Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Ba (6-1992), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Sáu (12-1993) và Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1-1994) xác định, cách mạng nước ta đang phải đối phó với 4 nguy cơ lớn: Một là, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; Hai là, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; Ba là, tệ tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác. Bốn là, "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Tiếp đó, các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001), Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám khoá IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đến nay, trong văn kiện Đại hội XIII, văn kiện hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, đều khẳng định tồn tại 4 nguy cơ đó đối với cách mạng Việt Nam; đồng thời xác định chống "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sở
dĩ Đảng ta khẳng định "diễn biến hoà bình" là một nguy cơ đối với
cách mạng Việt Nam là vì:
Một là, do bản
chất, âm mưu và thủ đoạn thâm độc, tính chất cực kỳ nguy hiểm của chiến lược
"diễn biến hoà bình" chống chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch.
Chiến
lược "diễn biến hoà bình" là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu
phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm tiến công
phong trào cách mạng thế giới, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa. Bản chất
của chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc là phản động, phản cách mạng, chống cộng, chống
chủ nghĩa xã hội; tính chất của nó là cực kỳ nguy hiểm. "Diễn biến hoà
bình" chống các nước xã hội chủ nghĩa được coi như là một cuộc "chiến
tranh không có khói súng" nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…
Tính
chất cực kỳ nguy hiểm của chiến lược "diễn biến hoà bình" chống chủ
nghĩa xã hội được thể hiện ở chỗ, bằng phương thức "phi vũ trang" là
chủ yếu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch có thể làm tan rã đảng cộng
sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở một nước hay nhiều nước trong hệ thống xã hội
chủ nghĩa một cách từ từ, "êm thấm" mà không phải sử dụng chiến tranh
vũ trang. Trận địa tiến công trong chiến lược "diễn biến hoà bình" là
tư tưởng, văn hoá, ngoại giao, kinh tế, chính trị với sự hỗ trợ, răn đe và hậu
thuẫn của sức mạnh quân sự.
Trong
quá trình tiến hành "diễn biến hoà bình" chống các nước xã hội chủ
nghĩa, các thế lực chống cộng thường che đậy bản chất, âm mưu thâm độc của
chúng. Bản chất, âm mưu thâm độc đó được núp dưới bình phong "phương pháp
hoà bình" khó nhìn thấy nên làm cho đối phương dễ mơ hồ, ngộ nhận, mất
cảnh giác cách mạng, chủ quan, khinh địch, không có ý thức đề phòng, ngăn chặn,
do đó phải chịu các hậu quả to lớn không thể khắc phục; khi nhận ra bản chất,
âm mưu, thủ đoạn thật của chiến lược "diễn biến hoà bình" thì quá
muộn, khó có thể cứu vãn.
Hai là, từ hậu
quả của việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa
đế quốc chống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trong mấy chục năm
qua.
Chiến
lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc chống Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa được hình thành từ những năm 47-48 của thế kỷ XX. Cùng
với các hình thức khác của Chiến tranh lạnh như: cấm vận kinh tế, chạy đua vũ
trang, thiết lập vành đai bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, can
thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ nhiều nước, kể cả can thiệp quân sự, chiến
lược "diễn biến hoà bình" của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho Đảng Cộng
sản ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mất quyền lãnh đạo xã hội; Nhà nước xã
hội chủ nghĩa mất hiệu lực quản lý; quân đội xã hội chủ nghĩa bị "phi
chính trị hoá", mất phương hướng chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu,
trở thành công cụ chống Đảng trong tay những phần tử cơ hội chính trị; Nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa bị suy sụp, đời sống của nhân dân hết sức khó khăn, xã hội
rối loạn kéo dài, chế độ xã hội chủ nghĩa tự sụp đổ nhanh chóng; Thành quả của
chủ nghĩa xã hội, của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại phút chốc bị rơi vào tay
các thế lực chống chủ nghĩa xã hội.
Nguyên
nhân của sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu có một
phần quan trọng là do sự chống phá điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc với nhiều
âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, trong đó đặc biệt nguy hiểm là các âm
mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình".
Điều
cần chú ý là, bằng các hình thức và biện pháp "diễn biến hoà bình",
tác động từ bên ngoài là chính, chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra sự "tự diễn
biến" ngay trong nội bộ Đảng, Nhà nước, quân đội và hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa, làm cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tự tan
rã, tự sụp đổ một cách "hoà bình".
Sự
sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm 90 - 91
của thế kỷ XX là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, nó để lại hậu quả to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, cho phe xã
hội chủ nghĩa. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là
bài học cảnh tỉnh đối với các Đảng Cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa, đối với
các quốc gia độc lập có chủ quyền đang đấu tranh cho mục tiêu độc lập, tự do,
hoà bình và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Phân
tích sâu sắc nguyên nhân sụp đổ của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng ta đã rút ra bài học quan trọng về
đề cao cảnh giác cách mạng, về kết hợp xây dựng với bảo vệ chủ nghĩa xã hội,
bảo vệ thành quả cách mạng, lấy tự bảo vệ làm chính, đồng thời xác định chiến
lược "diễn biến hoà bình" là một trong những nguy cơ lớn đối với cách
mạng Việt Nam.
Ba là, từ âm
mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" chống Việt Nam của chủ nghĩa đế
quốc.
Sau
khi giành "thắng lợi" bằng "diễn biến hoà bình" ở Liên Xô
và Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tập trung chống phá các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại bằng chiến lược "diễn biến hoà bình"
với sự kết hợp và hậu thuẫn đắc lực của răn đe quân sự, trong đó, Việt Nam được
coi là một trọng điểm.
Âm
mưu cơ bản, lâu dài chống Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc thông qua chiến lược
"diễn biến hoà bình" là làm mất vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị-tinh thần của nhân dân
Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã
hội, làm chệch hướng và tụt hậu nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, "phi chính trị hoá" quân đội và công an, vô hiệu
hoá các lực lượng vũ trang, làm mất ổn định xã hội trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt
về chính trị, tư tưởng, niềm tin, làm cho Việt Nam "tự diễn biến"
theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, "tự biến chất" chế độ mà không cần sử
dụng chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Các thủ đoạn "diễn biến hoà
bình" thường được chúng kết hợp với các hình thức "bạo loạn lật
đổ" để giành chính quyền hoặc phát động chiến tranh xâm lược như chúng đã
từng làm ở Irắc, Nam Tư, Apganistan.
Chủ
nghĩa đế quốc tiến hành "diễn biến hoà bình" đối với Việt Nam, coi
Việt Nam là một trọng điểm chống phá, vì nếu đánh thắng Việt Nam bằng
"diễn biến hoà bình", trong "hoà bình" thì các thế lực hiếu
chiến, phản động, chống Việt Nam mới rửa được "nhục" thất bại trong
chiến tranh xâm lược trước đây; mới lấy lại được "uy thế" cường quốc
đế quốc. Đánh bại được Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch có
thể tạo thế mới, thời cơ thuận lợi mới trong việc chống phá các nước xã hội chủ
nghĩa khác, các quốc gia độc lập, tiến bộ khác ở Đông Nam Á và trên thế giới.
Nguy
cơ "diễn biến hoà bình" chống chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam đã quá rõ ràng. Tuy nhiên, sự tác động cũng như các hậu
quả của nó đến mức độ nào lại phụ thuộc vào khả năng đấu tranh của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta. Nếu toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đồng tâm nhất
trí, đề cao cảnh giác, chủ động phòng ngừa và đấu tranh với những hình thức phù
hợp thì nhất định đẩy lùi được nguy cơ "diễn biến hoà bình" của chủ
nghĩa đế quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia và chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.
PHAO







