Ngày 5-4, Trường Quân sự Quân đoàn 3 đã điều động gần 80 cán bộ, chiến sĩ về xã Cát Tài (huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai.
Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022
TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN ĐOÀN 3 GIÚP DÂN KHẮC PHỤC HẬU QUẢ THIÊN TAI
Tư tưởng của Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng ta về xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh
Hồ Chí Minh nhất quán trung thành với các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh, trong xây dựng sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời có sự chỉ dẫn, cụ hóa vào lãnh đạo chỉ đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, vào xây dựng Quân đội ta.
Những nội dung trong tư tưởng về xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh và xây dựng quân đội bao gồm hệ thống những luận điểm phong phú về tính tất yếu phải xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội; về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội trong hoạt động quân sự, trong chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; về nội dung, hình thức, biện pháp và chủ thể - lực lượng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của Quân đội.
Người khẳng định, trong xây dựng quân đội và lực lượng vũ trang phải quán triệt tư tưởng “Người trước, súng sau”; trong huấn luyện bộ đội phải coi trọng cả huấn luyện quân sự và huấn luyện chính trị, “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2. Xây dựng quân đội phải nhất quán nguyên tắc lấy chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay.
Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung của nhân tố chính trị - tinh thần được xác định ở những yếu tố cơ bản, đó là: trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; tinh thần kỷ luật tự giác, nghiêm minh; tinh thần đoàn kết quân dân như cá với nước; tinh thần đoàn kết nội bộ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi; tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống khiêm tốn, giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tinh thần khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ và luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Để xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội và nhân dân Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề tăng cường giáo dục, bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giáo dục đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng cho quân đội; xác lập hệ tư tưởng Mác - Lênin, làm cho hệ tư tưởng đó trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của quân đội; đồng thời, Người cũng rất quan tâm đến vấn đề xây dựng, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật trong quân đội.
Đảng ta là một Đảng cách mạng chân chính, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo các cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, trong những điều kiện rất khó khăn, các lực lượng ngoại xâm có tiềm lực vật chất, vũ khí trang bị hơn ta nhiều lần. Trong những điều kiện khó khăn ấy, Đảng ta đã đúng khi quán triệt sâu sâu sắc các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần và coi trọng xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của Quân đội.
Theo Đảng ta: Xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần của quân đội ta hiện nay là phải xây dựng con người trong quân đội có chất lượng cao, đó là những con người có trình độ giác ngộ chính trị cao, có lập trường, tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh; có những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học công nghệ hiện đại, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, có kỹ năng kỹ xảo, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt; có ý thức, tổ chức kỷ luật cao, có sức bền dẻo dai về tâm lý, cường tráng về thể lực; đó còn là những con người có lòng nhân ái, nhân đạo cao cả và nhân văn sâu sắc.
Biểu hiện cụ thể là phải xây dựng lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin trong đời sống xã hội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội ta hiện nay, còn phải nâng cao lòng yêu nước, chí căm thù giặc, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng trạng thái tâm lý vững vàng, ý chí quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do củaTổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống trung thực, lành mạnh, có văn hóa, có kỷ cương, củng cố tình đoàn kết máu thịt giữa quân và dân, đề cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, tạo động lực mạnh mẽ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao trình độ hiểu biết toàn diện về khoa học, công nghệ hiện đại, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, trình độ làm chủ vũ khí, kỹ thuật hiện đại. Kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại trong nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc, nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh công nghệ cao của các thế lực thù địch. Xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội là xây dựng tổng thể các yếu tố trên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tạo thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội.QS
Kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh
Quan điểm của
Chủ nghĩa Mác - Lênin
C.Mác và Ph.Ăngghen
dựa trên sự phân tích biện chứng tác động, ảnh hưởng của các nhân tố trong
chiến tranh, nhất là mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong các cuộc chiến
tranh đã rút ra kết luận: Trong sự tác động biện chứng giữa con người và vũ
khí, thì nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định, “Con người chứ không
phải vũ khí, sẽ thắng trong trận đánh”.
Khi phân tích về sức mạnh chiến đấu của Quân đội Ph.Ăngghen cũng lưu ý phải
xem xét nhân tố chính trị - tinh thần của Quân đội trong mối quan hệ với các nhân
tố khác. Để đánh giá đúng khả năng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, phải xem
xét toàn diện các yếu tố, cả vũ khí, trang bị và trình độ chính quy, rèn luyện
kỷ luật của bộ đội; yếu tố con người và khả năng, cùng sự chuẩn bị về tinh thần
để vượt qua những thử thách khốc liệt của chiến tranh và “nhất là trạng thái
tinh thần của nó, nghĩa là có thể đòi hỏi nó những gì mà không sợ làm cho nó
mất tinh thần”. Vì vậy, cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ cơ sở của sức mạnh chính
trị - tinh thần để phát huy vai trò của nó trong xây dựng Quân đội. Theo đó,
phải phát huy được tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa; các điều
kiện và khả năng kinh tế của đất nước; hệ giá trị văn hóa, tinh thần của dân
tộc,... cùng các nhân tố nội sinh từ bên trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội
ta, đặc biệt là yếu tố con người.
V.I.Lênin Người kế thừa các quan điểm duy vật biện chứng của C.Mác,
Ph.Ăngghen về chiến tranh và quân đội, bằng sự phân tích khoa học các cuộc
chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc phát động và cuộc chiến tranh bảo vệ nước Nga
non trẻ chống lại thù trong, giặc ngoài V.I.Lê-nin khẳng định: “Trong mọi cuộc
chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang
đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ
rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố
nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa
từng thấy”.
V.I.Lênin còn chỉ rõ: “Cuộc chiến tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại
thì đòi hỏi phải có nhân lực có chất lượng cao”. Chiến tranh hiện đại càng đòi hỏi phải có con người có chất lượng
cao, cũng như phải có kỹ thuật hiện đại. Không có con người có tinh thần chủ
động và giác ngộ thì không thể thắng lợi trong chiến tranh hiện đại. Bàn về vai
trò, nhiệm vụ của công tác xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần Lênin chỉ rõ: “Ở đâu mà công tác chính trị trong
quân đội, công tác của các chính uỷ làm được chu đáo nhất thì ở đấy không hề có
tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ được trật tự tốt hơn và tinh
thần của họ cũng cao hơn. Ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”.QS
CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CẦN THẬN TRỌNG KHI TIẾP NHẬN THÔNG TIN TRÊN MẠNG INTERNET
Hiện nay trong “ma
trận” thông tin, quan điểm về đủ các vấn đề của xã hội, của đất nước, nếu các
cán bộ, đảng viên không đủ tỉnh táo, không đủ thông tin và thiếu bản lĩnh sẽ dễ
cho rằng những ý kiến đó “đáng suy nghĩ”, “có lý”, thậm chí “cần ủng hộ”. Chẳng
hạn, với một số thông tin về lãnh tụ, biên giới, chủ quyền biển và hải đảo,
quan hệ với một số nước…, vốn có rất nhiều thông tin khác nhau, trong đó có
những thông tin sai lệch, phiến diện, có dụng ý xuyên tạc, vẫn được một số
người viện dẫn cho sự “phản biện” của mình.
Với những
thông tin này, mỗi cán bộ, đảng viên cần lưu ý mấy điểm:
Xác định nguồn gốc
thông tin đó ở đâu? Thông tin đó được lấy từ đâu dĩ nhiên rất quan trọng, bởi có
những thông tin không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ
“nghe nói”, từ những người vốn có thành kiến với Đảng hoặc từ những người đã
mất… Nên khi nguồn gốc thông tin không rõ ràng thì không vội vàng tin vào độ
chính xác của thông tin đó.
Thông tin đó đã được
kiểm chứng chưa? Thông tin được nêu ra nhưng đã có xác nhận từ nơi đáng tin cậy
là chính xác chưa hay chỉ được ai đó nêu lên mà đã vội cho rằng thông tin đó là
đúng đắn? Dĩ nhiên, sự kiểm chứng phải dựa trên các căn cứ khoa học và người
đọc cũng nên đối chiếu với các nguồn thông tin khác để khẳng định tính chính
xác của nó.
Lợi ích của thông tin
đó? Một số người sử dụng phương thức “cắt cúp” để lọc lấy các thông tin có thực
nhưng chỉ là một chi tiết trong một chuỗi sự việc nên thông tin đó chỉ có lợi
cho ai đó. Khi thông tin chỉ có lợi cho người này mà bất lợi cho người kia thì
phải hoài nghi tính chính xác của nó.
Như vậy, mỗi cán bộ,
đảng viên phải có “bộ lọc” và có chủ kiến của mình khi tiếp cận các vấn đề phản
biện của một số người, nhất là những người được “ca ngợi” là “nhà dân chủ”,
“nhà bất đồng chính kiến”… Không nên vội vàng tin ngay vào các ý kiến có vẻ
phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của
thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó…
NÂNG CAO NHẬN THỨC TRONG NHÂN DÂN ĐẨY LÙI ÂM MƯU CHIA RẼ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Cán bộ, nhân dân luôn
là đối tượng các thế lực thù địch hướng tới tác động vào tư tưởng nhận thức
nhằm làm suy giảm niềm tin của họ đối với sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy phải tăng
cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân để người dân miễn nhiễm với âm
mưu xấu độc của kẻ thù. Để làm được điều này, việc đẩy mạnh giáo dục, đào tạo,
nâng cao mặt bằng dân trí có ý nghĩa rất quan trọng. Trình độ dân trí cao sẽ tỉ
lệ thuận với khả năng người dân tìm hiểu, nhận thức đúng chính sách, từ đó thực
hiện đúng và hiệu quả cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó
có chính sách đại đoàn kết, cũng như khả năng cảnh giác trước âm mưu chia rẽ
của các thế lực thù địch. Việc nâng cao dân trí ở đây bao hàm cả tri thức lẫn
lần kỹ năng làm việc, cần đặc biệt lưu ý kỹ năng lao động đối với một số người
thuộc nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, giúp bà con ổn định đời sống,
vươn lên khẳng định bản thân, góp phần thu hẹp sự chênh lệch, khoảng cách giàu
nghèo giữa các hộ, các cộng đồng cư dân, các thành phần dân tộc… điều mà các
thế lực thù địch vẫn thường xuyên lợi dụng để kích động, chia rẽ dân tộc ta.
Hơn nữa, cần tăng cường
công tác tuyên truyềnnâng cao nhận thức, ý thức về sức mạnh đoàn kết và truyền
thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, rằng đất nước Việt Nam là một, dân tộc
Việt Nam là một. Như thế có thể giúphài hoà giữa cái riêng và cái chung, giữa ý
thức tộc người với ý thức quốc gia - dân tộc, chống mọi biểu hiện tư tưởng dân
tộc hẹp hòi, nêu cao trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
ngăn chặn âm mưu chia để trị của các thế lực thù địch. Đồng thời, chú trọng
tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,
phát huy truyền thốngyêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khát vọng vươn
lên vì mục tiêu của cả dân tộc.
Đối với quốc gia đa dân
tộc như Việt Nam, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức người dân tộc
thiểu số, bảo đảm ở mỗi tộc người đều có được một lực lượng trí thức phù hợp,
đại diện cho vị thế, tiếng nói của từng tộc người và là hạt nhân dẫn dắt, định
hướng thái độ chính trị của tộc người đóđối với Đảng và Nhà nước. Như thế vừa
thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước; vừa tạo cơ hội vươn lên, khẳng định
mình của mỗi tộc người, vừa thuận lợi cho công tác phòng ngừa các âm mưu chia
rẽ, phá hoại.
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CỦNG CỐ LÒNG TIN CỦA NGƯỜI DÂN VÀO ĐẢNG
Công tác cán bộ luôn là
:công việc gốc” của Đảng. trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết cần khắc
phục những cập về chất lượng và số lượng của đội ngũ cán bộ trong hệ thống
chính trị, nhất là cấp cơ sở, nhằm khắc phục tình trạng thiếu sót trong việc
triển khai, thực hiện một số chính sách cụ thể, đặc biệt là ở các địa phương
vùng xâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Những năm qua, chính những bất cập,
thiếu sót đó đã bị các thế lực thù địch cố tình thổi phồng, tô vẽ làm cho người
dân từ nghi ngờ đến mất lòng tin.Do đó, cần chú trọng từ khâu tạo nguồn đến
việc bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại cũng như vấn đề quy hoạch, bố trí, sử dụng
đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị hiện nay. Việc tuyển chọn cán bộ phải trên
cơ sở các tiêu chí cụ thể, như lập trường tư tưởng vững vàng; nắm vững chuyên
môn nghiệp vụ, quan điểm chính sách của Đảng và nhà nước; thông thạo tiếng địa
phương; am hiểu thực tiễn, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, truyền
thống lịch sử của các vùng miền, các dân tộc… Đối với quốc gia đa dân tộc như
Việt Nam, phải hết sức quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ là nguời dân tộc thiểu
số đủ mạnh, bảo đảm cả về cơ cấu, số lượng, chất lượng và ngày càng có khả năng
gánh vác nhiều hơn công việc của địa phương.
Việc xây dựng hình
tượng người cán bộ, đảng viên gương mẫu, liêm chính, chí công vô tư, thực sự
tâm huyết với địa phương và với nhiệm vụ được giao hiện cũng đang là vấn đề cấp
bách. Bởi chính tình trạng suy thoái đạo, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng
viênnhững năm gần đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của người dân vào
Đảng và chế độ, nhất là khi vấn đề này bị các hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch lợi dụng, kích động sẽ làm tổn hại đến khối đại đoàn kết. Đại hội
lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của
cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”.Có như thế mới hiện thực
hoá được những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao đời sống
người dân, củng cố niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, tránh bị kẻ xấu kích động,
lợi dụng.
TĂNG CƯỜNG BỒI DƯỠNG CHỦ NGHĨA MÁC –LÊNIN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
Để đấu tranh chống
lại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, việc nâng cao phẩm chất
chính trị, đạo đức cho đội ngũ cán bộ Đảng viên là một trong những nội dung hết
sức quan trọng và cần thiết. Trong giáo dục đội ngũ cán bộ, cần tập trung đổi mới,
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất
là cấp chiến lược; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp nghiên
cứu, giảng dạy, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nâng cao chất
lượng đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo, quản lý; cần
quan tâm chăm lo bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ thực tâm, thực đức, thực tài, không
có biểu hiện tham nhũng, “chạy chức”, “chạy quyền” để giới thiệu cho Đảng chuẩn
bị nhân sự cho đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng; đồng
thời, tăng cường giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh
cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, giúp họ nêu cao tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội; đề cao ý thức cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu
tranh, đập tan âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật
đổ của các thế lực thù địch; không để xảy ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đơn vị, các khu dân cư.
TỈNH TÁO TRONG TIẾP CẬN THÔNG TIN, TRÁNH MẮC MƯU CHỐNG PHÁ CỦA KẺ THÙ
Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch
đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết
liệt, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng
trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân
dân, từng bước chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Chúng tập trung triệt
để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, các blog để truyền bá các quan điểm
sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân với
Đảng, Nhà nước.
Bằng việc sử dụng thông
tin thật giả lẫn lộn, bịa đặt, sử dụng mạng xã hội để tác động, chuyển
hóa người dân Việt Nam. Sản xuất những kênh, những video clip phản động,
chống phá trực diện, cập nhật liên tục trên kênh Youtube, với thủ đoạn
cắt ghép hình ảnh từ các báo chí chính thống và lồng ghép nội dung xuyên
tạc, bịa đặt để đánh lừa, kích động người xem, người đọc, gây phân tâm lớn
trong xã hội.
Ngoài ra các thế lực
phản động còn kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan trong các tôn
giáo; tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở
Việt Nam ; kích động để đẩy mạnh “dân chủ, nhân quyền”, tạo bất ổn về an ninh
chính trị; lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, quan hệ giữa Việt
Nam - Trung Quốc để chống phá. Thâm hiểm hơn, chúng lợi dụng những hạn chế,
khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền một số
nơi để xuyên tạc chống phá nhằm thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc
NẮM VỮNG CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG
- Kiên định và vận dụng, phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây
dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở
các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc
tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và bền
vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó
phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt;
phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là
trọng yếu, thường xuyên.
- Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân
tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức
dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu
hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những
thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng
tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
- Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí
độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội
nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực,
tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người
là quan trọng nhất.
- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai
cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và
sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong
sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất
lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng
lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân
tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất
nước và bảo vệ Tổ quốc.
CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN, KHẢ THI
Trên con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu to lớn. Đánh giá tổng
thể về kết quả của 35 năm tiến hành đổi mới, Đảng ta chỉ rõ: “Đất nước ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang
phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhâp quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng,
an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước
và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ XHCN được phát huy và ngày
càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác
xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy
mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên...; quan hệ đối ngoại ngày
càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế được nâng cao”(9). Những thành tựu đó ngày càng khẳng định sự đúng đắn
trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự nhận
thức và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam.
Những thành tựu tiêu biểu đó là
tiền đề quan trọng để cách mạng Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội; là cơ sở, nền tảng vững chắc để củng cố niềm tin của Nhân dân với
Đảng, với chế độ - nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn,
to đẹp hơn”. Đây cũng chính là minh chứng đầy sức thuyết phục để bác bỏ những
quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Những nguyên nhân khách quan dẫn đến khủng hoàng của CNXH hiện thực Liên Xô và Đôg Âu
-
Nhận thức, lý luận về CNXH và xây dựng CNXH là vấn đề hoàn toàn mới, thực tiễn
xây dựng CNXH chưa có tiền lệ; mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
luôn luôn đặt ra yêu cầu phải đánh giá và vận dụng đúng, sáng lạo lý luận Mác -
Lênin về CNXH và xây dựng CNXH
+ Nếu so với các mô hình tổ chức xã hội có trước đó
thì mô hình xã hội XHCN là một kiểu tổ chức xã hội hoàn toàn mới, chưa có tiền
lệ.
+ Bản thân các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin mới dự báo những nét cơ bản ban đầu (Xóa bỏ chế độ tư hữu; thời kỳ quá
độ; phân phối). Mặt khác, giữa lý luận và thực tiễn luôn luôn có khoảng cách lớn:
có những quan điểm Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH cho đến nay vẫn còn giữ
nguyên giá trị; có những quan điểm cần nhận thức lại, nhận thức cho đúng.
+ Trong quá trình xây dựng CNXH, các nước vận dụng
máy móc, chủ quan, duy ý chí, không tổng kết thực tiển, phát triển lý luận
+ Nguyên nhân khách quan này là một thực tế đòi hỏi
phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận đề có được
nhận thức đúng, phù hợp khi xây dựng với tư cách là một chế độ xã hội hiện
thực.
-
Các xu thế mới nảy sinh trong thời đại đã tác động lớn đến đời sống chính trị -
xã hội thế giới, đến sự tồn vong của CNXH hiện thực
+ Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế trờ thành xu thế
lớn lôi cuốn hầu hết các quốc gia - dân tộc tham gia, với những cơ hội và thách
thức lớn.
+ Các xu hướng khác như dân chủ hoá đời sống xã hội,
đa phương hoá các quan hệ quốc tế đi kèm với những xung đột sắc tộc, tôn giáo,
tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, biển đảo v.v... đều tác động không nhỏ đến thể
chế chính trị ở nhiều quốc gia, trong đó rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực tác động
đến chế độ chính trị XHCN ở nhiều nước.
+ Những tác động từ khoa học, công nghệ, các xu thế
lớn của thời đại đều diễn mạnh mẽ với những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối
với CNXH hiện thực.
-
Sự chống phá điên cuồng của các thế lục thù địch
+ Việc tồn tại song song hai thể chế chính trị: CNXH
và chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự chống phá điên cuồng của các thế lục thù địch
của CNXH trên thế giới. Thời kỳ "chiến tranh lạnh" là thời kỳ mà chủ
nghĩa tư bản hiện đại với mọi toan tính thâm độc muốn xoá bỏ CNXH hiện thực.
Rất nhiều âm mưu, thủ đoạn từ các nước tư bản lớn, nhất là từ Mỹ đã được thực
hiện để thay đối tương quan lực lượng giữa "hai phe", hai thể chế
chính trị trên thế giới.
+ Trong rất nhiều âm mưu, thủ đoan chống phá CNXH
hiên thực có chiến lược "diễn biến hoà bình" đã được Mỹ và nhiều nước
tư bản chủ nghĩa sử dụng và gây hậu quả nghiêm trọng đối với hệ thống CNXH thế
giới. Chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các nước đế quốc thực hiện
đã góp phần đẩy nhanh quá trình khủng hoảng và đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô
và các nước Đông Âu.
Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
- Kết
hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách và từng bước phát triển.
- Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa,
xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội
sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao
lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm
phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam.
- Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi phát triển
giáo dục, đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu.
- Phát triển khoa học công nghệ thực
sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần
tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế;
nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng.
- Quan tâm thực hiện các chính sác xã hội vì hạnh phúc của con người, coi
đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng là
khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao đời sống vật chất
của mọi thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa
bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm
mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước gỉam 1,5-2%/ năm. Giảm nghèo
của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều
tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác
sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hoàn thiện hệ thống an sinh xã
hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm
như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp..
Thực tiễn xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam
Từ khi có Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc được
xây dựng ngày càng rộng rãi, bền vững, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong
đường lối chiến lược của Đảng, một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của
cách mạng Việt Nam.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta luôn coi trọng việc xây
dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhất là trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”
Trong “Chính cương”, “Sách lược tóm tắt”, Đảng ta nêu chủ trương đoàn
kết rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân. Ngay sau khi Đảng ra đời đã
chỉ đạo tổ chức thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương, Mặt trận Việt Minh với
mục tiêu đoàn kết các tầng lớp nhân dân đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập, tự
do cho dân tộc. Với đường lối đúng đắn sáng tạo đó, Đảng ta đã phát động toàn
thể dân tộc Việt Nam tiến hành tổng khởi nghĩa, đập tan ánh thống trị của chủ
nghĩa thực dân, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Trong kháng chiến chống Pháp, để đánh thắng những đội quân
xâm lược lớn của chủ nghĩa đế quốc, Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của toàn dân,
phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Theo đó, Đảng ta chủ trương thực
hiện kháng chiến toàn dân gắn liền với kháng chiến toàn diện. Với chiến lược
đó, Đảng đã tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận "cả nước
đánh giặc". Điều kiện chủ yếu để quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến
là huy động cho được sức mạnh toàn dân. Trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến", Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ
người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng.
Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng
phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước"[1]. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là
lời hiệu triệu, động viên, cổ vũ toàn thể các giai cấp, các tầng lớp xã hội,
các nhân sĩ yêu nước trong khối đoàn kết dân tộc đều cùng góp sức người, sức
của cho kháng chiến.
Đảng ta đã chỉ rõ, nhiệm vụ cấp bách trước mắt của cuộc
kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất
đất nước. Đảng ta sớm xác định được mục tiêu chính trị đúng đắn. Đó là điều cơ
bản nhất để thực hiện toàn dân kháng chiến. Với đường lối kháng chiến toàn dân,
toàn diện, ta đã tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng thực dân Pháp xâm
lược và cũng chính trong lòng cuộc kháng chiến, chế độ dân chủ nhân dân được
xây dựng và củng cố.
Trong kháng chiến chống Mỹ
Có thể nói, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một bức
tranh đại đoàn kết dân tộc rất sinh động. Toàn thể dân tộc Việt Nam đã kết
thành một khối vững chắc không gì có thể phá vỡ nổi, trong đó, Đảng, lực lượng
vũ trang và toàn thể nhân dân luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhau. Đảng tin
vào dân, dân tin vào Đảng; quân với dân một ý chí, cả nước đồng lòng, toàn dân
ra trận, tất cả vì mục tiêu quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Để phát huy được
sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
Đảng ta chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền (Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam - tháng 9 năm 1955; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam - tháng 12 năm 1960), lấy liên minh công nông làm nền tảng, dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
Chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở hai miền
với những mục tiêu, thành phần, phương thức hoạt động phù hợp với nhiệm vụ cách
mạng của mỗi miền là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Chủ trương đó thể hiện sự thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng
Việt Nam; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mặt trận dân tộc thống nhất trên cả hai miền đã thực sự tập hợp,
động viên được mọi lực lượng, mọi cá nhân có ý thức dân tộc, có tinh thần yêu
nước, chống Mỹ, tham gia vào cuộc chiến đấu cho mục tiêu chung là đánh thắng
hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
đã khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết dân tộc. Sức mạnh đó có
cội nguồn từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua
mấy ngàn năm lịch sử. Với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, tiến hành đồng
thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và
cách mạng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã động viên đến mức cao nhất lực lượng nhân dân cả nước, kết
hợp tiền tuyến lớn miền Nam với hậu phương lớn miền Bắc, kết hợp sức mạnh của
dân tộc với sức mạnh của thời đại, gắn đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế,
tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Xác định những ưu tiên trọng điểm trong chính sách và các chương trình phát triển KT-XH ở Việt Nam
Ủy ban dân tộc xác định cần tiếp tục đổi mới
côngtác dân tộc, hệ thống chính sách dân tộc một cách toàn diện. Ban hành chính
sách tiếp tục hỗ trợ phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội vùng DTTS và miền núi,
ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; xác định một số chỉ tiêu để tập trung
lồng ghép ư tiên bố trí nguồn lực, phấn đấu đạt được các mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ đối với đồng bào DTTS làm cơ sở hướng tới mục tiêu phát triển bền
vững, góp phần phát triển toàn diện KT-XH, giảm nghèo nhanh, bền vững, rút ngắn
khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, các vùng. Tập trung quán triệt sây
sắc, triển khai thực hiện quyết liệt, phấn đấu thực hiện thắng lợi nội dungNghị
quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác dân tộc “Bảo đảm các dân tộc bìnhđẳng,
đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bố xử dụng…”
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong gần 30 Năm đổi mới
Đảng ta đã quyết
định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của
thời kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức
tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.
Từng bước hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập
môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản
xuất.
Phát triển kinh tế là
nhiệm vụ trung tâm; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ
cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, coi trọng phát triển các ngành công nghiệp
nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế;
phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất
lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.
Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền;
thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện
phát triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng nền kinh tế
độ lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong giai đoạn 2001-
2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Tổng sản phẩm
trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với
năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168
USD, năm 2014 là 1900 USD/ người.
Trong 5 năm
2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái kinh tế
toàn cầu nên nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ
tăng GDP bị giảm sút. Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt
5,8%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt
gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra. Tổng vốn ODA cam kết đạt trên
31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8
tỷ USD, vượt 17,5%. Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông
nghiệp giảm xuống. Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%,
khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6%. Kết cấu hạ tầng
ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng
tăng lên ( năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Nợ công trong giới hạn cho phép và có xu hướng giảm[3]. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng
ký mới, bổ sung và mua cổ phần trong 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3%; vốn
FDI thực hiện đạt kỷ lục 12,5 tỷ USD, tăng 13,4%. Thị trường chứng khoán vượt
800 điểm, cao nhất kể từ năm 2008 (ngày 20/10/2017 đạt 826,84 điểm); mức vốn
hóa đạt trên 93% GDP[4]; đưa thị trường chứng khoán phái sinh vào
hoạt động. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm khoảng 33,4% GDP, tăng 12,6%.
Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu tăng 20%, trong đó rau
quả tăng 43,4%, hạt điều tăng 25,6%, thủy sản tăng 19,8%; điện tử, máy tính và
linh kiện tăng 41,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,7%; điện thoại
và linh kiện tăng 23,6%[5]. Nhập khẩu tăng 22,7%; xuất siêu 328 triệu
USD. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương
mại được tăng cường.
Trong 9 tháng có
gần 94 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 15,4%; tổng vốn đăng ký tăng
43,5%; có trên 21 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tổng vốn đăng ký mới và
bổ sung đạt 2,1 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Phần lớn doanh nghiệp
đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn[6]. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng
năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017 - 2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137
quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 6,41%[7], ước cả năm đạt 6,7%. Đạt được kết quả này
là nhờ cả 3 khu vực tăng trưởng khá đồng đều: Nông nghiệp tăng 2,78% (gấp hơn 4
lần cùng kỳ), trong đó thủy sản tăng cao 5,42%; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
ước cả năm đạt 35 tỷ USD. Công nghiệp và xây dựng tăng 7,17%, trong đó ngành
chế biến, chế tạo tăng 12,8%. Khu vực dịch vụ tăng 7,25%, cao nhất kể từ năm
2008. Thu hút khách du lịch đạt kỷ lục, khách quốc tế đạt 9,45 triệu lượt, ước
cả năm 13 triệu lượt, tăng 30%; khách trong nước đạt 57,9 triệu lượt, ước cả
năm 75 triệu lượt, tăng 12%.
GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận,
chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:
Một là, quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp
tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm
vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc
của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm
của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính
nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng,
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng;
kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”,
trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội
dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối
tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các
thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại
chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông
thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để
tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền
thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên in-tơ-nét và mạng xã hội. Khẩn
trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian
mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.
Ba là, tăng
cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc”
nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các
trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung
đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén,
“chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất
nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước
giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận
trên in-tơ-nét.
Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống
luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý
nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng
luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập
trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ
trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự
đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn,
bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ
sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những
vấn đề lý luận mới về: chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng, Nhà
nước và hệ thống chính trị, quốc phòng, an ninh trong tình hình mới... Nghiên
cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết
mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng
thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới,
để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện
dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích,
xuyên tạc tình hình trong nước.
Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức,
cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch,
vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân,
nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng,
từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng
lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc.
Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận
có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên
gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế
cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người
tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng
tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia
sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích
xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch./.
TMT 06.4
THÀNH PHẦN PHẢN BỘI CÁCH MẠNG LÀ AI
Đây là những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hoặc là những quần chúng được cử đi đào tạo,
bồi dưỡng ở nước ngoài nhưng bị lôi kéo, mua chuộc quay lưng lại chống Đảng,
chống chế độ. Điều nguy hiểm ở lực lượng này là đa số họ nắm chắc về lý luận
chính trị, thực tiễn cách mạng Việt Nam. Một bộ phận trong số họ đã từng giữ
cương vị trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đất nước nên nắm được những sai
lầm, khuyết điểm của chúng ta. Quan điểm của họ thường được ngụy trang, núp
bóng dưới những kiến nghị, đề xuất, sáng kiến canh tân, cải tổ đất nước, vì vậy
dễ được quần chúng tin tưởng.
Đây là lực lượng nguy hiểm nhất, chúng ta cần nghiên cứu
sâu về năng lực, sở trường của từng phần tử chống đối. Phải có lực lượng theo
dõi thường xuyên, kịp thời đấu tranh bằng những luận chứng, luận cứ thuyết
phục, sắc bén cùng với các biện pháp công nghệ, kỹ thuật để phong tỏa thông
tin, gắn với làm rõ thân nhân, biểu hiện suy thoái, cơ hội để cán bộ, đảng viên
sớm biết rõ bộ mặt thật của họ./.
TMT 06.4
KẺ
THÙ GIAI CẤP
Nền tảng tư tưởng của chúng ta là hệ tư tưởng của giai cấp vô
sản, như vậy những người theo hệ tư tưởng tư sản sẽ chống đối là điều tất
yếu. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng, mang tính chiến
lược lâu dài. Việc giai cấp tư sản huy động các nhà tư tưởng, lý luận để đưa
những quan điểm sai trái, thù địch là không cần phải bàn cãi. Vì vậy, chúng ta
không hoang mang và nôn nóng trong cuộc đấu tranh này. Mặt khác, đây là cuộc
đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực tư tưởng trên phạm vi toàn cầu nên giai cấp
tư sản đã có chiến lược, có bộ máy, con người, lộ trình, thủ đoạn, kinh phí,
phương tiện dồi dào, hiện đại để chống phá.
Vì vậy, chúng ta phải nâng tầm cuộc đấu tranh này lên tầm chiến
lược, phải đấu tranh ở tầm trí tuệ, tầm lý luận, học thuyết. Một mặt, chúng ta
không dao động, không nhân nhượng, luôn kiên định mục tiêu lý tưởng mà chúng ta đã lựa chọn./.
TMT 06.4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực
thuộc đã ban hành quyết định thành lập ban chỉ đạo, tổ thư ký, nhóm chuyên gia,
nhóm cộng tác viên, thành lập các trang, nhóm Facebook phục vụ đấu tranh, phản
bác. Hầu hết các huyện, thành ủy đã thành lập ban chỉ đạo, lập trang, nhóm trên
mạng Facebook triển khai nhiệm vụ đấu tranh, phản bác... Để nâng cao hiệu quả
công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm
sai trái, thù địch trên mạng xã hội, nhất là Facebook, thời gian tới, chúng ta
cần phải thực hiện một số giải pháp như sau:
Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, chú
trọng tuyên truyền Luật An ninh mạng; các quy tắc ứng xử trên môi trường mạng
xã hội.
Hai là, thường xuyên cung cấp thông tin có định hướng cho cán bộ,
đảng viên và các tầng lớp nhân dân qua kênh báo cáo viên, tuyên truyền miệng, báo
chí, truyền thông, sinh hoạt chi bộ định kỳ hằng tháng.
Ba là, tập huấn định kỳ hoặc đột xuất cho cán bộ tuyên giáo, đội
ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhất là các đồng chí trực tiếp tham gia Ban
Chỉ đạo 35 các cấp; các đồng chí tham gia quản trị, biên tập tin, bài của các
trang, nhóm trên Facebook…; cập nhật tình hình mới về các hoạt động chống phá,
nâng cao kỹ năng, trình độ quản trị.
Bốn là, đổi mới nội dung và phương thức tuyên truyền nội dung bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù
địch trên mạng xã hội theo hướng giảm tính “hàn lâm, kinh viện”, tăng tính
“thường thức”, gần gũi, dễ tiếp cận với đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng
lớp nhân dân để tăng tính tương tác, khắc phục tình trạng “chủ yếu nội bộ đảng
viên”, hoặc “lực lượng chuyên trách” tương tác với nhau, đối tượng cần được
“giác ngộ” thì chưa được tiếp cận nhiều.
Năm là, khi xuất hiện các vụ việc, sự kiện “nóng, nhạy cảm” cần
tích cực, khẩn trương, chỉ đạo thống nhất, đồng loạt công tác đấu tranh phản
bác trên mạng xã hội và các công cụ truyền thông, gần đây có thể kể đến: Công
tác phòng, chống dịch COVID-19, vấn đề tiêm vaccine, vấn đề phức tạp liên quan
đến tình hình ở Cu Ba…
Sáu là, kịp thời phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ
giỏi, có năng lực tham gia viết bài đấu tranh, phản bác có hiệu quả cao trên
mạng xã hội.
Bảy là, hoàn thiện các khuôn khổ pháp lý về mạng xã hội phù
hợp với luật pháp, thông lệ quốc và văn hóa, luật pháp của Việt Nam./.
TMT 06.4
PHÁT HIỆN KỊP THỜI, XỬ LÝ DỨT ĐIỂM CÁC ĐIỂM NÓNG DIỄN RA HIỆN NAY.
Trước hết cần tập trung giải quyết những vấn đề hiện đang bức xúc hiện nay, như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, khiếu kiện liên quan đến tôn giáo, đất đai hay tình trạng thiếu lương thực, thiếu đất sản xuất, nhà ở tạm bợ, nhất là ở vùng dân tộc và miền núi…đề phòng những phần tử phản động, lợi dụng để kích động người dân gây mất ổn định an ninh xã hội, ảnh hưởng đếnkhối đại đoàn toàn dân tộc.Ngoài ra, thường xuyên thăm hỏi, nắm bắt tình hình, tâm tư của bà conđể sớm phát hiện và có giải pháp kịp thời, tháo gỡ những vướng mắc.
Khi xuất hiện điểm nóng, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân
đểphân loại, từ đó đánh giá mức độ, phạm vi ảnh hưởng và đưa ra biện pháp giải
quyết phù hợp, dứt điểm, không để lâylan rộng, tạo cớ cho các thế lực thù địch
lợi dụng. Đặc biệt, xử lý nghiêm minh những hành vi chia rẽ nội bộ, phá hoại
gây bất ổn về chính trị - xã hội và tổn hại đến khối đại đoàn kết theo đúng quy
định của pháp luật. Để làm tốt vấn đề này cần chú trọng củng cố và phát huy
hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng cơ sở, xây dựng lực lượng cốt cán, đồng
thời lưu ý các kênh thông tin từ phía người dân để có thể nắm bắt tình hình
nhanh và chính xác. Dự báo những tình huống phức tạp, kịp thời phát hiện những
nguy cơ có thể xảy ra điểm nóng để chủ động ngăn chặn.
Có thể nói, sự nghiệp xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam luôn đi liền với công tác đấu tranh chống âm
cácmưu chia rẽ, phá hoại. Trong cuộc chiến này, Đảng ta đã xác định: “chủ động
phòng ngừa là chính”.Nhờ quan điểm đúng đắn ấy cùng với sự nỗ lựccủa toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân, toàn bộ hệ thống chính trị, nhiềunguy cơ, mầm mốngcho âm
mưu chia rẽ của các thế lực thù địch từng bước bị đẩy lùi.Khối đại đoàn kết
toàn dân tộcViệt Nam ngày càng củng cố và mở rộng, phát huy mọi nguồn lực trong
công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
TMT 06.4