Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc


- Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc

Bởi lẽ:

Một là, đồng bào các  tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

- Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].

- Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc

Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240. 

Quan điểm, chính sách của Đảng đối với tôn giáo, tín ngưỡng

 


Việt Nam là quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng tồn tại đan xen nhau, đáp ứng nhu cầu về đời sống tâm linh và đời sống tinh thần của đông đảo người dân. Là người lãnh đạo và quản lý xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam, từ phương diện quan điểm, chính sách, đã luôn quan tâm đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo - dân tộc. Quan điểm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới.

Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới đến nay, được thể hiện trên nhiều văn kiện quan trọng như: Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết chuyên đề và nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng, các chỉ thị, luật, các pháp lệnh…,

- Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XII, XIII.

- Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.

- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban chấp hành trung uơng Khoa IX về công tác tôn giáo.

- Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL - UBTVQH11, tháng 6/2004

- Hiến pháp nước CHXHCNVN (2013)

- Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14

Trên các văn kiện, nhiều quan điểm, chính sách về tôn giáo và chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã được đổi mới về căn bản và mang tính “đột phá”, lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra. Đó là các quan điểm: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo đã chuyển chủ yếu từ nhận thức tôn giáo là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng tôn giáo, sang tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và tôn giáo có những giá trị tích cực. Nhận thức của Đảng về tôn giáo như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây, được thể

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Đảng, Nhà nước ta luôn đề ra đường lối quan điểm, chính sách, luật pháp phù hợp, nhằm từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) Đảng ta chỉ rõ: “Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại tới lợi ích của nhân dân” [1] và “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].  



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 81

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 245

 

Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng


          Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) phát đi thông cáo kêu gọi chính phủ nước này cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những "tiếng nói bất đồng" đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền.

          Thực tế, đây không phải lần đầu tổ chức này tự cho mình quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Mượn cớ thông tin đó, một số tờ báo, trang mạng nước ngoài a dua "theo đóm ăn tàn" để xuyên tạc, có thái độ hằn học, thể hiện luận điệu sáo rỗng, cho rằng Việt Nam hạn chế nhân quyền, bắt người vô cớ.

          Cần nhắc lại và nhận thức rằng, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, bảo đảm theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

          Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15-9-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp...

          Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước".

          Chính vì thế, đã là tội phạm thì phải có luật pháp để xử lý nghiêm minh, giữ gìn sự ổn định đất nước và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do đó, những luận điệu của các thành phần thiếu thiện chí, mượn cớ để quy chụp, cố tình chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, sáo rỗng cần phải lên án, phê phán mạnh mẽ.

Nắm vững và thực hiện tốt tình hình tôn giáo hiện nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, được tồn tạị lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại phát triển của xã hội. Trong tình hình hiện nay, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo là ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia, dân tộc và là xu hướng chung của thời đại. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay luôn xác định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Việc nghiên cứu nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay, nhất là cán bộ trong quân đội. 

Đại tướng Phan Văn Giang trao Bằng khen tặng 8 cá nhân có ​thành tích xuất sắc đột xuất

      Ngày 17-11, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số: 4555/QĐ-BQP tặng bằng khen cho 8 cá nhân có thành tích xuất sắc đột xuất trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại thủy điện Đăk Srông, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.

Trước đó, trưa ngày 9-11, nhận được tin báo có 3 công dân bị mắc kẹt giữa dòng nước xiết trên dòng sông Ba tại khu vực đập tràn thủy điện Đăk Srông, Bộ CHQS tỉnh Gia Lai (Quân khu 5) và Lữ đoàn 7 (Quân đoàn 3) đã cử lực lượng, phương tiện phối hợp với các lực lượng của địa phương cứu nạn thành công 3 công dân, bảo đảm an toàn về mọi mặt, được cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân đánh giá cao, góp phần tỏa sáng hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Đại tướng Phan Văn Giang trao Bằng khen tặng 8 cá nhân có ​thành tích xuất sắc đột xuất
 Chiến sĩ cứu hộ Bộ CHQS tỉnh Gia Lai đu dây ra khu vực các công dân gặp nạn. Ảnh: VIỆT HÙNG
Đại tướng Phan Văn Giang trao Bằng khen tặng 8 cá nhân có ​thành tích xuất sắc đột xuất
Một công dân được giải cứu thành công. Ảnh: VIỆT HÙNG 

Danh sách các cá nhân thuộc Bộ CHQS tỉnh Gia Lai (Quân khu 5) được khen thưởng, gồm: Thượng tá Lê Thanh Tùng, Phó chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Gia Lai; Thượng tá Đoàn Văn Tưởng, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Kông Chro; Trung úy Lê Mạnh Hùng, Phó đại đội trưởng Đại đội Trinh sát, Phòng Tham mưu; Thượng úy Hoàng Trung Thiên, Trung đội trưởng, Đại đội Trinh sát, Phòng Tham mưu. 

Các cá nhân thuộc Lữ đoàn 7 (Quân đoàn 3) được khen thưởng, gồm: Thượng tá Đinh Quang Thái, Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn 7; Trung tá Nguyễn Thái Tuấn, Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn 7; Thượng úy QNCN Huỳnh Duy Thiên, Lái ca nô, Trung đội 7, Đại đội 6, Tiểu đoàn 3 và Thượng úy QNCN Nguyễn Hữu Tươi, Lái ca nô, Trung đội 3, Đại đội 5, Tiểu đoàn 3.

Nguồn: QĐND.

Liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh Học viện Quốc phòng năm 2021

 Sáng 17-11, Học viện Quốc phòng tổ chức Hội thi liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh năm 2021.

Đến dự có Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Giám đốc Học viện Quốc phòng; Thiếu tướng Bùi Huy Biết, Phó chính ủy Học viện Quốc phòng, Trưởng Ban Chỉ đạo hội thi.

Liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh Học viện Quốc phòng năm 2021
 Hội thi được tổ chức chặt chẽ, thiết thực và chuyên nghiệp.

Tham gia liên hoan có 120 thí sinh là cán bộ, giảng viên, nhân viên, chiến sĩ trong toàn học viện, đến từ 8 đội với 32 tiết mục tiếng Anh. Các nội dung thi bao gồm: Chào hỏi, kiến thức, hùng biện và năng khiếu - văn nghệ. Trong phần thi năng khiếu, văn nghệ, có nhiều tiết mục nghệ thuật như hát, kịch, kể chuyện, tiểu phẩm hài, ráp được các thí sinh luyện tập và đầu tư công phu. Riêng phần thi thuyết trình có nội dung tư tưởng tốt, hình ảnh minh họa sinh động, dàn dựng công phu. Nhiều tiết mục nêu bật được đặc trưng công tác, nhiệm vụ của đơn vị trong huấn luyện- đào tạo, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh Học viện Quốc phòng năm 2021
 Quang cảnh hội thi.

Với chủ đề “Vinh quang 45 năm Học viện Quốc phòng” hội thi nhằm nâng cao nhận thức, tạo môi trường và động lực cho cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trong của học viện say mê, tích cực học tập, rèn luyện tiếng Anh và phát triển kỹ năng hội nhập quốc tế.

Liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh Học viện Quốc phòng năm 2021
 Phần thi chào hỏi của đội Cục Huấn luyện - Đào tạo.
Liên hoan các Câu lạc bộ tiếng Anh Học viện Quốc phòng năm 2021
8 đội cùng tranh tài trong phần thi kiến thức về truyền thống, nhiệm vụ của Học viện Quốc phòng.

Thời gian qua, với tinh thần chủ động và trách nhiệm cao, các cơ quan, khoa, hệ của Học viện Quốc phòng đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, bằng nhiều biện pháp đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, có nhiều mô hình hay, biện pháp thực tiễn, hiệu quả nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giáo viên, học viên. Hội thi góp phần thực hiện hiệu quả Chỉ thị 89/CT-BQP “Về một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống nhà trường Quân đội” của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Nghị quyết Số 359 của Đảng ủy Học viện Quốc phòng về việc nâng cao chất lượng và bồi dưỡng ngoại ngữ trong tình hình mới.

Nguồn: QĐND.

Người phù hợp

Ngày bình thường bạn chỉ thấy tính cách, ngày bất thường bạn mới có thể thấy phẩm chất của một người. Hồi mới ra trường 23 năm trước, gặp mấy ông hay lý luận phức tạp, tôi nghĩ ngay trong đầu, "ông này với mình không hợp nhau". Gặp những người mà chuyện vui như Tết, bên nói, bên khen, tôi rất phấn chấn, thầm quả quyết, "đó là sự phù hợp, chắn chắn rồi". Đến khi một đứa khá thân trong số "phù hợp" rủ khởi nghiệp chung, tôi góp 20 triệu thành lập công ty, số tiền không nhỏ với tôi lúc bấy giờ. Tôi nằm trong hội đồng quản trị không điều hành, hàng ngày vẫn làm thuê cho một công ty Mỹ. Người bạn điều hành công ty. Gần hai thập kỷ nay, công ty luôn báo cáo lỗ hoặc không có lãi bao giờ với cổ đông, dù quân số tăng lên hàng trăm người. Tôi nhận ra, định nghĩa ngây thơ của mình về sự phù hợp sai toét. Năm 2005, đi học sau đại học ở Canada, lớp tôi có 30 người đến từ 14 nước. Học viên dành gần như cả ngày với nhau từ thứ hai đến thứ sáu, thứ bảy thường hội thảo và chủ nhật họp nhóm hoặc tiệc tùng. Lúc đầu, tôi không thoải mái vì mọi thành viên khác nhau nhiều thứ, từ giọng nói, sở thích, cách đưa ra vấn đề khi thảo luận, món ăn, đến phong cách giao tiếp. Mất vài tháng nản lòng, nhớ nhà vì cảm giác cô độc, dần dần tôi nhận ra, môi trường mỗi người một kiểu là môi trường rất thú vị. Nó kích thích sáng tạo thể hiện qua các bài tập nhóm, dự án nhóm và cả khi đi chơi. Sau này, làm việc cho các công ty đa quốc gia, tôi càng cảm nhận rõ điều này. Vậy, người phù hợp để làm việc hiệu quả phải khác nhau. Sáng tạo cần sự va đập của những ý tưởng, góc nhìn khác biệt để bật ra ý tưởng mới. Nôm na là phải có cãi nhau, tranh luận, chứ cả nhóm đều nghĩ giống nhau, người này nói, người kia gật đầu vỗ tay thì ra khỏi phòng họp vẫn chỉ có những ý tưởng như trước lúc bước vào. Rồi tôi gặp một sếp, anh làm CEO, tôi phụ trách chiến lược. Họp với nhau lần đầu, thấy suy nghĩ rất khác nhau, tôi đã nghĩ, chuẩn luôn quan niệm về sự phù của mình, chắc thú vị đây. Chỉ sau hai tháng, tổng kết được sáu chương trình kinh doanh, thì cả sáu sếp và tôi đều có quan điểm khác hẳn nhau. "Hợp quá" thế này thì căng. Tôi cũng muốn sếp vui, nhưng oái oăm là tôi không hứng thú nổi với ý tưởng của sếp, cứ có cái gì đó khiến tôi cảm thấy nuốt không trôi nên không muốn nói ngược mà vẫn phải nói. Tôi tôn trọng sếp nhưng tôn trọng niềm tin của mình hơn, vì niềm tin là sự thật, thật với chính mình. Tôi không chỉnh được, cũng không "cố" được. Sau đó là tình trạng "tan chảy" - tức gặp nhau không có gì để nói. Nó không phải là sự tranh luận bất nhất mà đó là sự không muốn cất lời. Nhưng cũng chính thời gian đó, tôi ngộ được một số điều thú vị về văn hoá tổ chức và cách nó vận hành. Định nghĩa "người phù hợp phải khác nhau" của tôi lại sai lần nữa. Vậy, thế nào mới là phù hợp đây? Ngẫm lại thời gian học với bạn bè từ 14 quốc tịch, va đập ý tưởng với những người rất khác nhưng rồi sau chúng tôi lại thành ekip tốt. Ngay cả ban đầu, có người nói cả nhóm không hiểu lắm, có người trình bày tôi không nghe được nhiều mà vẫn hiểu. Ngôn ngữ, trong nhiều tình huống, không phải công cụ quan trọng nhất để con người hiểu nhau. Như nhiều bằng chứng khoa học, giữa người với người có cái gì khác hơn để kết nối trong công việc, đó là hệ giá trị mà hai bên theo đuổi, cả văn hóa, là "gu" - là cách mà trí tuệ và trái tim cả hai phía vận hành. Tôi cũng từng tranh luận, thậm chí tranh cãi với các sếp ở các công ty cũ, nhưng hầu hết đều dẫn đến sự đồng cảm, thống nhất và tốt đẹp hơn. Giữa những lần tranh cãi để hiểu nhau hơn và những lần im lặng không thể "cất lời", cuối cùng tôi tìm ra điều khác biệt của những người phù hợp trong các tổ chức, doanh nghiệp, đồng nghiệp. Đó là điều bao trùm mọi tiêu chí cụ thể về sản phẩm, dự án hay chính sách kinh doanh: là niềm tin và giá trị. Điều này càng trở nên tỏ tường trong những năm tháng làm việc sau này của tôi. Những người tôi gặp mà tương đồng, chúng tôi có thể họp quên thời gian, càng làm việc, chúng tôi càng có nhiều ý tưởng mới. Chung niềm tin và giá trị thì mọi sự tranh cãi chỉ là nhỏ, và cuối cùng sẽ đến một điểm thống nhất. Do đó, người phù hợp, hoặc vừa vặn, để đồng hành với một cá nhân cũng như một tổ chức là người nên khác ta nhiều thứ nhưng phải cùng niềm tin, giá trị và tầm nhìn. Người phù hợp với bạn và tổ chức của bạn thì sao?

'Sống mòn' trong những chung cư chờ cải tạo

HÀ NỘI 8 năm trước, căn hộ 30 m2 của ông Nguyễn Văn Thu ở tập thể C8 Giảng Võ bị đánh giá nguy hiểm, cần di dân khẩn cấp, nhưng ông vẫn bám trụ. Ông Thu được bố trí căn hộ 30 m2 ở tầng 3 đơn nguyên 3 tập thể C8 Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, từ năm 1983. Hơn chục năm sau, căn hộ được nhà nước thanh lý, hiện là nơi sinh sống của chị gái, vợ và hai con ông. Ngoài 2 phòng ngủ rộng mỗi phòng chừng 10 m2, không gian sinh hoạt chính của gia đình là phòng khách chỉ 8 m2, đặt tủ, bàn thờ, tivi, bàn học, hai chiếc ghế gỗ, dàn máy khâu. Tất cả đồ đạc kê sát các bức tường, tạo khoảng trống ở giữa làm chỗ trải chiếu ăn uống. Chuyện học hành, công việc may vá của vợ con ông Thu đều diễn ra trong không gian này. Ở lối vào nhà, ông Thu đặt máy giặt, bếp từ, bồn rửa bát, khay đựng bát đĩa... nên chỉ còn khoảng 70 cm, hai người lớn phải né nhau. Các bức tường trong nhà ẩm mốc, có chỗ rêu xanh. Nhiều năm nay, mỗi khi mua bán thêm đồ vật gì cả gia đình phải tính toán xem kê ở đâu, thay thế vật dụng gì. Vợ chồng ông rất ngại mời bà con, bạn bè tới chơi vì "tiếng ở thủ đô mà nhà quá xập xệ". Nhà chật, gia đình ông Thu cũng như cư dân xung quanh thường ra hành lang hóng mát. Tuy nhiên, gần đây họ cũng hạn chế vì hành lang mốc xanh mốc đỏ, xuất hiện nhiều vết nứt, tới mức từ sàn tầng 3 nhìn thấy hành lang tầng 2. Chính quyền phải vá víu bằng những thanh sắt to bản đan chéo nhau. Cầu thang lên xuống cũng có những thang sắt đan chéo chống đỡ. Tập thể C8 Giảng Võ được xây dựng năm 1979, gồm những dãy nhà 5 tầng. Mỗi căn khoảng 30 m2, một số gia đình trổ thêm "chuồng cọp" để tăng diện tích sử dụng. Năm 2013, Viện Khoa học công nghệ và Kinh tế xây dựng Hà Nội kiểm định chất lượng nhà C8 (đơn nguyên 3), đánh giá mức độ nguy hiểm cấp D, tức khả năng chịu lực của kết cấu không thể đáp ứng yêu cầu sử dụng bình thường, xuất hiện tình trạng nguy hiểm tổng thể, cần di dời ngay toàn bộ dân. Tháng 8/2014, Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu tổ chức di dời các hộ dân sinh sống tại đơn nguyên 3 nhà C8 trong tháng 9. Người dân được chuyển tới sống tạm thời ở những chung cư ở Trung Hòa, quận Cầu Giấy và được hỗ trợ 6 triệu đồng mỗi tháng. Chủ nhà đi, căn hộ cũ được khóa chặt, che tôn phía ngoài. Tuy nhiên, theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, đến tháng 7/2021, vẫn còn 18/36 hộ ở đơn nguyên 3 nhà C8 chưa di dời và gia đình ông Thu là một trong số đó. "Nếu nói không sợ cũng không đúng, nhưng sang chỗ ở tạm rất bất tiện. Mọi giấy tờ vẫn phải phụ thuộc ở chỗ này, từ con cái đi học, lĩnh lương hưu... Hơn nữa, chúng tôi muốn được xây nhà mới sớm, bây giờ chuyển đi thì không biết tới bao giờ, 10 hay 15 năm nữa ai dám chắc", ông Thu giải thích. Năm 2016, cư dân C8 có cuộc họp với chính quyền. Gần 90% người dân đồng thuận về chủ trương xây mới chung cư, nhà thầu cũng được chỉ định. Với 30 m2 nhà hiện có, nhân thêm hệ số 1,9, khi chung cư được xây mới, ông Thu nhẩm tính gia đình sẽ có căn hộ gần 60 m2. Cuộc sống sẽ "dễ thở hơn, con cái có thể tự tin mời bạn đến nhà chơi". Nhưng đến nay mọi thứ vẫn nằm trên giấy. Nhà quá xuống cấp, ông Thu chẳng muốn sửa sang, chấp nhận cuộc sống tạm bợ vì lo mua đồ mới, khi khu nhà được cải tạo lại phải chuyển đồ bất tiện. "Chúng tôi sẽ không rời đi cho đến khi nào nhìn thấy đơn vị thi công mang máy móc tới", ông Thu quả quyết nói. Từng sống ở nhà C8 Giảng Võ, năm 2016 gia đình chị Nguyễn Thị Ngân đã chuyển tới nơi tạm cư, nhưng được 5 tháng lại trở về. Lý do chỗ ở mới khá thoải mái, song hai con phải đi học xa, đưa đón vất vả. Căn hộ của gia đình đã được khóa chặt và quây tôn, không thể vào nhà cũ, chị thuê nhà trọ gần đó để ở. "Tôi bán nước ngay trước cửa nhà cũ coi như là trông nhà", chị Ngân nói và cho hay căn hộ của gia đình chỉ rộng 18 m2 nên khi thành phố có chủ trương cải tạo chung cư, chị không mặn mà. "Chủ trương xây mới mỗi căn hộ rộng khoảng 70 m2, nếu tôi muốn mua sẽ phải bỏ thêm rất nhiều tiền. Bán hàng nước như tôi đến cơm ăn còn khó nói gì tới mua nhà", chị chia sẻ. Cách nhà C8 Giảng Võ khoảng 5 km, tập thể H1 Nguyễn Công Trứ, ở phố Huế, quận Hai Bà Trưng, được xây từ những năm 1960 nay đã xập xệ. Mỗi khi mưa lớn, nước từ tầng cao nhất (tầng 4) chảy xuống tầng 1. Bên ngoài, lớp vữa bong tróc từng mảng lớn, cây cỏ mọc che cả những ô cửa nhỏ vốn để lấy ánh sáng. Nhà chị Lê Thị Thúy sống ở tầng 4 tập thể H1, mở cửa ra là thấy cả mảng trần ngoài hành lang vỡ toác, để lộ phần mái ngói cũng bị vỡ, mưa nắng đều hứng trọn. "Tôi cũng như mấy chục gia đình ở tập thể H1 đã phải sống trong sợ hãi, lúc nào cũng lo sập nhà", chị Thúy nói. Không chỉ ông Thu, chị Ngân, chị Thúy, khoảng 250.000 người dân Hà Nội đang sống trong 1.579 nhà chung cư cũ xuống cấp. Theo Sở Xây dựng, ngoài nhà C8 Giảng Võ, 5 chung cư cấp độ D nguy cơ sụp đổ vẫn còn người dân sinh sống. Cụ thể nhà 51 Huỳnh Thúc Kháng còn 4 hộ; tập thể Bộ Tư pháp (đơn nguyên 1, 3) còn 2 hộ; nhà A phường Ngọc Khánh (đơn nguyên 1) còn 20 hộ; nhà G6 phường Thành Công (đơn nguyên 1, 2) 28 hộ; nhà 148-150 Sơn Tây còn 3 hộ. Các chung cư trên được xây dựng từ năm 1960 đến 1999, số ít trước 1954, cao từ 3 đến 6 tầng, diện tích dưới 30 m2. Do được đưa vào sử dụng đã lâu, nhiều chung cư xuống cấp nghiêm trọng, ngập úng, không có hệ thống phòng cháy chữa cháy, không có diện tích dành cho đỗ xe... Việc cải tạo được Hà Nội đặt ra từ hơn 20 năm trước, mục tiêu đến năm 2015 sẽ "xóa" toàn bộ. Tuy nhiên, đến nay mới có 19 chung cư cũ được cải tạo và đưa vào sử dụng; 14 dự án đang triển khai. Để thúc tiến độ, năm 5 trước thành phố thí điểm xã hội hóa quy hoạch chung cư cũ. 19 nhà đầu tư đã đăng ký nghiên cứu cải tạo 30 khu chung cư. Nhưng đến nay, tiến độ mới dừng ở các bản báo cáo lần 1, lần 2. 3 khu chung cư nhà đầu tư đã xin rút là khu Tân Mai, Đường sắt và Xí nghiệp xây lắp 24. Tại hội thảo về cải tạo chung cư cũ do Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế xã hội phối hợp với Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật TP Hà Nội tổ chức tháng 4/2021, nhiều đại biểu thốt lên đã dự không biết bao nhiêu cuộc họp về cải tạo chung cư cũ nhưng hầu như chưa thấy chuyển biến gì đáng kể. GS Đặng Hùng Võ cho rằng nếu tiến độ như hiện nay, sau khi hoàn thành cải tạo số chung cư cũ đã thống kê, Hà Nội lại phải cải tạo những chung cư mới, khi đó đã trở thành cũ. Gần đây nhất ngày 23/9/2021, HĐND TP Hà Nội đã thông qua nghị quyết về đề án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ. Giai đoạn 2021-2025, thành phố lên kế hoạch cải tạo 10 khu chung cư cũ, bao gồm 4 khu nhà cấp D có nguy cơ sụp đổ, phải di dời khẩn cấp người dân là Giảng Võ, Thành Công, Ngọc Khánh, Bộ Tư Pháp; và 6 khu có tính khả thi để cải tạo là Kim Liên, Trung Tự, Khương Thượng, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Nghĩa Tân. Thấy chung cũ của mình có tên trong danh sách được cải tạo, ông Thu lại hy vọng "dự án không rơi vào bế tắc như những lần trước".

TUYÊN DƯƠNG CÁN BỘ, HỌC VIÊN, SINH VIÊN THAM GIA TUYẾN ĐẦU CHỐNG DỊCH COVID-19


Hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Y tế khi dịch bệnh Covid-19 bắt đầu bùng phát, từ tháng 2/2020, Trường đại học Y Hà Nội đã cử nhiều đoàn cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên tham gia vào công tác phòng, chống dịch tại các điểm nóng như Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, trường đã tổ chức các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, xét nghiệm, tiêm phòng vaccine cho các tỉnh. Cho đến nay, có hơn 1.500 cán bộ, học viên, sinh viên tham gia công tác phòng, chống dịch tại các địa phương. Tất cả các đoàn y tế đã nỗ lực hết mình hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, an toàn trở về học tập.
Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Y Hà Nội, GS, TS Tạ Thành Văn cho biết: Trường đã tham gia tất cả các lĩnh vực, từ việc tham gia lấy mẫu, xét nghiệm, điều trị đến việc tham gia đào tạo nhân viên y tế của trường và tất cả các đơn vị trên cả nước; nâng cao kiến thức phòng, chống dịch cho người dân.
Trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp ở nhiều phương, các cán bộ, học viên, sinh viên nhà trường không chỉ tham gia công tác phòng, chống dịch như lấy mẫu xét nghiệm, điều tra dịch tễ... mà còn có trách nhiệm tập huấn cho cán bộ y tế địa phương một quy trình chuẩn mực, chuyển giao toàn bộ quy trình kỹ thuật, chuyên môn để khi lực lượng rút đi, đội ngũ tại địa phương đã có đầy đủ kỹ năng kiến thức cần thiết.
Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 của Trường đại học Y Hà Nội đã xây dựng chương trình đào tạo miễn phí trực tuyến cho tất cả nhân viên y tế và người dân cả nước về các kiến thức như: cách chăm sóc, chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân F0... Chương trình được thực hiện trong 2 tháng với hơn 20 nghìn lượt người tham gia.
Tại lễ tuyên dương, 3 tập thể và 7 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 44 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19 tại tỉnh Bắc Ninh được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Y tế; 111 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Y tế. Nhiều tập thể, cá nhân được nhận Giấy khen của Đảng ủy Khối các trường đại học, cao đẳng Hà Nội; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh.
Theo báo nhân dân

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA - NGÀY 18/11


“… Muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự...”.
- Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nội dung trả lời phỏng vấn nhà báo Phêlích Gơrin (nhà báo người Anh), ngày 18 tháng 11 năm 1965, để giải thích về lập trường của Việt Nam trước đề nghị thương lượng của phía Mỹ; Báo Nhân dân đăng trên số 4266, ngày 09 tháng 12 năm 1965.
Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam buộc phải đứng lên đấu tranh chống kẻ thù xâm lược cũng chỉ với khát khao đất nước được độc lập, nhân dân được sống trong hòa bình, tự do. Từ khát vọng cháy bỏng đó mà nhân dân Việt Nam đã không tiếc mồ hôi, nước mắt, máu xương của biết bao thế hệ cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, no ấm, hạnh phúc của mình. Lời khẳng định “... Muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự...” của Bác như là một chân lý, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc. Đó không chỉ là tư tưởng mà còn là lẽ sống, là một giá trị to lớn trong học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là mục tiêu chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp vĩ đại đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự tồn tại và phát triển của dân tộc.
Thấu triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh về giá trị to lớn của hòa bình và điều kiện tiên quyết để có được hòa bình thực sự, Đảng ta chủ trương phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước là lợi ích cao nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các thuận lợi từ bên ngoài, kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, vừa hợp tác vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác, tránh xung đột đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc... Đối với Quân đội ta, phải trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Thường xuyên nắm chắc tình hình, đánh giá chính xác, tham mưu sắc bén cho Đảng, Nhà nước, phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ,. Ngành Trung ương, các lực lượng và các địa phương chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Theo báo QĐND

NHẬN DIỆN SỰ THẬT!

      "... xét lại lịch sử để đề cao một số nhân vật triều đại vốn không được khẳng định với ý nghĩa tích cực, thậm chí là khơi dậy một xu hướng cực đoan lệch lạc trong quá khứ để phủ nhận hiện tại là hiện tượng cần phải xem xét, bởi nếu không sẽ đưa tới sự ngộ nhận".

Hoan hô Kênh TH QPVN đã có những chuyên mục ý nghĩa như này.


PS: Trong trào lưu xét lại lịch sử có những người núp danh các nhà tri thức, có học hàm học vị hoặc lợi dụng người của công chúng đã xuyên tạc AH LS Lê Văn Tám; AHLS Võ Thị Sáu..., nhưng lại trực tiếp hoặc tiếp tay cho việc tâng công, rửa tội cho Nguyễn Ánh; Phan Thanh Giản; Trương Vĩnh Ký và chế độ tay sai Nguỵ Sài Gòn.

Bài học của Liên Xô để mất chế độ cũng bởi từ 1 trong những nguyên nhân xét lại lịch sử, thế nên chúng ta càng phải mạnh mẽ đấu tranh để vạch trần âm mưu, thủ đoạn của những kẻ dã tâm lât sử.

Bảo vệ giá trị lịch sử cũng chính là bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng mà cha anh chúng ta đã phải hy sinh máu xương mới giành lại được./.











Yêu nước ST.

"HOẠ MẤT NƯỚC LÀ ĐÂY" - KHI GIẶC NỘI XÂM LÀM GIÁO DỤC!

     Chuyện xảy ra ở Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai:

Các ông đang "giáo dục" cho thế hệ trẻ Việt Nam điều gì khi lấy thơ của 1 viên Thiếu tá Ngụy, nguyên là trưởng phòng tâm lý chiến, phải đi cải tạo sau giải phóng và sống lưu vong để đưa vào đề thi môn văn?


Phải chăng các ông đang non kém, ấu trĩ về nhận thức? Hay các ông đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"?


Họa mất nước luôn xuất phát từ những kẻ xem thường máu xương của cha ông đã ngã xuống, xem nhẹ cuộc xâm lăng văn hóa của kẻ thù./.



Yêu nước ST.

THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA VỚI QUÁ KHỨ!

      Nhân vật A-bu-ta-lip trong cuốn “Dagestan của tôi” (tác giả: nhà thơ Rasul Gamzatov) đã nói rằng, “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”.

Và năm 1985, Tổng thống Tây Đức thời đó là Richard von Weizsacker cũng đã nói: “Người nhắm mắt với quá khứ rốt cục đui mù ở cả hiện tại. Người không định khắc cốt ghi tâm những hành vi vô nhân tính thì dễ rơi vào sự nguy hiểm đó”.

Câu nói của nhà thơ Rasul Gamzatov đã trở thành đề tài văn học ở nước ta, nhiều người đã có những bài nghị luận sắc sảo. Tôi xin không nhắc lại những bài nghị luận đó. Mà chỉ xin nói một câu rằng, nếu chúng ta không hiểu, không nhớ về quá khứ thì chúng ta sẽ không có động lực để đi tiếp, và sự va vấp trên đường đi là vô số kể.

Còn đối với câu nói của ngài Richard von Weizsacker thì ông ấy đã nhắc chúng ta, rằng nếu không hiểu biết về quá khứ thì cũng chẳng hiểu giá trị của những những thành tựu mà chúng ta đã đạt được ở thì hiện tại, và hơn nữa là không tránh khỏi những sai lầm trong tương lai.

Vâng, ngày nay có nhiều người, mỗi khi nhắc đến quá khứ lại tặc lưỡi một cái, rồi than, “đã là quá khứ thì để nó qua đi, nhắc lại làm gì!”. Tôi không khuyên bạn nên hay không nên, song hãy suy nghĩ về những gì người xưa nói.

Lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc, đã trải qua những bước thăng trầm. Quá khứ càng lùi xa bao nhiêu thì những điều của lịch sử càng trở nên mờ ảo bấy nhiêu, chỉ có thời đại của chúng ta, chúng ta mới nhận thấy rõ nét hơn. Hay hay dở, hào hùng hay đớn hèn, chúng ta đều thấy, đều cảm nhận được; song rồi đến lượt con cháu của chúng ta, những gì của ngày hôm nay trong tương lai lại trở nên huyền ảo đối với chúng. Thật may mắn cho con cháu của chúng ta, phương tiện để ghi chép lại lịch sử hiện nay thật phong phú, nào sách in, nào các bản viết tay, nào hình ảnh, nào phim nhựa, phim kỹ thuật số, đủ cả. Tha hồ cho chúng đọc, chúng phê phán.

Nhưng dù nói gì thì lịch sử cận đại đã cho chúng ta thấy những giá trị chân thực của đất nước. Ai bảo thực dân Pháp không xâm lược Việt Nam, họ sang đây chỉ nhằm mục đích khai hóa văn minh cho người An-nam lạc hậu? Khai hóa văn minh sao để cho chín mươi phần trăm dân ta bị mù chữ trong suốt gần một thế kỷ?

Phát xít Nhật với mưu đồ “khối thịnh vượng chung đại Đông Á”, theo “phe trục” - Đức, Ý, Nhật định cai trị cả vùng Đông Á. Bước đi đầu tiên là đánh chiếm Trung quốc, lập nên nước Mãn Châu rồi Bắc kinh, Nam kinh, Triều tiên và tiến xuống Đông dương. Nếu không có phe đồng minh thì Đông Á ngày nay sẽ thế nào? Chỉ riêng Việt Nam năm 1945 đã có trên hai triệu người dân chết vì đói bởi chính sách của phát xít Nhật.

Quân xâm lược Mỹ khi sang Đông dương thay thế thực dân Pháp với chiêu bài “cuộc chiến giữa hai hệ tư tưởng” mà không dám thừa nhận là đi xâm lược. Thực chất đó là cuộc chiến tranh, ở đó một bên là bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, và một bên là đi xâm chiếm.

Nếu nói đó là cuộc chiến giữa hai hệ tư tưởng, vậy sau khi người Cộng sản giành chiến thắng, họ đâu có truyền bá chủ nghĩa Cộng sản xuống các nước ở đông nam Á khác? Về điểm này trong chúng ta vẫn còn có người mơ hồ, đừng để cho con cháu của chúng ta hiểu sai về những gì cha ông của chúng đã làm được.

Sự không hiểu bởi nhận thức thì hãy cố gắng mà tìm hiểu dưới góc độ một người dân của một nước nô lệ, một nước bị xâm chiếm. Còn những người cố tình xuyên tạc lịch sử thì chỉ tạo ra sự mất đoàn kết giữa những người trong một nước.

Lấy thí dụ, nước Nhật ngày nay là một cường quốc về kinh tế, chỉ đứng thứ ba sau Mỹ và Trung quốc, song cuộc chiến tranh mà nước Nhật phát xít đã tham gia trong thế chiến thứ hai, vẫn còn làm cho nước Nhật bị chia rẽ. Trong cuộc chiến ấy, đã có trên ba triệu người Nhật bị chết, người ta lập đền thờ Yasukuni, trong đó có cả những tên mà chính người Nhật đã liệt họ là “tội phạm chiến tranh hạng A”.

Kế thừa tư tưởng của ông ngoại Nobusuke Kishi, coi cuộc chiến tranh Nhật Trung, Nhật Triều không phải là chiến tranh xâm lược, vì vậy khi còn tại chức Thủ tướng nước Nhật, ông Shinzo Abe không thừa nhận người được thờ trong đó là tội phạm chiến tranh, ông cho rằng “các sử gia đã phán đoán sai” và việc đến viếng đền chỉ là “vấn đề của trái tim”. Việc đó đã gây nên sự chia rẽ trong chính trường Nhật, Làm căng thẳng mối quan hệ Nhật-Trung-Hàn.

Nói vậy để chúng ta đừng nghĩ rằng, muốn diễn dịch lịch sử thế nào cũng được, chẳng ảnh hưởng gì đến quốc gia dân tộc, vì lịch sử là quá khứ, nó đã diễn ra rồi. Song, như Rasul Gamzatov đã nói, những chuyện xuyên tạc lịch sử ấy, chính là những phát súng lục bắn vào quá khứ, nhỏ thôi! Song rồi, đến một ngày nào đó, chính chúng ta sẽ nhận được những phát đại bác bắn vào chúng ta hôm nay./.

Hình trong bài: Nạn đói 1945, hậu quả chiếm đóng của phát xít Nhật.

Yêu nước ST.

NHỮNG CÂU NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 1. Vệ quốc quân là quân đội của nhân dân, để bảo vệ đồng bào, giữ gìn Tổ quốc.

"Gửi Báo Vệ quốc quân", ngày 27-3-1947, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr.135.
2. Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội.
"Thư gửi Hội nghị chính trị viên", tháng 3-1948, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.5, tr485.
3. Trung với nước, hiếu với dân.
"Thư gửi Trường Trần Quốc Tuấn nhân dịp khai giảng khóa thứ IV". tháng 5-1948, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.5, tr.542.
4. Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ.
"Thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân ngày kỷ niệm ngày thành lập quân giải phóng Việt Nam", ngày 22-12-1949, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.6, tr.264.
5. Cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội.
"Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng", ngày 11-02-1951, theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.29
6. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là Quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng… Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân, làm cho đội viên thành một người tuyên truyền bằng công việc thực tế.
"Bài nói chuyện tại Trường Chính trị Trung cấp Quân đội", ngày 25-10-1951, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.217-219.
7. Cán bộ và bộ đội nhất định phải đi sát với nhân dân vì lực lượng của nhân dân là vô cùng mạnh mẽ.
"Thư gửi đồng bào và bộ đội tả ngạn Liên khu III", ngày 10-11-1951, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.230.
8. Ta đã xây dựng một Quân đội nhân dân mạnh mẽ, gồm mấy mươi vạn Vệ quốc quân, bộ đội địa phương và dân quân du kích.
"Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm lần thứ năm ngày toàn quốc kháng chiến", ngày 19-12-1951, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.253.
9. Lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo.
"Tình hình và nhiệm vụ", từ ngày 22 đến ngày 28-4-1952, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.397-398.
10. Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra là nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi.
"Bài nói tại Hội nghị chiến tranh du kích", ngày 13-7-1952, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.7, tr.448.
11. Xây dựng Quân đội - một Quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng. Quân đội ta phải được trang bị đầy đủ, phải học tập nhiều để tiến bộ mãi về mặt kỹ thuật. Phải luôn tăng cường công tác chính trị để bảo đảm là Quân đội cách mạng, Quân đội quyết chiến quyết thắng.
"Thường thức chính trị", đăng trên báo Cứu quốc, từ ngày 16-01 đến ngày 23-9-1953, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.8, tr.265.
12. Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải bảo đảm sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội.
"Diễn văn khai mạc Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II)", ngày 25-01-1953, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.8, tr.29.
13. Chỉ có quân đội cách mạng của nhân dân mới có tinh thần dũng cảm vô cùng như vậy. Và nhờ tinh thần ấy, mà kháng chiến nhất định thắng lợi hoàn toàn.
"Anh hùng và chiến sỹ gương mẫu của quân chí nguyện Trung Quốc", đăng trên Báo Nhân Dân, số 160, từ ngày 16 đến ngày 20-01-1954, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.8, tr.392.
14. Quân đội ta là quân đội của nhân dân. Trong thời kỳ kháng chiến, quân dội thi đua giết giặc, để bảo vệ nhân dân, hòa bình trở lại, quân đội vừa lo học tập, vừa ra sức giúp nhân dân trong mọi việc… Vì bộ đội ta luôn ra sức phục vụ nhân dân, cho nên nhân dân luôn thương yêu bộ đội như con em ruột thịt của mình. Trong công cuộc củng cố miền Bắc, khôi phục kinh tế, v.v… quân đội ta phải đóng góp một phần rất quan trọng và chắc sẽ có những thành tích vẻ vang.
"Quân đội nhân dân", đăng trên Báo Nhân Dân, số 661, ngày 24-12-1955, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.10, tr.224 - 225.
15. Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển.
"Nói chuyện với các đại biểu quân dội, thương binh và quân nhân phục vụ dịp Tết Đinh Dậu", ngày 29-01-1957, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.10, tr.490.
16. Quân đội ta là quân đội nhân dân, con đẻ của nhân dân, bảo vệ nhân dân, đó là nhiệm vụ rất vẻ vang.
"Bài nói chuyện nhân dịp về thăm khu mỏ", ngày 04-10-1957, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.11, tr.113.
17. Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội.
"Bài nói về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của Quân đội tại Hội nghị cao cấp toàn quân", ngày 20-3-1958, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.11, tr.365.
18. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt.
Bài nói chuyện tại lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang", tháng 3-1959, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.12, tr.154.
19. Một điều rất quan trọng là phải biết luôn dựa vào lực lượng của nhân dân, có quyết tâm khắc phục mọi khó khăn thì nhất định làm trọn nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó cho các đồng chí.
"Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng", ngày 21-02-1961, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.13, tr.47.
20. Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một Quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục.
"Bài nói trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi", ngày 22-12-1964, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.14, tr.435.
21. Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
"Bài nói trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi", ngày 22-12-1964, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.14, tr.435.
22. Tuy còn non trẻ, nhưng nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự tin yêu, giúp đỡ của nhân dân, sự cố gắng không ngừng của mình, hải quân ta đã anh dũng chiến đấu, tích cực diệt địch, bắn rơi máy bay và đánh đuổi tàu chiến Mỹ, đoàn kết lập công, bảo vệ nhân dân, bảo vệ vùng trời và vùng biển của Tổ quốc. Các chú đã nêu cao truyền thống anh hùng của dân tộc ta.
"Thư gửi cán bộ và chiến sỹ Hải quân" đăng trên Báo Nhân Dân, số 4147, ngày 11-8-1965, theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.14, tr.597.
23. Được sự giáo dục và lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự thương yêu và giúp đỡ tận tình của đồng bào, quân đội nhân dân ta đã đánh đuổi phát xít Nhật, thực dân Pháp. Hiện nay đang đánh thắng đế quốc Mỹ.
"Lời phát biểu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 21 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam", theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.14, tr.688.
24. Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân.
"Gửi toàn thể cán bộ và chiến sỹ đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền đường số 4", theo Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, t.6, tr.253.



CẦN CHẶN ĐỨNG NGUY CƠ “XÂM LĂNG VĂN HÓA”, BỞI NÓ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN SỰ TỒN VONG CỦA QUỐC GIA, DÂN TỘC!

      Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Người cũng chính là biểu tượng của cốt cách, tâm hồn văn hóa Việt Nam. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức tháng 11-1946, Bác đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, như vậy chúng ta đã hiểu được văn hóa có vị trí, vai trò hết sức quan trọng bởi nó là gốc rễ, là cội nguồn làm nên sức mạnh của mỗi dân tộc, đồng thời, văn hóa là cách nhận biết rõ nét nhất giữa dân tộc này với dân tộc khác.

Việt Nam hiện nay đang trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng, bên cạnh việc tiếp thu, hấp thụ những giá trị, tinh hoa văn hóa của nhân loại, nước ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc đang bị đảo lộn, ngày càng nhiều hành vi phản văn hóa, phi giáo dục diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi như:

- Một bộ phận giới trẻ đang sa đà vào lối sống thực dụng, “sống gấp”, “sống thử”, “sống ảo”, thay vì xem, đọc các tài liệu, cuốn sách có giá trị giáo dục đạo đức, lịch sử, văn học lại nghiện game, nghiện xem phim hành động bạo lực, thậm chí phim sex, không quan tâm tới những gì đang diễn ra xung quanh, bàng quan, vô trách nhiệm với chính những người thân yêu, ruột thịt của mình.

- Các vụ li hôn trong các gia đình trẻ ngày càng nhiều, tình trạng vi phạm pháp luật ở tuổi vị thành niên ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất nghiêm trọng của vụ án, lớp trẻ ngày càng sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, xa rời lý tưởng, vô cảm với thành quả mà các thế hệ cha ông đã phải đổ bao xương máu mới có được cơ đồ như hôm nay.

- Tình trạng lợi dụng các giá trị văn hóa trong hoạt động nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gây nhiễu loạn trong nhân dân: Liên quan đến các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước có một số Linh mục cực đoan đã kích động giáo dân chống chính quyền; làm ảnh hưởng đến phật giáo và gây gây bức xúc trong nhân dân như hoạt động ở Tịnh thất Bồng Lai, gần đây nhất là ca khúc Cô gái mở đường với phiên bản mới đang gây bức xúc trong dư luận.

Vậy nguyên nhân của những thưc trạng nêu trên là gì? Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó cơ bản nhất là do “Cuộc xâm lăng văn hóa” đang nhằm vào nước ta bằng nhiều con đường, nhiều hình thức với những âm mưu và thủ đoạn cực kỳ thâm độc, đặc biệt, chúng lợi dụng triệt để internet để truyền bá các tư tư tưởng lai căng, các sản phẩm văn hóa và thông tin xấu độc, trong khi chúng ta chưa có đủ kiến thức, tâm thế, bản lĩnh để nhận diện; năng lực, trình độ một số cán bộ làm công tác văn hoá chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới, thậm chí làm công tác văn hoá nhưng vi phạm đạo đức văn hoá; việc giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam ở trong nước và nước ngoài chưa mạnh, chưa thực sự cuốn hút và chưa có sức lan tỏa; Hệ thống thông tin đại chúng còn nhiều hạn chế, một số cơ quan báo chí xa rời tôn chỉ và có biểu hiện thương mại hóa; việc in ấn, xuất bản thiếu kiểm soát dẫn đến có những bài báo vừa đăng buộc phải gỡ bài và bị đình bản, sách vừa xuất bản đã lập tức vấp phải sự phản đối gay gắt bởi các sự kiện bị cắt xén, xuyên tạc, điển hình như cuốn Gạc Ma - Vòng tròn bất tử…

Trước thực trạng và nguyên nhân nêu trên, cần sự vào cuộc kịp thời, quyết liệt, hiệu quả của các cấp từ Trung ương đến địa phương; sự nhiệt tình, trách nhiệm của tất cả các ngành, trong đó ngành văn hóa đóng vai trò chủ đạo trong công tác tuyên truyền, định hướng và tạo thành phong trào rộng khắp trong nhân dân, để mỗi người dân thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Có như vậy mới thực hiện thắng lợi mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.

Như vậy khẳng định, văn hóa có vai trò vô cùng to lớn, do vậy cùng với việc làm tốt công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh thì việc “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển chung của đất nước. Theo đó, cần nhận thức một cách thống nhất rằng: Còn văn hóa là còn tất cả. Mất văn hóa là mất tất cả./.

Yêu nước ST.