, và lợi ích của giai cấp nào”(1).

     Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể. Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa tập thể là luôn luôn xuất phát từ lợi ích cách mạng để phục vụ cho lợi ích cách mạng. Ý thức và tư tưởng của giai cấp vô sản biểu hiện cụ thể, rõ ràng trong lập trường và thái độ, đường lối và phương châm trong hoạt động và đấu tranh chính trị phục vụ cho lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Người nhận thức rõ và đề cao chủ nghĩa tập thể là người có đảng tính. Tức là bất kỳ bao giờ, ở đâu, bất kỳ việc gì dù lớn hay bé đều phải tính đến lợi ích chung của cách mạng. Tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tập thể là chỉ có sự nghiệp của Đảng và dân tộc, lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, việc của cá nhân và lợi ích cá nhân để lại sau. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác”(2).

     Cách đặt vấn đề của chủ nghĩa cá nhân là xuất phát từ cá nhân để phục vụ cho cá nhân. Do đó, cách giải quyết của người mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thậm chí chỉ dính vào chủ nghĩa cá nhân là khi thấy lợi ích cá nhân và lợi ích của Đảng, của cách mạng, Tổ quốc, nhân dân có mâu thuẫn, thì họ không sẵn sàng, không kiên quyết đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên hết, lên trước hết. Thậm chí họ làm ngược lại, đặt lợi ích cá nhân ra trước lợi ích của Đảng; lợi ích của nhân dân phục tùng lợi ích cá nhân; lợi ích toàn thể phục tùng lợi ích nhóm. “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”(3).

     Vấn đề chủ nghĩa cá nhân đã được Hồ Chí Minh đề cập từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ ra “trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm”(4). Chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cho ta nhận thức chủ nghĩa cá nhân là bệnh gốc, bệnh mẹ; là vi trùng rất độc; chống chủ nghĩa cá nhân phải đi liền với thực hành chí công vô tư, nêu cao chủ nghĩa tập thể.

     Trong di sản của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó. “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân(5). Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.

     Cần phải hiểu thấu, nói đến chủ nghĩa cá nhân là nói đến tư tưởng tiểu tư sản ở trong mỗi người. Nó chờ dịp thất bại hoặc thắng lợi là ngóc đầu dậy. Nhưng thể hiện từng nơi, từng lúc, từng trình độ, cương vị công tác khác nhau.

     Nghị quyết Trung ương chỉ ra đối với cán bộ, đảng viên, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, hám quyền lực, tham nhũng, tiêu cực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thể lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

     Phải nhận thức đúng đắn rằng “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(6). Bởi vì, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu”(7). Vấn đề là ở chỗ “lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”(8).


Cảnh giác trước âm mưu “Diễn biến hòa bình" giữa đại dịch

Hiện nay vị thế của dân tộc Việt Nam ngày càng được khẳng định, những thành quả to lớn của kinh tế xã hội mà chúng ta đạt được càng khiến các thế lực thù địch tức tối.

Không thể triệt tiêu chủ nghĩa cộng sản bằng vũ lực, vì vậy mà việc chống phá cách mạng Việt Nam được chúng chuyển sang đấu tranh bất bạo động với nhiều thủ đoạn ngày càng thâm độc, nó không nằm ngoài âm mưu “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch thực hiện từ trước đến nay, đó là đẩy mạnh phá hoại từ bên trong, tạo chia rẽ nội bộ, đặc biệt là phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng và khi có thời cơ chúng sẽ kích động người dân để tiến hành biểu tình, bạo loạn gây bất ổn chính trị, tạo những cuộc cách mạng đường phố hay còn gọi là cách mạng màu để lật đổ chính quyền. Đại dịch Covid-19 hoành hành ở Việt Nam trong thời gian qua như là một trong những điều kiện để các thế lực thù địch nhen nhóm mưu đồ đen tối, nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

Đại dịch bùng phát từ tháng 4 đến nay đã gây ra nhiều tổn thất về người, tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế đất nước, ổn định an sinh xã hội cho người dân. Đảng, Chính phủ đã huy động mọi nguồn lực, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc của các tầng lớp nhân dân, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm cao nhất để đẩy lùi dịch bệnh. Những nỗ lực đó đã mang lại những thành quả hết sức rõ rệt khi những ngày gần đây số người nhiễm, tử vong đều giảm, số người khỏi bệnh tăng mạnh từng ngày; nhiều địa phương từng là tâm dịch đang dần trở lại trạng thái bình thường mới. Thành quả đó là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhìn lại mấy tháng qua, khi đất nước tranh thủ từng giờ để khống chế dịch bệnh, bảo vệ tính mạng của Nhân dân thì trên không gian mạng những thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị có tư tưởng cực đoan hay một số tổ chức truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam luôn dõi theo từng diễn biến dịch bệnh ở nước ta, với những luận điệu mang tính kích động, hướng lái dư luận về các quyết sách của Đảng, chính phủ trong phòng chống Covid-19 xuất hiện dày đặc trên diễn đàn của VOA, RFI, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo, Tiếng Dân TV… hay của một số đối tượng phản động lưu vong như Nguyễn Văn Đài, Trường Quốc Huy, Thanh Hieu Bui… với hàng loạt chỉ trích cho rằng chính sách chống dịch của Đảng ta là sai lầm, Đảng bỏ mặc người dân trong dịch bệnh, người dân phải gánh chịu do cách chống dịch của Đảng, rồi đến ngăn cản, chặn đường sống của dân khi họ về quê. Để minh họa cho những luận điệu xuyên tạc này là những thông tin, hình ảnh được cắt ghép với mục đích dựng lên một bức tranh về một Việt Nam bất lực, bế tắc trong kiểm soát dịch bệnh. Covid-19 bùng phát tại Việt Nam như một miếng mồi để chúng thêm nếm gia vị phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình” mà chúng đã và đang thực hiện. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ và thay đổi thể chế chính trị của đất nước hiện nay bằng cách gây mâu thuẫn, chia rẽ từ bên trong. Bên cạnh đó chúng luôn tìm cách móc nối với số cán bộ, đảng viên dễ lung lay tư tưởng, đặc biệt là số cơ hội chính trị lôi kéo những người này vào hoạt động chống phá Đảng, kích động, gây chia rẽ, bè phái trong nội bộ, tạo dựng ngọn cờ và lực lượng đối lập.

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, hàng loạt cuộc cách mạng sắc màu, cách mạng đường phố nổ ra ở các nước Bắc Âu, Trung Đông và Bắc Phi khiến những quốc gia này rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng. Đây là những minh chứng điển hình cho thấy chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch mà nếu như không cảnh giác, ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Với những gì các thế lực thù địch đang xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt trên không gian mạng hiện nay thì đại dịch Covid-19 ở nước ta rất có thể trở thành con bài để chúng lợi dụng kích động thành những cuộc tụ tập, gây rối, chống phá chính quyền nếu như chúng ta không có biện pháp phòng vệ. Chúng tìm mọi cách để thêu dệt, tạo ra những hình ảnh bi đát của đất nước trong dịch bệnh; từ quỹ vắc xin chúng quy kết tham nhũng là bản chất của chế độ cộng sản; việc điều động, thay đổi lãnh đạo chống dịch suy diễn thành vấn đề đấu đá nội bộ… Bên cạnh đó là thổi phồng những hạn chế trong công tác phòng chống dịch như thiếu sót trong việc hỗ trợ người dân bảo đảm an sinh trong thời gian giãn cách xã hội; lợi dụng chính sách tiêm vắc xin để chuộc lợi của một số cán bộ với mục đích là tạo ra mâu thuẫn và khoét sâu mâu thuẫn xã hội đó. Với sự hỗ trợ của công nghệ, việc chia sẽ những thông tin xuyên tạc giữa các nhóm đối tượng này đang trở nên dễ dàng. Cùng với đó là việc giảm sút niềm tin của một số người trong xã hội khiến chúng càng dễ lợi dụng. Nó như những loại virut đang rình rập tấn công vào “cơ thể” xã hội hiện tại mà muốn đánh bại thì “cơ thể” xã hội phải thực sự khỏe mạnh. Chính vì vậy phòng ngừa là yếu tố cực kỳ quan trọng để giữ vững ổn định xã hội, bảo vệ chế độ và đưa đất nươc phát triển.

Không có loại kháng sinh nào hữu hiệu bằng tự đề kháng cho cơ thể, bằng cách ngăn ngừa dịch bệnh từ xa, giải quyết tốt những hạn chế, xử lý nghiêm các cá nhân, cán bộ biến chất, suy thoái là hết sức quan trọng vào lúc này. Dịch bệnh ở nước ta đang được kiểm soát nhanh chống, điều đó khiến niềm tin của Nhân dân vào đường lối chống dịch của Đảng, chính phủ ngày càng to lớn. Và khi Nhân dân có niềm tin thì không dễ bị lôi kéo, mắc mưu vào mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. 

Tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin, một âm mưu thâm độc và phi lý

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái cũng là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì thế trong điều kiện tình hình phức tạp hiện nay, thì cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp, không chỉ đơn thuần về mặt nhận thức, mà còn mang tính chính trị sâu sắc.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng ta xác định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và, một trong năm bài học mà Đại hội XII Đảng ta xác định là: "trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".

Đảng ta đã sớm xác định và chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh này, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thống nhất về tư tưởng và hành động, tiếp tục bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cảnh giác với âm mưu phá hoại của kẻ thù, gần đây nhất ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Bên cạnh việc kiên định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta cần tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau. Phải tiến hành đấu tranh chống các quan điểm sai trái ở từng cơ quan, từng ngành, coi đó là phương pháp tự bảo vệ mình, qua đó hình thành một mặt trận chung của nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Các cơ quan thông tấn, báo chí cần tìm ra những hình thức tuyên truyền cho phù hợp, sát với từng đối tượng cụ thể, tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng như mạng lưới báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, internet...

Gần đây trên các trang mạng xã hội, với chiêu trò “góp ý” cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một số phần tử chống phá và những kẻ cơ hội núp bóng “góp ý” đã cho rằng: ở Việt Nam chỉ cần nói tư  tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta cần chỉ ra những sai trái, mơ hồ và phi lý của luận điểm này. Trước hết, phải khẳng định lại quan điểm của Đảng ta rằng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống tư tưởng toàn diện về cách mạng Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay bản thân Hồ Chí Minh luôn nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, chính xác khi đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh...Đảng có vững cách mệnh mới thành công... Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”

Tháng 7-1969 trong bài trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... chúng tôi giành được thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm được con đường để cứu nước giải phóng dân tộc đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Người nói: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

Nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, có thể nói, về bản chất khoa học và cách mạng thì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, cho nên ở Việt Nam không thể tách rời mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể và không được lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.

Mưu toan của quan điểm trên muốn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là muốn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, và như vậy trước mắt “cái gốc” của tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị phủ nhận, thì tương lai họ sẽ tiến đến tìm cách phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh, sâu xa hơn là phủ nhận nền tảng tư tưởng và phương pháp luận của Đảng.

Do vậy, phải luôn luôn quán triệt bài học kinh nghiệm mà Đảng ta nêu ra tại Đại hội XI rằng: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Tóm lại, bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin đã chứng minh trong thực tiễn là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học của những quy luật khách quan về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, cẩm nang về cách mạng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, chính bản thân Hồ Chí Minh đã nói lên nguyên nhân thắng lợi của cách mạng nước ta là nhờ nguồn gốc tư tưởng lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, thứ ba, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là sự cụ thể chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta.

Chính sự chính xác về khoa học, toàn diện và hệ thống, tính biện chứng nhằm mục đích giải phóng nhân loại cần lao, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng mọi sự tha hoá, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh thực sự  mà chủ nghĩa Mác - Lênin và ở Việt Nam có thêm tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, do vậy ở nước ta không được mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nên, việc lên án, chỉ ra "chiêu trò" thâm độc này, đề cao cảnh giác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam là việc làm khẩn thiết.

Một số giải pháp giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình hiện nay

       Trong tình hình phức tạp hiện nay các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang ra sức chống phá thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta, bôi nhọ, xuyên tạc nhằm hạ thấp vai trò uy tín của Đảng; đòi hỏi hơn bao giờ hết phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, để Đảng thực sự ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong tình hình hiện nay, cần thực hiện:

      Một là, đảm bảo thực hiện nghiêm nguyên lý về Đảng kiểu mới của học thuyết Mác - Lênin, đặc biệt là cần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm "kim chỉ nam" cho mọi hoạt động để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

      Hai là, xây dựng giai cấp công nhân thực sự lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là nâng cao ý thức giác ngộ giai cấp cho đảng viên và toàn thể giai cấp công nhân. Phải quán triệt, tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đảng viên; đồng thời đưa ra biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo, vị trí và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cho cán bộ đảng viên và giai cấp công nhân. Đây là vấn đề vô cùng quan trọng để tập hợp lực lượng và tổng hợp sức mạnh của giai cấp và nhân dân trong quá trình thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng.

      Đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân, trong doanh nghiệp, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xuất thân từ công nhân lao động; vận dụng đúng đắn quan điểm giai cấp công nhân của Đảng trong công tác cán bộ thời kỳ đổi mới, phải phù hợp với lập trường và lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc.

      Ba là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trong tổ chức, hoạt động, sinh hoạt của Đảng. Đây là phương thức để đảm bảo thống nhất thực hiện nghiêm túc Điều lệ Đảng, cũng là yêu cầu tất yếu để đảm bảo bản chất giai cấp công nhân trong Đảng.

      Bốn là, thực hiện mục tiêu và yêu cầu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức để giữ vững uy tín, vai trò của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Việc xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh đã được Đảng ta khẳng định có vai trò "then chốt" trong các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Đây là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Đảng trong giai đoạn hiện nay để có thể giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta xác định: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, sức chiến đấu, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giám sát và công tác dân vận của Đảng, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”[5].

      Năm là, kết hợp xây dựng Đảng với xây dựng Công đoàn vững mạnh. Đảm bảo Đảng lãnh đạo xây dựng Công đoàn lớn mạnh, đặc biệt là cần nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn. Tăng cường và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Công đoàn Việt Nam để thu hút, tập hợp công nhân lao động vào tổ chức công đoàn; công đoàn phải là người đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, công nhân lao động. Chú trọng công tác phát triển đoàn viên và xây dựng, củng cố tổ chức công đoàn cơ sở trong các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất hoạt động có chất lượng, có hiệu quả thiết thực, thực sự là tổ chức của công nhân lao động. Quan tâm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, nhất là cán bộ công đoàn cơ sở chuyên trách.

      Sáu là, tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Trong đó cần quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng giai cấp công nhân lao động và xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam vững mạnh. Không ngừng phát huy dân chủ trong Đảng đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

      Trong suốt chiều dài hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt mục tiêu giải phóng và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích cho nhân dân lao động và mục tiêu cao cả nhất đó là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo giai cấp công nhân cùng cả dân tộc vượt qua bao chặng đường gian nan, khốc liệt: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa đất nước phát triển và từng bước khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế. Những kết quả trong chặng đường đã qua đã khẳng định sự đúng đắn, phù hợp và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam với đất nước để được nhân dân gọi là "Đảng ta". Làm được điều đó một phần chính là bởi Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân trong Đảng.

Bản chất giai cấp công nhân của Đảng

 

     Trong học thuyết Mác - Lênin đã khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và cũng khẳng định bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản là tất yếu và là yếu tố mang tính quy luật. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định đảng cộng sản là đội tiên phong, là lãnh tụ chính trị, là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, là tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ rõ: đảng cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân, đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân; lấy hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng, vũ khí lý luận, giải quyết mọi vấn đề đều đứng trên lập trường, lợi ích của giai cấp công nhân. Sự ra đời của đảng cộng sản là sự kiện vĩ đại của phong trào công nhân, đó là thời điểm đánh dấu sự hiện diện của giai cấp công nhân thế giới bước lên vũ đài chính trị trong công cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng một xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đảng cộng sản là đảng của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân nhưng đảng không phải là một đảng biệt lập, đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và cả nhân dân lao động và giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, thâm nhập vào phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân để lãnh đạo phong trào, kết nạp vào đội ngũ của mình những thành phần ưu tú nhất để tổng hợp được sức mạnh to lớn ưu việt nhằm thực hiện thành công cách mạng xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.

     Tuy nhiên, các nhà lý luận tư sản, các khuynh hướng cải lương, cơ hội, xét lại luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận bản chất của giai cấp công nhân của đảng cộng sản nhằm tác động đến nhân dân sự hoài nghi, không tin tưởng về bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản, về mục tiêu, lý tưởng của đảng, cô lập đảng với quần chúng nhân dân.

     Chính vì lẽ đó các đảng cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng vẫn luôn khẳng định rõ bản chất giai cấp công nhân của mình và kiên định giữ vững, củng cố và phát triển bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong suốt quá trình cách mạng từ khi ra đời cho đến nay. Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định rõ bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "1. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận của giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. 2. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo"[1]; "Đảng Lao động Việt Nam là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam, để đoàn kết và lãnh đạo dân tộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, để thực hiện dân chủ mới"[2] (tháng 2 năm 1951); "Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị"[3].

      Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, bởi vì lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Điều này đã được chứng minh trong suốt chiều dài lịch sử hơn 90 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng hành với dân tộc ta. Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam không những không phủ nhận, không xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng, không rơi vào quan điểm "Đảng toàn dân" mà còn khẳng định đúng bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền. Đây là vấn đề có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng ở nước ta hiện nay, giúp cho chúng ta tránh được cả khuynh hướng xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

      Hiến pháp năm 2013 đã ghi: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"[4]. Điều này vừa khẳng định tính phổ biến và tính đặc thù trong bản chất của Đảng ta: Là Đảng Cộng sản nên Đảng ta mang bản chất giai cấp công nhân (đây là tính phổ biến); theo sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời là của nhân dân lao động, của dân tộc, phù hợp với thực tế Việt Nam và đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. Như vậy có thể thấy rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bản chất của Đảng rất biện chứng, khoa học, phù hợp với dân tộc, khắc phục được hai khuynh hướng cực đoan: một là phủ nhận, xóa nhòa bản chất giai cấp công nhân của Đảng, hai là hiểu bản chất gia cấp công nhân của Đảng theo nghĩa hẹp hòi, tách rời giai cấp công nhân khỏi nhân dân lao động và dân tộc.

      

Nhận diện thêm về “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc hiện nay

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước XHCNtừ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Như vậy, “Diễn biến hòa bình” chỉ là sự thay hình, đổi dạng để che đậy bản chất của chủ nghĩa đế quốc, gây mơ hồ ảo tưởng, dao động về mục tiêu lý tưởng đối với cán bộ đảng viên và nhân dân lao động để tiến công chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu chiến lược của “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là làm cho các nước XHCN thực hiện đa nguyên chính trị, kinh tế tư nhân hóa; xã hội phương tây hóa; cuối cùng làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa chuyển hóa thành chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương thức tiến hành, thực hiện sự thẩm thấu hòa bình, làm cho chủ nghĩa xã hội mục rỗng từ bên trong, tự sụp đổ theo kiểu chiến thắng không cần chiến tranh. Chúng thực hiện bằng sự tiến công xâm nhập vào trong lòng các nước XHCN, nhấn mạnh các thủ đoạn phi quân sự như: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, lối sống... làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trong lòng nhà nước XHCN. Các thế lực thù địch kết hợp chặt chẽ giữa “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự.

Tính chất của “Diễn biến hòa bình” rất độc ác, nham hiểm, tinh vi và phức tạp. Chúng đánh thẳng vào trong lòng chủ nghĩa xã hội, thực hiện âm mưu “tự diễn biến” hòng tạo ra sự mất ổn định từ bên trong, trước hết về chính trị ngay từ nội bộ Đảng cộng sản. Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go và phức tạp giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, là cuộc đấu tranh không phân tuyến, kẻ thù vừa trực diện vừa giấu mặt, vừa công khai vừa bí mật, nó len lỏi vào mọi lực lượng, mọi lĩnh vực, ở mọi lúc mọi nơi đối với cả con người và tổ chức, kết hợp cả lực lượng bên trong và lực lượng bên ngoài.

Chính kẻ thù chỉ ra rằng: “Diễn biến hòa bình” có ưu điểm hơn hẳn thủ đoạn và phương thức tiến hành chiến tranh ở chỗ nó không khêu gợi tinh thần cảnh giác của đối phương mà nhiều khi còn ru ngủ tinh thần đấu tranh của đối phương. Theo họ, điều kiện cần thiết để thực hiện “Diễn biến hòa bình” là mở rộng tiếp xúc, giao lưu giữa hai hệ thống XHCN và tư bản chủ nghĩa.

Những cơ sở thúc đẩy chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xuyên suốt, nhất quán của chủ nghĩa đế quốc là tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, bắt các nướcXHCN phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa của chủ nghĩa đế quốc. Khôi phục một thế giới thống nhất tư bản chủ nghĩa theo một trật tự của chủ nghĩa tư bản. Đó là bản chất không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc. Kể từ khi nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1917 và hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay, từng giây từng phút chủ nghĩa đế quốc chưa bao giờ lơi lỏng mục tiêu đó. “Diễn biến hòa bình” lúc đầu chỉ đóng vai trò thủ đoạn để hỗ trợ các chiến lược quân sự, đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX đã trở thành một chiến lược quân sự và đến giữa thập kỷ 80, do tình hình thế giới có những biến động phức tạp, có lợi cho chủ nghĩa đế quốc, chúng đã đẩy mạnh và thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình” chống phá chủ nghĩa xã hội.

Trong một thời gian dài, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành nhiều chiến lược quân sự gây chiến tranh chống phá chủ nghĩa xã hội, nhưng đều thất bại. Việc chủ nghĩa đế quốc thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình” chính là nhằm khắc phục sự hạn chế của các thủ đoạn quân sự, che đậy bản chất xâm lược của chúng. Họ hy vọng rằng đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” làm “ruỗng nát” chủ nghĩa xã hội từ bên trong mà đòn tác động tư tưởng tâm lý tạo nên sự chuyển hóa về lập trường chính trị là đòn trọng yếu nguy hiểm nhất tạo nên sức “hủy diệt” từ bên trong, đẩy đối phương đến suy yếu toàn diện, rối loạn nội bộ và sụp đổ nhanh hơn.

Mặt khác trong vài thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã ứng dụng thành công nhiều thành tựu khoa học và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn. Trong khi đó các nước XHCN có những khó khăn nhất định. Đây là cơ hội để chúng sử dụng đòn kinh tế tiến công chủ nghĩa xã hội: Viện trợ kinh tế kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản nhằm làm vật mồi chài để xâm nhập, khống chế, nhượng bộ về chính trị, tiến tới can thiệp vào công việc nội bộ và lôi kéo các nước XHCN vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Họ xác định những khó khăn về kinh tế - xã hội của các nước XHCN là thời cơ có lợi để sử dụng đòn kinh tế trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Lợi dụng xu thế hòa dịu trên thế giới và những sai lầm khuyết điểm trong cải cách, cải tổ của các nướcXHCN để thực hiện ráo riết hơn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống chủ nghĩa xã hội. Cuối 1987 thế giới xuất hiện xu thế hòa hoãn, hòa dịu và đối thoại, đây là cơ hội cho sự xâm nhập của phương Tây vào các nước xã hội chủ nghĩa bằng các thủ đoạn phi quân sự. Mặt khác, bước vào những năm 1980, các nước XHCN đều thực hiện cải cách, cải tổ nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra cho phù hợp với quy luật khách quan. Cải cách, cải tổ là công việc đầy khó khăn phức tạp trên các bình diện xã hội, do đó không tránh khỏi những sai lầm vấp váp. Đây chính là cơ hội ngàn vàng cho chủ nghĩa đế quốc luồn lách, chui sâu, leo cao thực thi toàn diện “Diễn biến hòa bình”, kết hợp nội công, ngoại kích để triệt phá chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới, trong đó Việt Nam là trọng điểm, trước hết chúng ra sức phá hoại về mặt chính trị tư tưởng. Mục tiêu “Diễn biến hòa bình”của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, chúng phá hoại làm cho Đảng cộng sản suy yếu mọi mặt, chia rẽ nội bộ Đảng, làm cho quần chúng xa rời Đảng, mất phương hướng, rời xa chủ nghĩa xã hội, theo con đường chủ nghĩa tư bản. Đồng thời các thế lực thù địch tìm mọi cách vô hiệu hoá lực lượng vũ trang, tách sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Quân đội.

Bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội

           Bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội, thực chất là làm cho các đặc trưng của quân đội cách mạng, các mối quan hệ của Quân đội ta càng thêm sâu sắc và lan tỏa trong điều kiện mới. Đó là quá trình tiếp tục quán triệt nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, truyền thống cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phù hợp với đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo đảm cho Quân đội ta luôn luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

          Trước hếtnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ Đội Cụ Hồ” luôn thấm sâu vào cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nên qua các giai đoạn cách mạng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn giữ vững phẩm chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân. Trong thời kỳ mới của đất nước, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần tăng cường hơn nữa, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tiếp tục kiên định mục tiêu, lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; nhận thức đúng đắn hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về đối tượng, đối tác, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế mà Đảng đã đề ra. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mang trong mình phẩm chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không quản ngại gian khổ, hy sinh, luôn thực hiện tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, diễn tập, xây dựng khu vực phòng thủ, v.v. Khi Đảng, Nhà nước và nhân dân yêu cầu, Quân đội sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ với ý chí quyết tâm cao và tinh thần quả cảm. Trên cơ sở nhận thức đúng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội xác định rõ trách nhiệm chính trị của mình, không ngừng trau dồi bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực rèn luyện, phấn đấu, học tập, công tác, lao động, sản xuất, xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Thứ haitiếp tục phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự bền vững được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. Nhờ phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội ta đã vượt qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược; trở thành biểu tượng cao đẹp và có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với nhân dân và thanh niên Việt Nam, nhất là chiến sĩ trẻ. Việc tiếp tục phát huy phẩm chất cao quý đó trong tình hình hiện nay, sẽ tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội và trong Quân đội, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, tăng cường bản chất cách mạng, xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trước hết là xây dựng vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, các cấp ủy đảng trong Quân đội cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn làm tốt công tác giáo dục, quán triệt, rèn luyện, trau dồi cho cán bộ, chiến sĩ những phẩm chất tốt đẹp, giá trị nhân văn của “Bộ đội Cụ Hồ” đã được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với phong trào Thi đua Quyết thắng và các cuộc vận động, các phong trào khác, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ được thử thách, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, thông qua nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, giúp dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình thực hiện, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì, với tinh thần: cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn phát huy và tỏa sáng.

          Thứ batăng cường đoàn kết, gắn bó giữa Quân đội với nhân dân, lấy phụng sự nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, Quân đội ta không có mục tiêu chiến đấu nào khác ngoài mục tiêu bảo vệ quyền lợi của dân tộc và của nhân dân. Nhờ gắn bó máu thịt với nhân dân, Quân đội không ngừng lớn mạnh, cả về con người và vũ khí, trang bị, đủ sức chiến thắng mọi kẻ thù, cho dù chúng có sức mạnh quân sự và hung bạo đến mấy. Trong chiến đấu cũng như trong xây dựng, khi làm nhiệm vụ trong nước cũng như làm nghĩa vụ quốc tế, Quân đội ta luôn luôn đoàn kết, tôn trọng, đồng cam cộng khổ, vượt qua khó khăn, nguy hiểm, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân và thắng lợi  của cách mạng. Trước yêu cầu của tình hình mới, Đảng, Nhà nước tiếp tục giao cho Quân đội tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo, với phương thức chủ yếu là xây dựng các khu kinh tế mới, khu kinh tế - quốc phòng, phát triển những điểm dân cư xã hội dọc biên giới, vùng sâu, vùng xa; làm nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ biên giới và khẳng định chủ quyền của Tổ quốc. Quân đội tiếp tục làm tốt công tác dân vận, thông qua nhiều hình thức, mô hình mới, phong phú, sáng tạo, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở những địa bàn trọng yếu vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương có yêu cầu thì Quân đội sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. Các cơ quan quân sự tỉnh, huyện chủ động phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương; tham gia giải quyết tốt các vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp ở cơ sở theo chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng cơ sở chính trị, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Thông qua hoạt động thực tiễn và tiến hành công tác dân vận mà bồi dưỡng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, tác phong công tác; giữ nghiêm kỷ luật đoàn kết quân dân, làm cho hình ảnh người quân nhân cách mạng luôn tỏa sáng trong lòng nhân dân. Cùng với đó, cần tăng cường đấu tranh với những biểu hiện sai trái, thù địch, xuyên tạc bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ’, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

         Thứ tưthực hiện tốt đoàn kết nội bộ, xây dựng các tổ chức trong Quân đội vững mạnh, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, chiến sĩ phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành. Các cơ quan, đơn vị cần thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở; mọi người đều bình đẳng về chính trị, có môi trường phấn đấu, rèn luyện tốt, thương yêu nhau như ruột thịt; phát huy dân chủ về chính trị, quân sự, kinh tế, đi đôi với giữ vững và tăng cường kỷ luật tự giác, nghiêm minh; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, quân phiệt, vi phạm nhân cách quân nhân. Đồng thời, phát huy vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực của người chỉ huy, vai trò của các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân. Các tổ chức đảng luôn giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, đi đôi với cá nhân phụ trách, thường xuyên đề cao tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong tổ chức đảng và các cơ quan, đơn vị. Để làm được điều đó, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần tập trung xây dựng đội ngũ cấp ủy và cán bộ chủ trì thực sự tiền phong, gương mẫu, có tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, ý thức trách nhiệm cao, năng lực hành động giỏi, đạo đức, lối sống trong sáng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ, phẩm chất tốt; chấp hành nghiêm kỷ luật, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ, trách nhiệm, yên tâm gắn bó xây dựng đơn vị. Các tổ chức đảng thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên trong quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết, chấp hành nguyên tắc, chế độ... tạo sự chuyển biến vững chắc cả về lập trường, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, chăm lo xây dựng đội ngũ chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cán bộ các cấp vững mạnh; phát huy hiệu lực của người chỉ huy; giải quyết hài hòa các mối quan hệ; tăng cường hiệu lực chế độ công tác đảng, công tác chính trị và các chế độ công tác khác theo quy định. Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, phải chú ý chất lượng toàn diện; trong đó, cần quán triệt sâu sắc quan điểm, phương hướng giai cấp của Đảng trong lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt cán bộ.

77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành là 77 năm Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thì phẩm chất đó càng được nâng cao và khẳng định trong thực tiễn, xứng đáng với tên gọi trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân.

Bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

     Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Bởi vậy, Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn bó mật thiết với nhân dân; coi đó là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, quy định tính chất các mối quan hệ cơ bản của Quân đội; đồng thời, là nguồn gốc mọi thắng lợi của Quân đội trong các giai đoạn cách mạng trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

     Bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta được thể hiện tập trung trong lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta tròn 20 tuổi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả”.Từ lời khen của Bác thể hiện rõ mục tiêu chiến đấu của Quân đội là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cán bộ, chiến sĩ giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì hạnh phúc của nhân dân. Đối với Đảng và Nhà nước, Quân đội tuyệt đối trung thành, phục tùng và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ và các chế độ quy định của Quân đội, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Với nhân dân: Quân đội ta luôn thể hiện sự đoàn kết, gắn bó keo sơn, “như cá với nước”, chia ngọt sẻ bùi, sẵn sàng giúp dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dựa vào dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Với dân tộc, Quân đội tiếp thu và phát huy truyền thống, tinh hoa văn hóa của dân tộc, tinh thần yêu nước, lòng bao dung, ý chí quật cường, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc; ngoài mục đích chiến đấu vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, Quân đội ta không còn mục đích nào khác. Trong quan hệ nội bộ, trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc của Đảng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội, cán bộ, chiến sĩ luôn có tình thương yêu, gắn bó keo sơn, tình đồng chí, đồng đội, đoàn kết, thống nhất, đồng tâm hiệp lực, trên dưới một lòng; phát huy dân chủ, đi đôi với giữ vững kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Trong quan hệ quốc tế, Quân đội ta luôn quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng, có tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nâng cao vị thế của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế.

     Gần 77 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, cùng toàn dân chiến đấu, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và ngày nay đang tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Mặc dù có nhiều khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, nhưng Quân đội ta luôn một lòng sắt son với Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân; không ngừng nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. Cùng với đó, Quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, tích cực tham gia giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nông thôn mới; luôn đi đầu trong giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; càng trong khó khăn, ác liệt, tình quân dân càng thêm gắn bó, thân thiết.

      Tuy nhiên, việc giữ vững bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta trong tình hình hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức mới. Sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội càng điên cuồng chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận bản chất cách mạng, mưu toan “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phân rã về tư tưởng, tổ chức, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hạ thấp vai trò của Quân đội trong đời sống xã hội, v.v. Thêm vào đó là mặt trái kinh tế thị trường, những tệ nạn, tiêu cực trong đời sống xã hội đang từng ngày, từng giờ tác động, chi phối đến việc phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ. Để khắc phục điều đó, vấn đề đầu tiên là phải hết sức chăm lo bồi dưỡng, tăng cường bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta.


Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

Cuối năm 1991, chủ nghĩa đế quốc đã công khai cho rằng: chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã bị tiêu diệt, chỉ còn ở Đông Nam Á, Việt Nam là chủ yếu, Trung Quốc là quan trọng. Như vậy, Việt Nam là một trọng điểm trong “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Lập trường của họ là dứt khoát, ý thức của họ đã rõ ràng, hành động của họ là kiên quyết.

Điểm phát triển mới trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề cập: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Vì vậy, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu và phải được kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khác. Mục tiêu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là xóa bỏ xã hội chủ nghĩa, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước mắt tập trung vào thúc đẩy tự do hóa chính trị, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dân chủ không giới hạn; thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế thị trường theo hướng tư bản chủ nghĩa, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang. Tư tưởng chỉ đạo, chủ động tiếp cận, chọn lọc và hành động, chú trọng kết hợp “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Hiện nay có sự phát triển mới là đánh mềm, đánh ngầm, đánh sâu, đánh hiểm.

Về chính trị, tư tưởng: nhằm làm suy yếu Đảng, chia rẽ Đảng, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho quần chúng xa Đảng, mất phương hướng, xa rời chủ nghĩa xã hội, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đánh vào lòng tin, ý chí, làm chuyển đổi nhận thức tư tưởng của cán bộ đảng viên, nhân dân, Quân đội. Chia rẽ nội bộ Đảng, nhân dân, Quân đội, phá hoại truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Nội dung tập trung xuyên tạc, chống phá, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi dụng và kích động vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để chống chủ nghĩa xã hội. Vu cáo ta vi phạm nhân quyền, tự do dân chủ, trấn áp những người không cùng tư tưởng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Thủ đoạn của chúng rất xảo quyệt, tìm cách kích động vào tâm lý tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta để tạo nên tâm lý mơ hồ, hoài nghi, thiếu niềm tin, lôi kéo những người bất mãn, cơ hội, tạo ra những phần tử, những lực lượng đối lập bên trong, lợi dụng thông tin công khai về chống tham nhũng, buôn lậu, các tệ nạn xã hội, lợi dụng những khuyết điểm của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý để kích động tâm lý bực dọc chống đối, các thế lực thù địch chỉ ra rằng: tiền, quyền, chức và mơ hồ ảo tưởng là hai chất độc nguy hiểm nhất.

Về kinh tế, khoa học - kỹ thuật: nhằm làm cho kinh tế xã hội nước ta ngày càng khó khăn khủng hoảng. Hướng kinh tế nước ta phụ thuộc vào bên ngoài, kinh tế quốc doanh suy yếu, kinh tế tư nhân phát triển không theo định hướng XHCN.

Các thủ đoạn chủ yếu là dùng thủ đoạn kinh tế khuyến khích đổi mới đi theo hướng kinh tế thị trường tự do, thúc đẩy quá trình tư nhân hóa, cấm vận các kỹ thuật cao. Lợi dụng những thiếu sót, sơ hở của ta trong quản lý kinh tế để đả kích và kích động tâm lý bực dọc, bất bình. Gieo rắc truyền bá lối sống vì tiền, mua chuộc dụ dỗ khuyến khích tham nhũng, buôn lậu. Về an ninh xã hội, các thế lực thù địch phá hoại nhằm làm cho nước ta mất ổn định về an ninh chính trị xã hội, làm suy giảm khả năng phòng thủ đất nước và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thường xuyên xây dựng và phát triển lực lượng phản động trong nước và các toán vũ trang phản động lưu vong ở ngoài nước để xâm nhập, kết hợp hoạt động vũ trang với hoạt động chính trị, gây bạo loạn khi có thời cơ. Tăng cường hoạt động gián điệp tình báo trong điều kiện nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao và kinh tế đối ngoại. Kích động gây mâu thuẫn tranh chấp đất đai, nhà cửa, gây ra những rối loạn chính trị - xã hội. Đồng thời với những thủ đoạn trên, chúng vẫn sử dụng sức mạnh quân sự để răn đe và có điều kiện, cấp bách thì tiến hành can thiệp vũ trang, chiến tranh xâm lược với quy mô và cường độ khác nhau. Các thế lực thù địch coi trọng sức mạnh tổng hợp, thực hiện kiểu chiến tranh ngầm không có chiến tuyến, không có khói súng để thực hiện mục tiêu chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

         Vấn đề “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong Văn kiện Đại hội XIII rất phong phú và toàn diện, bổ sung nhiều điểm mới so với các kỳ đại hội trước, cần nhận thức đúng để thực hiện có hiệu quả.

Đại hội XIII đánh giá: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”1; nội dung, phương thức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới”2. Từ đó, Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Báo cáo Chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) dành dung lượng đáng kể đề cập đến nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời gian tới. Bên cạnh mục XIII của Báo cáo Chính trị và nội dung thứ 10, mục V của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tập trung đề cập nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Báo cáo Chính trị còn đề cập vấn đề này ngay từ chủ đề của Đại hội và trong các mục: Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII; Quan điểm chỉ đạo thứ 5; Định hướng phát triển đất nước thứ (10) và (12); Nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất và thứ năm; Đột phá chiến lược thứ nhất. Điều đó cho thấy, sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời gian tới.

        Từ đó, Đại hội XIII xác định vị trí của nhiệm vụ, đến các nội dung, biện pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tư duy mới và những bước phát triển mới về chất so với các kỳ đại hội trước. Về vị trí của nhiệm vụ, Văn kiện xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”3. Đây là sự cụ thể hóa thành tố đầu tiên của chủ đề Đại hội “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Bởi, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thành phần cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam, lực lượng chính trị có vai trò quyết định trong việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng thành thực tiễn sinh động. Do vậy, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Về nội dung, biện pháp xây dựng, được Đại hội XIII đề cập rất toàn diện, phong phú; không chỉ xây dựng Nhà nước có tính chuyên nghiệp, hiện đại, mà còn coi trọng việc xây dựng Nhà nước về bản chất chính trị; không chỉ quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp mà còn coi trọng khía cạnh chấp hành luật pháp; không chỉ quan tâm đến yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà còn phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; không chỉ quan tâm đến việc xây dựng các thiết chế của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương và cơ quan tư pháp, mà còn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước, v.v.


          Để tăng cường xây dựng bản chất chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XIII nhấn mạnh ngay từ thành tố đầu tiên của chủ đề Đại hội; đồng thời, khẳng định Nhà nước đó phải là nhà nước “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo”. Nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là phù hợp với Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đảm bảo cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đúng với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng; để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cụ thể hóa vấn đề xây dựng Nhà nước về bản chất chính trị, Văn kiện xác định việc ban hành luật pháp phải “lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo”; quy trình làm luật của Quốc hội phải “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”; phải tập trung “Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân”; xây dựng nền tư pháp “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ: công lý, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”; “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước”.

          Điểm nổi bật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII là sự nhất quán tư tưởng “thượng tôn pháp luật”. Đây là tư tưởng chỉ đạo khắc phục những hạn chế, yếu kém mà Đại hội chỉ ra: “Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ, xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe”4. Chính tinh thần “thượng tôn pháp luật” được đề cao cùng với một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thống nhất sẽ là động lực mạnh mẽ để xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương và mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mới được hiện thực hóa. Tinh thần “thượng tôn pháp luật” được Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh ở nhiều nội dung. Trong định hướng phát triển đất nước (thứ 12), so với Đại hội XII, Đại hội XIII đã bổ sung thêm mối quan hệ lớn thứ 10 cần nắm vững và xử lý tốt là “giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”5. Bên cạnh đó, tại mục XIII, Văn kiện nhấn mạnh đến “nguyên tắc pháp quyền” trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan nhà nước và trong xây dựng nền hành chính nhà nước.

           Đối với nội dung xây dựng các thiết chế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đại hội XIII nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng: tăng tính chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền trong tổ chức và hoạt động, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao; bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Điểm mới trong tổ chức Quốc hội là: “tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp”6. Điều đó sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp hơn, nhất là trong thực hiện quy trình lập pháp và giám sát việc thực hiện luật pháp. Đối với thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội, Văn kiện xác định việc tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, “xây dựng được hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế”7. Đề cập đến “sức cạnh tranh quốc tế” của hệ thống pháp luật là một nét rất mới của Văn kiện lần này, phù hợp với bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng. Theo đó, cần xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế; nội luật hóa những điều ước quốc tế, nhất là các hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên.

           Đại hội XIII chủ trương: tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch; tập trung xây dựng Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”. Trong nhiệm kỳ này, cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bảo đảm quản lý nhà nước là thống nhất. Đồng thời, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của từng cấp, từng ngành; nâng cao chất lượng dịch vụ công; tiếp tục sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh, gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả; đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử để đáp ứng xu hướng phát triển xã hội số, nền kinh tế số.

           Đối với cơ quan tư pháp, Đại hội XIII chủ trương: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; coi đó là nội dung rất quan trọng của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. So với Nghị quyết số 49-NQ/TW, của Bộ Chính trị (khóa IX), Văn kiện đã có sự phát triển mới, nhất là nhấn mạnh yếu tố chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm chính.

          Về chính quyền địa phương, Đại hội XIII bổ sung, làm rõ hơn nội dung: tiếp tục hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với địa bàn nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo luật định; thực hiện và tổng kết việc thí điểm chính quyền đô thị nhằm xây dựng và vận hành các mô hình quản trị chính quyền đô thị theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cải cách phân cấp ngân sách nhà nước theo hướng phân định rõ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, bảo đảm vai trò chủ động, tự chủ của ngân sách địa phương.

           Để có đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XIII nhấn mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước; có cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển. Đồng thời, yêu cầu có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.

            Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quá trình nhận thức, phát triển tư duy của Đảng ta ngày càng hoàn thiện hơn; đồng thời, là một nhiệm vụ quan trọng. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả quan điểm của Đại hội XIII là thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bác Hồ với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí

 

Ngay từ thời dựng Đảng, mở lời cho cuốn “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đề cao “Tư cách một người cách mạng”. Người nhấn mạnh “phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất”. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…” .

Bác Hồ coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Người chỉ rõ bản chất của hành vi tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, là trộm cướp. Trong bài nói chuyện năm 1952 về “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Hồ Chủ tịch nói rõ: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của bộ đội; tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình…”… “Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”.

Theo Người, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của tư". Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là hành vi tham ô. Hơn một tháng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Báo Cứu quốc (ngày 17/10/1945) đăng bức thư của Người gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người nhắc nhở các cấp chính quyền ở một số nơi “cậy thế, tham ô, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo”... Người căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”.

Ngày 17/3/1952, Người viết bài về chống quan liêu, tham ô, lãng phí. Bài báo có đoạn: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Chúng ta từng biết, năm 1950, vào ngày 5/9, tại Chiến khu Việt Bắc diễn ra một phiên tòa đặc biệt gây chấn động dư luận xã hội lúc bấy giờ. Đó là vụ án Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Kết thúc phiên tòa, Trần Dụ Châu bị tuyên phạt với mức án cao nhất - tử hình. Sự việc được báo cáo lên Hồ Chủ tịch. Người đã cân nhắc kỹ và quyết định bác đơn xin giảm tội của Trần Dụ Châu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ giặc ở trong lòng”. Tác hại do tham nhũng gây ra cực kỳ to lớn về mọi mặt. Nó không những làm thiệt hại về kinh tế mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, với chế độ; làm rối loạn kỷ cương pháp luật, hư hỏng cán bộ... Trong khi “chiến sỹ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp, mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian mật thám”. Người nhắc nhở, chống loại kẻ địch này (tức nạn tham ô) khó khăn, phức tạp hơn ngay cả so với đánh giặc ngoại xâm. Điều này phải được xem là một đặc thù, chi phối toàn bộ cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

Người căn dặn: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Nói chuyện với cán bộ và nhân dân Hà Bắc ngày 17/10/1963, Người kêu gọi: "... Phải chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại, như lười biếng, cờ bạc, buôn gian bán lậu, tiêu sài xa xỉ, gả bán, cưỡng ép... Để sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đồng bào các dân tộc phải nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà.

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/1969), Bác viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác chỉ rõ: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Bác căn dặn: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”… “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”.