Thứ Ba, 17 tháng 5, 2022

Vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Ngày 16/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đây là một bài viết rất quan trọng, không chỉ trực tiếp phản bác những quan điểm sai lầm, phiến diện, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn khẳng định sự lựa chọn của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với quy luật khách quan. NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong Thông điệp Liên bang năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác. Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Đúng như bài viết của đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: “Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá”(1). Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu: Một là, những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội. Hai là, những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người. Thực tiễn cho thấy xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”(2). Họ cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”(3)... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa”(4); rằng, “con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”; hay đó chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”(5). Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chính những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế. Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30 năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác nói riêng. Ở Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”, không tuân theo quy luật mà C.Mác đã từng khẳng định: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Như vậy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để các học giả phương Tây nắm lấy để công kích, xuyên tạc, lý luận của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa xã hội. Điều này gây ra sự dao động, hoài nghi của không ít người Việt Nam, trong đó có cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa Mác, ủng hộ, thậm chí tôn thờ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đó là biểu hiện của xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta luôn nhắc đến trong những năm gần đây. SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Đại hội XIII của Đảng Chúng ta không thể phủ nhận một hiện thực là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”(6); “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(7). Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”(8). Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hành trình trong cả nhận thức và bước đi, trong cả tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển. Bài viết đã cô đọng, khái quát lại những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Bài viết còn nhấn mạnh lại những vấn đề cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở Đại hội IX, Đảng ta đã đưa ra nội hàm rất cụ thể, rõ ràng về việc “bỏ qua” : “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo sự biến đổi về chất của xã hội trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”(9). Tuy nhiên, phần là do mơ hồ về nhận thức, song cũng phần lớn do có tư tưởng chống phá, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo, xuyên tạc về việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng “việc Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là chủ quan, duy ý chí, trái với quy luật khách quan”(10). Vì vậy trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định rõ ràng thêm: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”(11). Luận điểm này không chỉ tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quan điểm của Đảng ở Đại hội IX mà đề ra nguyên tắc quan trọng trong việc kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong xây dựng ở Việt Nam. Đó là phải dựa trên quan điểm khoa học và phát triển. Bài viết cũng đã chỉ ra những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả những phương diện mà nước ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành đổi mới, đặc biệt là những kết quả, thành tích đặc biệt mà Việt Nam đã đạt được trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2020. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định lại nhận định của Đại hội XIII khi đánh giá những kết quả mà đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được qua 35 năm đổi mới và 3o năm thực hiện Cương lĩnh 1991: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Từ việc nhận định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”(14), bài viết đã chỉ ra những cách thức, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo đồng chí Tổng Bí thư, điều quan trọng nhất là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Ngoài ra, cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Luận điểm này của đồng chí Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm, làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đại hội XIII về việc kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn mới: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(15).Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới phải đối mặt trong quá trình phát triển đất nước. Bài viết khẳng định những hạn chế, khuyết điểm đó là không thể tránh khỏi nên “cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả”(12). Qua bài viết, đồng chí Tổng Bí thư vẫn tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, thành công hay thất bại phụ thuộc phần lớn vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”(13). Đây là một luận điểm quan trọng đã chỉ ra cách thức, nguyên tắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để cho những nhân tố đó ngày càng chiếm ưu thế và đi đến chiến thắng trong các mặt của đời sống xã hội. Để làm được điểu đó cần phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra trong bài viết. Đó không chỉ là kết quả của quá trình phát triển lý luận mà còn cả tổng kết thực tiễn từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây. Có thể khẳng định, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, tư tưởng về những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII, vừa trực diện đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh, tỏa sáng những giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đúng như bài viết khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tuy còn rất lâu dài với nhiều khó khăn, thử thách; các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Mặt khác, các thế lực thù địch lại thường xuyên phủ nhận, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. Chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn luôn là tương lai của lịch sử loài người./.

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Thực tiễn và kinh nghiệm

Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Thực tiễn và kinh nghiệm Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng nhằm giữ vững bản chất cách mạng và khoa học của Đảng và luôn luôn gắn liền với xây dựng Đảng về chính trị, tổ chức và đạo đức, gắn liền với nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Thực tiễn lịch sử của quá trình đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã để lại nhiều kinh nghiệm quý, hữu ích cho hiện nay. 1. Thực tiễn lịch sử quá trình đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sáng lập năm 1930, có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành độc lập cho dân tộc và phát triển đất nước theo con đường XHCN. Từ khi thành lập, Đảng đã được xây dựng và hoạt động dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng mang giá trị khoa học và hiện thực đó bảo đảm cho Đảng hoạch định Cương lĩnh, đường lối đúng đắn và hiện thực hóa thành công những mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ chính trị, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sớm xác định nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng, ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa Tờrốtxky và những phần tử tơrốtxkít phá hoại phong trào cách mạng các nước, trong đó có cách mạng Việt Nam. Vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX, xuất hiện chủ nghĩa xét lại tiến công vào giá trị khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và kiên trì đấu tranh, phê phán chủ nghĩa xét lại và mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và ở các nước XHCN. NQTƯ 9 khóa III (12-1963) của Đảng “Về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng” là đóng góp quan trọng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng với lập trường rõ ràng và với phương pháp đấu tranh, phê phán thích hợp. Ở trong Đảng khi đó cũng có một số cán bộ, đảng viên đã nhận thức và hành động trái với quan điểm trong NQTƯ 9 khóa III của Đảng; có người rời bỏ Đảng, được cử đi học và tìm cách ở lại nước ngoài. Số đó là rất ít. Đảng đã tạo được sự thống nhất vững chắc về tư tưởng, lý luận, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, hoàn thành giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Nửa cuối thập niên 80, chủ nghĩa xét lại và cơ hội một lần nữa gây ảnh hưởng xấu, tổn thất lớn trong các nước XHCN. Những người xét lại đã nắm quyền lãnh đạo ở các nước XHCN và dẫn các nước XHCN tới sự khủng hoảng toàn diện, sâu sắc chưa từng có và làm tan rã chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm 1989-1991. Vẫn thủ đoạn phủ định và coi chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời để xóa bỏ con đường XHCN, phá tan những thành quả to lớn của CNXH đã được xây dựng. Từ phá hoại nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng để phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, truyền bá chủ nghĩa đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng. Đề cao dân chủ tư sản với chiêu bài dân chủ hóa, công khai hóa. Phủ nhận những thành quả cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo và chế độ XHCN mang lại. Với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã sớm nhận thấy những diễn biến tiêu cực của các Đảng và các nước XHCN, nên đã chủ động phòng ngừa những ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nhất là trong và sau dịp kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1987). Cũng cần thấy rõ một sự thật khi hệ thống CNXH thế giới lâm vào khủng hoảng đã có một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp hoang mang, dao động muốn ngả theo hướng đi khác. Các thế lực phản động ở trong nước ra sức phá hoại và chờ thời cơ thực hiện hành động lật đổ. Thế lực thù địch lưu vong ra sách, báo, lập đài phát thanh chống cộng, thực hiện chiến dịch “chuyển lửa về quê nhà” hy vọng “diễn biến hòa bình” sẽ diễn ra ở Việt Nam. Sự chủ động trong đấu tranh và phòng ngừa thể hiện rõ trong NQTƯ 6 khóa VI (3-1989) của Đảng đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, bảo đảm cho đổi mới đúng hướng, đúng mục tiêu và có hiệu quả. Nguyên tắc hàng đầu là khẳng định đi lên CNXH là con đường tất yếu, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân Việt Nam. “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”. “Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta” (1). Đảng nhấn mạnh nguyên tắc về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, “Phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng”. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực, nhưng “Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng, mặt khác phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ”. Những nguyên tắc đó đã bảo đảm sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng trước những diễn biến phức tạp của quốc tế và trong nước. Đó cũng là định hướng rất quan trọng và là vũ khí đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, chỉnh đốn những nhận thức lệch lạc của một số cán bộ, đảng viên. Những nguyên tắc đó đến nay vẫn nguyên giá trị và để lại kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng hiện nay. Tháng 8-1989, HNTƯ 7 khóa VI của Đảng ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”. Trung ương đã nhận định 6 điểm về những sai lầm trong cải tổ, cải cách của một số đảng về thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, dân chủ hóa không giới hạn, hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận thành tựu của lịch sử, của CNXH. “Không lãnh đạo chặt chẽ các phương tiện thông tin đại chúng, để cho báo, đài tùy tiện thông tin và phát biểu những quan điểm sai trái, tạo ra sự hỗn loạn về tư tưởng” (2). Từ những vấn đề sai lầm của các Đảng, các nước XHCN mà Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời chỉnh đốn nhận thức và biện pháp. Đó cũng là kinh nghiệm thật sự có ý nghĩa cho các năm tháng tiếp theo và hiện tại. NQTƯ 7 khóa VI của Đảng nhấn mạnh: “Giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của Đảng” (3). Đảng giữ nghiêm kỷ luật, kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo cao cấp làm trái nguyên tắc và định hướng tư tưởng của Đảng. Vượt qua thách thức hiểm nghèo, Đảng giữ vững nền tảng tư tưởng và kiên định đường lối đổi mới với những thành tựu bước đầu quan trọng đã bảo đảm ổn định chính trị và cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển theo con đường đã lựa chọn. Đảng Cộng sản Việt Nam và đất nước Việt Nam trong những năm 1989-1991 không có bất cứ một sự rối loạn, biến động nào. Đại hội VII (6-1991) của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định dứt khoát con đường XHCN và Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Toàn bộ mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng hướng vào làm sáng tỏ và sâu sắc hơn bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính tất yếu của con đường XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu thù địch. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng đồng thời nêu rõ ý chí đấu tranh đối với những gì đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học đó. Thập niên 90 chứng kiến nhiều biến động lớn trên thế giới. Không còn tồn tại phe XHCN nhưng vẫn có những nước kiên định con đường XHCN, trong đó có Việt Nam và tiếp tục phát triển với những thành tựu quan trọng. Chiến tranh lạnh chấm dứt năm 1991, từ thế giới 2 cực (Mỹ và Liên Xô) chuyển sang thế giới đa cực, từ đối đầu sang đối thoại, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ. Nhiều vấn đề mới đặt ra trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH với những đặc điểm mới của thời đại. Với Cương lĩnh năm 1991 thể hiện rõ sự đổi mới tư duy lý luận, phát triển nhận thức, song vẫn còn nhiều vấn đề phải tổng kết từ thực tiễn làm rõ cơ sở khoa học có tính thuyết phục. Các thế lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Đông Âu, Liên Xô tuyên bố sự cáo chung của CNXH, của lý luận Mác-Lênin và đòi Đảng Cộng sản từ bỏ vai trò lãnh đạo, đẩy mạnh chiến lược và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Ngày 28-3-1992, Bộ Chính trị khóa VII đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”. Nhìn lại hơn 5 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI, Bộ Chính trị nêu rõ: “Nét nổi bật là đã bước đầu đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, khắc phục được một phần những biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều và bệnh chủ quan duy ý chí, đồng thời tỉnh táo phòng ngừa và ngăn chặn những ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩa cơ hội, xét lại”. Đã tiến hành cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-lý luận “nhằm uốn nắn những quan niệm lệch lạc, phê phán những khuynh hướng sai lầm, chống lại các quan điểm phản động mưu toan phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Những hoạt động trên đã góp phần vào việc giữ vững ổn định về chính trị” (4). Bộ Chính trị nêu rõ những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản và biện pháp đẩy mạnh công tác lý luận, đồng thời nhấn mạnh: “Cần tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận theo yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Khắc phục chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, đồng thời chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và xét lại” (5). Các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước vẫn đẩy mạnh thực hiện chiến lược và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu chế độ XHCN ở Việt Nam. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994) đã coi “diễn biến hòa bình” là một trong 4 nguy cơ lớn đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 18-2-1995 “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”, đề ra 6 định hướng lớn của công tác tư tưởng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam”. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn”. Đó là những vấn đề có tính nguyên tắc để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng đồng thời kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm đi ngược lại quan điểm đó. Phải tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng. Về biện pháp, Bộ Chính trị nêu rõ: “Có kế hoạch mở các lớp ngắn ngày bồi dưỡng các quan điểm của Đảng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, cán bộ lãnh đạo các cơ quan tư tưởng, văn hóa, giảng viên lý luận chính trị các trường của Đảng, của Nhà nước và hệ thống giáo dục quốc dân”. “Rút kinh nghiệm công tác đấu tranh chống những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, nhất là trên báo, đài, có kế hoạch chủ động kịp thời chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” về tư tưởng, văn hóa của chúng” (6). Tổng kết 10 năm (1996), 20 năm (2006) và 30 năm đổi mới (2016), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Những thành tựu đó được toàn dân và bạn bè quốc tế thừa nhận. Đó cũng chính là thước đo tính đúng đắn của Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng và Cương lĩnh, đường lối lại dựa trên nền tảng tư tưởng, lý luận được vận dụng và phát triển sáng tạo từ thực tiễn Việt Nam. Trong các thành tựu của đổi mới có thành tựu của công tác tư tưởng, lý luận, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, phát triển tư duy sáng tạo. Đại hội XII (1-2016) của Đảng đánh giá: “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận có bước được nâng lên. Công tác tư tưởng được coi trọng và tăng cường, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (7). Đại hội XII của Đảng cũng thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm: “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao. Chậm khắc phục có hiệu quả những hạn chế của công tác tư tưởng như thiếu sắc bén, chưa thuyết phục. Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao” (8). Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và NQTƯ 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Các thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình đó để đẩy mạnh vu cáo, đả kích Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Yêu cầu khách quan phải tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong Đảng để nâng cao sức chiến đấu và khả năng tự bảo vệ. Ở đây có mối liên hệ trực tiếp giữa khắc phục sự suy thoái trong nội bộ với đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch. NQTƯ 4 khóa XII (10-2016) của Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” (9). 2. Những kinh nghiệm từ quá trình đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, sự nghiệp đấu tranh của Đảng và dân tộc phải chống lại kẻ thù xâm lược hung bạo để giành độc lập, tự do, đồng thời lại phải chống lại sự phá hoại về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hòa bình” hòng đưa cách mạng đi chệch hướng dẫn tới thất bại. Chống kẻ thù xâm lược, phải tiến hành chiến tranh cách mạng với sức mạnh tổng hợp của khoa học, nghệ thuật quân sự Việt Nam để chiến thắng. Chống kẻ địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận cũng vô cùng khó khăn, phức tạp, không thể xem thường. Cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, nhất là trong công cuộc đổi mới đã để lại những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch. Một là, trong bất kể hoàn cảnh và tình thế nào cũng kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng quyết định bản chất cách mạng, khoa học của Đảng. Trung thành với hệ tư tưởng, học thuyết lý luận gắn liền với đổi mới tư duy, vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Hồ Chí Minh nhấn mạnh học tập, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc lòng câu chữ mà nắm vững bản chất, phương pháp khoa học của học thuyết đó. Không ngừng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để nhận thức rõ những giá trị bền vững phổ biến về tư tưởng, lý luận đồng thời nhận thức rõ những quy luật riêng của cách mạng Việt Nam như Hồ Chí Minh đã tìm tòi và luôn luôn đặt ra. Sáng tạo trong lãnh đạo chiến tranh cách mạng với tư tưởng, quan điểm đặc sắc của chiến tranh nhân dân. Sáng tạo trong cách mạng XHCN, đổi mới, phát triển đất nước: nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn. Sáng rõ về mô hình CNXH; về những vấn đề của thời kỳ quá độ lên CNXH; về hình thức tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị, bước đi; về khả năng và nội dung bỏ qua CNTB và kế thừa thành quả của nhân loại. Không thể làm sáng tỏ những vấn đề tư tưởng, lý luận nếu không quyết tâm khắc phục chủ nghĩa giáo điều, bệnh chủ quan duy ý chí, quan niệm giản đơn, hời hợt về những quy luật khách quan của lịch sử và quá trình cách mạng. Đổi mới và sáng tạo trong nhận thức tư tưởng, lý luận, trong tư duy là sự bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn. Sự phát triển sáng tạo có tính thuyết phục về tư tưởng, lý luận về con đường phát triển hợp quy luật của đất nước là cơ sở vững chắc để đấu tranh phê phán những nhận thức lệch lạc, sai trái, thù địch. Khẳng định cái đúng cũng chính là phê phán cái sai, phản động. Hai là, chú trọng công tác chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức và trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động, sự đoàn kết vững chắc trong Đảng. Đảng coi trọng giáo dục tư tưởng, lý luận trong Đảng đồng thời cán bộ, đảng viên ra sức học tập lý luận, rèn luyện, nâng cao lập trường tư tưởng, nắm vững Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng. Đó là yêu cầu cần thiết nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khả năng “tự bảo vệ” của mỗi cán bộ, đảng viên trước những tác động và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài. Đảng vững vàng vượt qua được thử thách vì có đội ngũ cán bộ, đảng viên được giáo dục, rèn luyện tốt có bản lĩnh chính trị vững vàng. Cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa sự giáo dục nghiêm túc của Đảng với tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh lưu ý tự tu dưỡng của cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất đạo đức, cả về tư tưởng lý luận và nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng. Khi có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị thì các thế lực thù địch, phản động càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Nhưng thực trạng đó cũng còn do “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả” như NQTƯ 4 khóa XII của Đảng đã nhận định. Biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, lười học tập, sợ học lý luận, lười suy nghĩ, tình trạng “nhạt đảng, nhạt đoàn, nhạt chính trị” phải được khắc phục, mới có thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ba là, luôn luôn tỉnh táo phòng ngừa, chủ động và kiên quyết đấu tranh phê phán mọi nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái và thù địch. Điều quan trọng nhất là không bao giờ được nhân nhượng, thỏa hiệp về tư tưởng, lý luận; càng không được rút lui, hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng. Những người theo chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội, chống CNXH luôn luôn tìm mọi cách phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, coi học thuyết đó đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại ngày nay, phủ nhận con đường XHCN nhất là khi mô hình CNXH tan rã ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Với những thế lực này cần đấu tranh, phê phán dựa trên những luận cứ khoa học đúng đắn, nhất là những giá trị, thành tựu trong quá trình hiện thực hóa học thuyết lý luận. Điều này đòi hỏi cán bộ lý luận cũng như cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nắm vững, thấu hiểu sâu sắc giá trị khoa học, hiện thực, bản chất, linh hồn sống và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đấu tranh phê phán có chiều sâu, thuyết phục và có hiệu quả. Từ thực tiễn, thành tựu của cách mạng Việt Nam mà làm sáng tỏ, chứng minh tính đúng đắn của hệ tư tưởng, lý luận và khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kết hợp lý luận và thực tiễn quyết định thắng lợi của cách mạng. Sự chủ động, tỉnh táo ở tầm nhìn, tầm tư duy chiến lược của cơ quan lãnh đạo, người lãnh đạo cao nhất và của các cơ quan tham mưu, chuyên môn trên lĩnh vực tư tưởng lý luận. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận nói chung và trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa quyết định thành công. Trung ương, Bộ Chính trị luôn luôn có định hướng đúng đắn về công tác tư tưởng. Định hướng cho thời kỳ dài và phương hướng cụ thể của từng giai đoạn. Đó là cơ sở rất quan trọng để các cơ quan chuyên môn, cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận kịp thời đề xuất bước đi, giải pháp cần thực hiện. Bốn là, hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách, pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, quản lý tốt và nâng cao vai trò của báo chí, truyền thông. Các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo,… để vu cáo, xuyên tạc, đả kích sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nói xấu chế độ. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước đã hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt hơn quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Thực hiện đúng đắn quyền con người theo công ước quốc tế và theo Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc được hoàn thiện góp phần quan trọng đoàn kết các tôn giáo, các dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò của thế hệ trẻ, của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ được phát huy với những chính sách và điều kiện cần thiết để phát triển và cống hiến. Đó là cơ sở xã hội, lực lượng rất quan trọng. Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong điều kiện mới tiếp tục được củng cố tạo hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh tư tưởng chống các thế lực thù địch, phản động. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng gắn liền với sự đoàn kết toàn dân tộc, đồng thuận xã hội bảo đảm cho thành công. Xử lý các thế lực chống đối về tư tưởng cũng theo quy định của pháp luật. Các thời điểm đấu tranh tư tưởng quyết liệt trước đây, vai trò của báo chí và các phương tiện truyền thống là vô cùng quan trọng nhằm định hướng đúng đắn nhận thức trong Đảng và trong xã hội, phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, những nhận thức mơ hồ, lệch lạc. Đúng như V.I.Lênin xác định báo chí là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể. Ngày nay, báo chí, truyền thông càng có vai trò quan trọng trong truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, định hướng đúng đắn công tác tư tưởng của Đảng và dư luận xã hội, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Công việc quản lý báo chí, truyền thông là rất quan trọng bảo đảm định hướng tư tưởng đúng đắn, nhất là trong điều kiện công nghệ truyền thông, internet, các loại hình báo viết, báo hình, báo nói, báo điện tử phát triển. Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, quản lý báo chí, hoạt động của báo chí, truyền thông tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng bảo đảm sự đóng góp tích cực và lành mạnh của báo chí. Những kinh nghiệm lãnh đạo đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch được Đảng tổng kết kịp thời trên mặt trận tư tưởng. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là vấn đề rất quan trọng đặt ra trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, không chỉ chống các thế lực thù địch về tư tưởng, ý thức hệ mà còn góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

TÁI KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM TRONG ỔN ĐỊNH TẠI ĐÔNG NAM Á

 


Thủ tướng Việt Nam có chuyến thăm thành công và mang tính bước ngoặt tới Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác, bao gồm cả quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ được đánh giá là đóng vai trò quan trọng ở Đông Nam Á.

Tờ The Economic Times vừa có bài bình luận về chuyến tham dự Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, thăm và làm việc tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, đánh giá chuyến thăm nhằm tái khẳng định vai trò của Việt Nam trong ổn định khu vực Đông Nam Á.

Chuyến thăm đã cho thấy vị thế chủ chốt của Việt Nam trong việc định hình quan hệ ASEAN-Hoa Kỳ. Trong khi đó, quan hệ đối tác giữa Ấn Độ và Việt Nam cũng giúp tăng cường vai trò đối tác của New Delhi với ASEAN, qua đó tái khẳng định vị thế của Việt Nam với tư cách là một bên đa phương.

Việt Nam được coi là một trong những nền kinh tế triển vọng ở Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) dự kiến ở mức từ 6 đến 8%.

Bài viết cũng nhắc lại phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính về vai trò trung tâm của ASEAN cũng như quan điểm của Việt Nam trong vấn đề liên quan đến Biển Đông. Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ mong muốn các nước lớn, những đối tác của ASEAN, có thể đưa quan hệ đi vào ổn định, cạnh tranh lành mạnh và có trách nhiệm, đồng thời tham gia đóng góp cho khu vực trên tinh thần minh bạch, xây dựng, tôn trọng vai trò trung tâm của ASEAN, tham vấn đầy đủ với ASEAN, tôn trọng luật pháp quốc tế, đóng góp cho hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Nguồn Vietnam+

Quan điểm của Đảng ta về công tác dân tộc

Quan điểm của Đảng ta về công tác dân tộc Dân tộc và công tác dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ I của Đảng (tháng 3/1935), Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về công tác dân tộc thiểu số, trong đó ghi rõ: “Lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ phận của cách mạng thế giới”. Nghị quyết cũng đề ra cho Trung ương và các Xứ ủy (trong những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và chỉ đạo công tác vận động các dân tộc thiểu số. Như vậy, ngay từ Đại hội đầu tiên, Đảng ta đã quan tâm đến vấn đề dân tộc và công tác dân tộc. Đại hội II của Đảng (năm 1951) tiếp tục nêu rõ: “Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây thù, chia rẽ giữa các dân tộc. Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” . Về quyền bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam được các Đại hội III, IV, V kế thừa và phát triển. Đại hội VI đã bước đầu hình thành những nhận thức mới, quan trọng về chính sách dân tộc và giải quyết các mối quan hệ giữa các dân tộc, phát triển từng dân tộc đi liền với củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc trên đất nước ta. Các nguyên tắc đảm bảo cho quan hệ giữa các dân tộc phát triển tốt đẹp được nhấn mạnh là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, kết hợp phát triển kinh tế với phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất với chăm lo đời sống con người, kể cả con người từ nơi khác đến và dân tại chỗ”. Tư tưởng đổi mới đó còn được thể hiện sâu sắc, cụ thể hóa tại “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được thông qua tại Đại hội VII. Cương lĩnh nêu rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Những quan điểm, tư tưởng của Đảng về dân tộc và chính sách dân tộc trong Cương lĩnh tiếp tục được triển khai ở Đại hội VIII, IX đồng thời được cụ thể hóa thành những chủ trương, chính sách, dự án và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta. Từ thực tiễn và kinh nghiệm 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng bổ sung và hoàn chỉnh hệ mục tiêu của đổi mới ở nước ta, trong đó khẳng định: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”. Quan điểm: các dân tộc “tôn trọng” lẫn nhau, thể hiện một bước phát triển trong nhận thức của Đảng về vấn đề này. Tôn trọng là sự trân trọng lẫn nhau, tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Đây cũng là giá trị làm rõ hơn nữa quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể hiện trong các Văn kiện trước đó. Tiếp nối quan điểm của các kỳ Đại hội trước, Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ.” Như vậy, trải qua các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, tư tưởng nhất quán trong chính sách dân tộc của Đảng ta đã được xác định: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Đây cũng là nguyên tắc chuẩn mực chỉ đạo việc xây dựng quan hệ giữa các dân tộc - tộc người trong quá trình phát triển đất nước. Các dân tộc có thật sự bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau mới đoàn kết, gắn bó với nhau. Ngược lại, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc thì mới có đủ sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, trở lực. Trong các nguyên tắc nêu trên, vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc cần được đặc biệt chú trọng. Tất cả các dân tộc, dù đông người hay ít người đều có tư cách chính trị- xã hội-pháp lý như nhau trong các quan hệ tộc người, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất nước. Như vậy, nội dung của bình đẳng dân tộc với tư cách là quyền đã gắn liền với bình đẳng chính trị, với bình đẳng trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa. Tuy nhiên, quan điểm bình đẳng giữa các dân tộc nêu trong Nghị quyết chỉ có thể trở thành hiện thực khi có sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể thông qua hệ thống chính sách cụ thể, phù hợp với vùng, miền, dân tộc và từng thời điểm. Để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, phải tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đối với từng dân tộc, từng vùng, từng miền một cách cơ bản, cụ thể cả trước mắt và lâu dài. Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo do điểm xuất phát thấp và còn rất nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất và sinh hoạt cần chú ý không chỉ tạo cơ hội phát triển mà còn tạo điều kiện để cơ hội đó được thực hiện. Đây là vấn đề phải được quan tâm trong thực thi các chính sách kinh tế-xã hội, các chương trình, dự án phát triển vùng, miền. Cần phải lưu ý rằng, những chính sách với các vùng này phải thật cụ thể, thiết thực, kết quả của nó được đo bằng sự thụ hưởng đích thực của đồng bào. Mặt khác, bản thân đồng bào phải chủ động vươn lên, tranh thủ sự hỗ trợ của Nhà nước, sự giúp đỡ của các dân tộc anh em để phát triển. Chủ động khắc phục tình trạng chênh lệch trong phát triển giữa các dân tộc, bình đẳng phải gắn liền với đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ chính là hợp tác để phát triển, cùng nhau đạt đến lợi quyền chung, mục đích chung, từ sự phát triển chung mà đạt được sự phát triển riêng của từng dân tộc, hình thành năng lực tự phát triển. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách phải đóng vai trò điều chỉnh và điều tiết quá trình phát triển ấy sao cho hợp lý, có hiệu quả cao nhất, vì mục đích cơ bản, lâu dài và cũng vì những nhu cầu, yêu cầu trước mắt. Kế thừa và phát triển quan điểm của các kỳ Đại hội trước, Đại hội XI đặt ra yêu cầu các dân tộc “thương yêu” nhau. Đây là yêu cầu đạo đức và văn hóa trong quan hệ giữa các dân tộc. Thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ là thể hiện gắn bó trách nhiệm cộng đồng, là sự chia sẻ trách nhiệm, tính liên kết xã hội trong phát triển, là cơ sở tạo ra sức mạnh của hợp tác, đó là đảm bảo cho sự đoàn kết thống nhất bền vững lâu dài, nhờ đó mới có sức mạnh bảo vệ và tự bảo vệ trước những âm mưu, thủ đoạn và hành động chia rẽ dân tộc, kích động tâm lý hằn thù dân tộc của các thế lực phản động, chống phá cách mạng trong và ngoài nước. Để thực hiện được điều đó, vấn đề đặt ra là phải tôn trọng và chống lại mọi biểu hiện dân tộc lớn, coi thường dân tộc khác trong một bộ phận dân tộc đa số; đồng thời khắc phục tâm lý mặc cảm, tự ti dân tộc ở bộ phận dân tộc thiểu số; đẩy mạnh giáo dục ý thức và tình cảm dân tộc đúng đắn, giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc chính đáng, giáo dục ý thức cộng đồng, truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong tất cả các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là ý thức tôn trọng những tình cảm, tâm lý tộc người, bản sắc văn hóa tộc người. Mặt khác và đây là điều cơ bản, sâu xa, đó là phải đảm bảo sự trung thực, tính nhất quán trong nhận thức cũng như hành động, phải tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đem lại những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Chỉ như vậy mới tạo được sức thuyết phục đối với đồng bào trong cả nước, sự tin cậy của nhân dân các dân tộc vào đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Văn kiện Đại hội XI đã nêu: “Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”. Có thể thấy, quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc ngày càng sáng tỏ, toàn diện hơn, đầy đủ hơn.

Quan điểm chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013. 1. Trong các văn kiện của Đảng luôn nhất quán quan điểm: Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (bổ sung, phát triển 2011) - một văn kiện có giá trị pháp lý cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân”. Trong các văn bản riêng về tôn giáo, tín ngưỡng có thể xem Nghị định số 69/NĐ-HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Quy định về các hoạt động tôn giáo" là văn bản mở đầu. Ngày 4/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 37-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Tôn giáo của Chính phủ, cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo trong phạm vi cả nước. Sau đó, một loạt văn bản khác đã được ban hành như: Nghị định 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Quyết định số 125/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 18/6/2003 về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác tôn giáo… Người dân Sài Gòn trong đêm Giáng sinh. Nguồn: Internet Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới. Đây được coi là dấu mốc mở đầu cho bước ngoặt phát triển nhận thức về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết này có hai luận điểm mang "tính đột phá" là: Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp với chế độ mới. Ngày 12/3/2004, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo. Đến nay, Nghị quyết này vẫn được xem là “kim chỉ nam” cho công tác tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghị quyết 25-NQ/TW khẳng định những chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo. Nghị quyết khẳng định tín ngưỡng và tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật được bảo đảm. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sắc và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật được tạo điều kiện thuận lợi. Nghị quyết cũng chỉ rõ việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật v.v… 2. Một dấu mốc quan trọng phải kể tới nữa, đó là ngày 18/6/2004, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Tiếp tục thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, Luật Tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội khóa XIV nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 18/11/2016 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số: 12/2016/L-CTN ngày 01/12/2016 công bố Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là sự cụ thể hóa quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, thể hiện nhất quán chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng cụ thể hóa những quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Những nội dung mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng được bổ sung để tạo sự tương thích với luật pháp quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, ký kết và thi hành nhiều hiệp định. Từ những chủ trương nhất quán này, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân. Tất cả những quyền của người dân về tôn giáo đều được Nhà nước Việt Nam quy định rõ từ việc quản đạo, hành đạo, truyền đạo… Nơi thờ tự của các tôn giáo được luật pháp Việt Nam bảo vệ. Tất nhiên, pháp luật Việt Nam cũng quy định việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Cũng như tất cả các quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam thực hiện quyền quản lý xã hội của mình trên lãnh thổ Việt Nam ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. Để quản lý Nhà nước về tôn giáo thật sự có hiệu quả, phát huy tác dụng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đương nhiên Nhà nước Việt Nam phải áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và đặc biệt là các hành động lợi dụng tôn giáo vì các mục đích khác nhau trái với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. 3. Ở Việt Nam hiện nay, những ngày lễ lớn của các tôn giáo, nhất là lễ Phật đản, Vu Lan, Noel … không chỉ là của những người theo các tôn giáo mà trở thành ngày vui chung, ngày hội lớn của người dân. Có lẽ vì vậy mà trong những năm qua, số tín đồ của các tôn giáo ngày một tăng lên không ngừng, nhiều tôn giáo, hệ phái tôn giáo mới đã được Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện cấp phép hoạt động. Các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, đúng tôn chỉ, mục đích luôn được Nhà nước và cấp chính quyền quan tâm, tôn trọng và tạo điều kiện hoạt động, phát triển. Quyền con người, quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm ngày một tốt hơn; các tôn giáo đã phát triển nhanh cả về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 6 tôn giáo và 16 tổ chức tôn giáo được công nhận và đăng ký hoạt động, thì đến nay đã có 38 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được công nhận (số liệu đến tháng 6/2020). Cả nước có khoảng trên 25 triệu tín đồ, trên 110 nghìn chức sắc, nhà tu hành (số liệu đến hết năm 2019). Các cơ sở thờ tự của các tôn giáo ngày càng được xây dựng khang trang cùng nhiều cơ sở xã hội, từ thiện đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện công tác xã hội. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học, như: Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo và các trường cao đẳng, trung cấp của các tôn giáo đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của các cấp chính quyền địa phương. Các ấn phẩm về tôn giáo được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi trong in ấn và phát hành. Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức. Trong hàng giáo phẩm của các tôn giáo hiện nay, rất nhiều vị được Nhà nước tạo điều kiện để đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước trên thế giới. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn ở Việt Nam đã được tổ chức như Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc vào các năm 2008, 2014; Lễ Bế mạc Năm Thánh 2011 của Giáo hội Công giáo Việt Nam được tổ chức long trọng tại giáo xứ La Vang, tỉnh Quảng Trị; Đại lễ kỷ niệm 72 năm khai sáng đạo Phật giáo Hòa hảo; Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh; Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới vào năm 2010 v.v… Kể từ năm 2011, Vatican đã cử đại diện không thường trú tại Việt Nam và đặc phái viên không thường trú này đã thực hiện nhiều chuyến thăm tới hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam. Có thể nói, hòa chung với sự hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mọi mặt của đất nước, hoạt động tôn giáo ở Việt Nam ngày càng sôi động, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo ngày càng cởi mở hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động tôn giáo./.

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

Một số vấn đề cần thống nhất về mặt nhận thức trong quá trình quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết 35

 

Một là, về mối quan hệ giữa bảo vệ và đấu tranh. Nghị quyết 35 với tiêu đề “Tăng cường bảo vệ nâng tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” có hai hoạt động cơ bản là bảo vệ và đấu tranh, phù hợp với phương châm “xây” và “chống” trong công tác tư tưởng. Trong đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu, được đặt lên trước. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết này phải lấy bảo vệ là chính. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này đã được Cương lĩnh và Điều lệ Đảng khẳng định. Bảo vệ nền tảng tư tưởng là việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Hai là, sự khác nhau giữa quan điểm sai lầm, sai trái, thù địch và mục đích đấu tranh phản bác. Trong thực hiện Nghị quyết 35, cần phân biệt quan điểm sai lầm và quan điểm sai trái để khoanh vùng đấu tranh cho phù hợp, tránh tình trạng quy kết, chụp mũ. Quan điểm sai trái là những quan điểm phản ánh không đúng hiện thực khách quan, tức là sai lầm nhưng trái với đường lối, quan điểm của Đảng. Như vậy, quan điểm sai lầm khác với quan điểm sai trái ở mức độ và tính chất của nó. Ai cũng có thể mắc sai lầm vì năng lực tư duy, vì phương pháp nhận thức thiếu khoa học, thiếu dữ kiện, vì chân lý chỉ là tương đối... Tuy nhiên, những quan điểm sai lầm thông thường chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân, một nhóm nhỏ thì không nghiêm trọng, có thể giải quyết bằng các biện pháp thuộc về khoa học. Những quan điểm sai lầm mà đối lập với quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước là sai lầm có phạm vi ảnh hưởng lớn, tính chất nghiêm trọng cần phải đấu tranh phản bác bằng những biện pháp mang tính chính trị, hành chính.

Ba là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào để không trở thành “tuyên truyền không công” cho địch. Chúng ta nên tập hợp các quan điểm sai trái, thù địch thành các nhóm như sau:

1. Những quan điểm tấn công trực tiếp vào hệ tư tưởng. Đây là những quan điểm hoặc là phủ nhận sạch trơn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc thừa nhận đúng một phần, đúng trong quá khứ, không đúng trong hiện tại, đúng ở  phương Tây, không đúng với Việt Nam. v. v. 

2. Những quan điểm tấn công vào đời tư của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh bằng các thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, đặt sai bối cảnh…

3. Những quan điểm đánh đồng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực với học thuyết, lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

4. Những quan điểm quy những hạn chế, yếu kém của quá trình đổi mới vào sai lầm của hệ tư tưởng.

Phân loại như vậy, chúng ta chỉ cần lấy một vài ví dụ phổ biến để chứng minh, phản bác. Đôi khi trong đấu tranh phản bác, chúng ta chỉ cần chứng minh điều ngược lại với các quan điểm sai trái, thù địch là đủ bởi chúng ta có chính nghĩa và thực tiễn lịch sử rất phong phú.

Bốn là, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch hay với chủ thể của các quan điểm sai trái thù địch. Hiện nay, chúng ta thường tập trung vạch trần bản chất phản khoa học, phản cách mạng của các quan điểm sai trái, thù địch. Theo chúng tôi, đây chỉ là cách đấu tranh ở phần ngọn. Vì nếu chúng ta phản bác được luận điểm này, chúng lại tiếp tục đưa ra các quan điểm khác, ngày càng tinh vi, xảo quyệt và thâm độc hơn. Mặt khác, trong khi hệ tư tưởng của chúng ta hiện nay cũng chưa hoàn thiện, chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện mới, có những vấn đề đã bị thực tiễn vượt qua; trong khi đó, công cuộc đổi mới vẫn đang còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Như vậy, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch sẽ như “muối bỏ bể”, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng đó, chúng ta cần truy đến tận gốc, tức là phải xác định chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch để phân loại và có biện pháp đấu tranh phản bác phù hợp hiệu quả.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay

 


Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một là, kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; ngày càng chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quan trọng này. Theo đó, Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết về vấn đề này, đặc biệt là: Chỉ thị 34-CT/TW, ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”; Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Xác định bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Đặc biệt, Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, tạo hành lang pháp lý để quản lý không gian mạng, bảo đảm một môi trường mạng an toàn.

Hai là, tăng cường quản lý chặt chẽ internet, mạng xã hội. Trước sự hiện diện và phát triển nhanh chóng của các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội tại Việt Nam như Google, Facebook,... Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông đã làm việc với người đại diện của các công ty chủ quản của các trang mạng xã hội tại Việt Nam, yêu cầu phối hợp để gỡ bỏ, ngăn chặn những nội dung không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, những nội dung vi phạm pháp luật Việt Nam. Cùng với đó, nhiều cơ quan, bộ, ngành đã ban hành quy chế, quy định về tham gia mạng xã hội. Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ thành lập một số ban chỉ đạo tập trung, trực tiếp và tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 35, các Ban chỉ đạo 35 đã được thành lập ở các cấp từ Trung ương đến địa phương nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cùng với việc sử dụng báo in, báo điện tử, tạp chí, phát thanh, truyền hình, các cơ quan báo chí đã tổ chức lực lượng blogger, facebooker đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên mạng internet. Riêng các blogger, facebooker trong lực lượng vũ trang đã đưa hàng nghìn bài viết lên các blog, fanpage, youtube cùng hàng vạn ý kiến bình luận trên mạng xã hội Facebook và trên báo điện tử trong nước và nước ngoài với nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng, song nhìn nhận khách quan, Đảng ta đã chỉ rõ: Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiệu quả còn hạn chế.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch có thời điểm còn chậm, bị động, chưa giữ được nhịp độ thường xuyên, liên tục, trong điều kiện các thế lực thù địch lại liên tục có những thay đổi về lực lượng, phương thức và phương tiện chống phá.

Một số bài viết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có nội dung thông tin còn đơn giản, thiếu chiều sâu về tính lý luận, tính khoa học. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có mặt còn bất cập, chưa gắn chặt giữa nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận khiến công tác đấu tranh chưa sắc bén, hiệu quả chưa cao. Việc cung cấp thông tin chính thống để định hướng dư luận xã hội trước những đợt tấn công chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội còn chậm, thiếu tính thời sự, hiệu quả đấu tranh không cao. Việc tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những kiến thức an ninh mạng cơ bản, nhận diện những trang mạng xã hội xấu độc còn chưa thật sự hiệu quả. Công tác giáo dục lý luận chính trị, đào tạo đội ngũ cán bộ lý luận còn có những hạn chế. Trong mấy năm gần đây, số lượng người đăng ký vào học các ngành lý luận chính trị có xu hướng giảm, nhất là ở bậc sau đại học. Nếu không có giải pháp phù hợp, có thể dẫn đến sự hẫng hụt đội ngũ này trong thời gian tới. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch.

 


Quyết lệt trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Từ khi thành lập đến nay, cùng với việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối chính trị, Đảng ta rất coi trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; quyết liệt trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; đặc biệt ngày càng chú trọng và tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quan trọng này. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, trong đó xác định một trong sáu quan điểm chỉ đạo là: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng trong đó có vai trò nòng cốt của lực lượng Vũ trang nhân dân đã chú trọng đẩy mạnh công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái. Đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong các Học viện, nhà trường nói chung và Học viện nhà trường trong quân đội nói riêng nhất định phải là những người nghiên cứu sâu sắc, nắm vững nghị quyết của Đảng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy, quan điểm đúng đắn, có kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ bảo đảm truyền đạt trung thực, chính xác những quan điểm của Đảng; biết vận dụng những quan điểm của Đảng vào nghiên cứu, phát triển lý luận chính trị và đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch hiện nay bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.


LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC TA RẤT HÀO HÙNG - CHÚNG TA NỢ TIỀN NHÂN CÁCH TRUYỀN ĐẠT HAY CHO CÁC THẾ HỆ MAI SAU!

         Năm 1941, Bác Hồ trở về tổ quốc sau 30 năm bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc và chỉ sau đó 01 năm, Người đã viết tác phẩm "Lịch sử nước ta". Bài thơ ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc từ thời Hồng Bàng dựng nước đến năm 1942 - khi tác phẩm ra đời. Mục đích của bài thơ này chính là khơi gợi trong nhân dân lòng yêu nước, thương nòi; giáo dục về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc để dựng nước và giữ nước và sự cần thiết phải đứng lên làm cách mạng để cứu tổ quốc khỏi kiếp nô lệ không lối thoát! Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam!

Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung cho đến thời đại Hồ Chí Minh, đó là một pho lịch sử bằng vàng ròng! Thế nhưng, cách truyền đạt kiến thức lịch sử; khơi gợi tình yêu tổ quốc cho các tầng lớp nhân dân; đặc biệt là thế hệ trẻ, thông qua những câu chuyện về lịch sử, về quá khứ hào hùng của tổ tiên lại chưa tương xứng. Sách giáo khoa về lịch sử vẫn còn rất sơ sài, các tiết học về lịch sử vẫn rất ít so với các môn khác; thậm chí, người ta còn đòi tích hợp môn lịch sử với các môn học khác. Truyền đạt rất khô cứng, giáo điều và máy móc! Tư duy, nhận thức của những người đứng đầu ngành giáo dục như thế; bảo sao mà học sinh lớp 12 lại phán: Quang Trung là anh của Nguyễn Huệ hay Nguyễn Huệ với Nguyễn Du là một người…

Có lẽ các vị đó đã không tìm ra được hướng truyền đạt thuyết phục hay không tạo được một “sân chơi” hấp dẫn để thu hút người Việt đến với lịch sử nước nhà một cách tự nhiên nhất. Điều này những nước quanh ta như Trung Quốc, Hàn Quốc đã làm được, làm tốt không chỉ với dân chúng nước họ mà khiến cho người dân các nước xung quanh cũng phải rành và ngưỡng mộ lịch sử của họ. Nói đâu xa, chính người Việt Nam ta cũng thuộc lòng lịch sử Trung Quốc nhưng nhiều người mù tịt về lịch sử nước nhà. Thật đáng tiếc cho chúng ta khi người dân không thiết tha tìm hiểu lịch sử nước nhà mặc dù lịch sử Việt Nam cũng hào hùng và độc đáo không thua kém nước nào; thâm chí chúng ta ăn đứt người Trung Quốc vì lịch sử của họ đa số là các cuộc nội chiến chứ đánh giặc giữ nước thì họ “đánh toàn thua”. Thế nhưng khi lên phim ảnh thì hoàn toàn khác, chúng ta xem mà lòng thấy tự hào thay cho lòng yêu nước của nhân dân bạn. Cho dù lịch sử dân tộc họ không phải chỉ toàn màu hồng!

Thời Tần, Hán, họ sợ người Hung Nô thiểu số đến mức Tần Thủy Hoàng phải xây Vạn lý trường thành để ứng phó, người Hán phải dâng mỹ nhân Vương Chiêu Quân Cầu hòa. Thời Đường, An Lộc Sơn là người Hồ nhưng khiến cho người Hán sợ vỡ mật, loạn lạc liên miên. Thời Tống, đã là người Trung Quốc thì chẳng ai quên mối nhục Tĩnh Khang khi người Kim thiểu số đánh bại nhà Tống, 02 vua là Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông bị bắt làm tù binh và chết ở Kim. Người Mông Cổ đánh bại nhà Tống và cai trị Trung Quốc hơn 100 năm, thế nhưng khi sang Đại Việt, họ bị Trần Hưng Đạo và quân dân nhà Trần 03 lần lột móng ngựa; kỵ binh Mông Cổ được mạnh danh là thiên hạ vô địch nhưng phải nhục nhã cút khỏi Đại Việt. Nhà Minh thất bại dưới tay người Thanh, vốn là một bộ tộc thiểu số ở Đông Bắc Trung Quốc, thế mà Đa Nhĩ Cổn đã mang Bát kỳ Mãn châu vào làm chủ Trung nguyên và cai trị suốt gần 3 thế kỷ. “Cái bánh ngọt Trung Quốc” bị nhiều nước châu Âu và Nhật xâu xé, dù họ đông gấp vạn lần...

Những người mà Trung Quốc luôn ca ngợi là danh tướng này hay minh quân nọ như: Đường Thái Tông, Minh Thành Tổ hay Quan Vũ… nhưng không một ai trong số đó có thể so sánh được với Hưng Đạo vương và Lê Thánh Tông của Đại Việt. Đường Thái Tông có tài trị quốc nhưng bất nhân, bất nghĩa khi làm ra sự biến Huyền vũ môn giết cả anh trai là Lý Kiến Thành và em trai Lý Nguyên bá để đoạt ngôi và cướp thê tử của em. Minh Thành Tổ Chu Đệ tài ba lỗi lạc nhưng Tĩnh nan chi dịch đã giết hại người cháu của mình để cướp ngôi báu. Quan Vũ có nghĩa khí nhưng suy cho cùng ông ta cũng chỉ có cái dũng của kẻ thất phu, thất trận và chết ở Mạnh Thành, làm mất Kinh Châu, làm cho nước Thục suy yếu…Tất cả những người đó đều không thể so sánh với Hưng Đạo Vương, người 3 lần chiến thắng Nguyên Mông, là nhân tướng với đầy đủ trung dũng, tài ba và có đủ các yếu tố để hội tụ thành một thiên tướng quân như “nhân, nghĩa, lễ, trí tín”. Vua Lê Thánh Tông, Bắc kiềm tỏa quân Minh, Nam chinh mở rộng bờ cõi, Tây chiến khiến cho cả Đông Nam Á thần phục! Tóm lại, anh hùng nước Việt nhiều như lộc non của mùa xuân, thời nào cũng có. 

Thế mà, hiện nay, dù khoa học công nghệ và trình độ, kỹ thuật cao, nền điện ảnh của nước nhà đã phát triển rất mạnh nhưng chúng ta vẫn nợ tiền nhân những bộ phim “ra hồn”. Chẳng phải vì thiếu kinh phí mà cái cốt lõi có chăng là do nhận thực và cái tâm chưa đủ. Chúng ta làm phim lịch sử về kháng chiến chống Pháp, Mỹ rất hay nhưng khi làm phim về lịch sử về các triều đại thì lại dở; thậm chí trang phục của tổ tiên còn không nhớ nên vu cho tiền nhân là mặc trang phục Trung Quốc. Làm phim nhưng chỉ thực hiện theo kịch bản mà không xem trọng vai trò cố vấn của các nhà sử học, các chuyên gia nghiên cứu thì rất khó để có một bộ phim thuần Việt. 

Thực trạng yếu kém là như thế, vậy mà những người có trách nhiệm với nền giáo dục nước nhà lại không những không chịu tìm tòi, đổi mới cách dạy, cách truyền đạt lịch sử sao cho có hiệu quả mà còn năm lần bảy lượt đòi tích hợp môn lịch sử với các môn học khác. Mới nhất là họ còn mời Nguyễn Minh Thuyết, một trong 72 kẻ đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá điều 4 Hiến pháp, giao cho ông ta làm Tổng chủ biên chương trình cải cách sách giáo khoa giai đoạn 2018-2023. Hậu quả là mơ màng, trúng kế và đòi đưa môn lịch sử là môn tự chọn, nghĩa là ai thích thì chọn không thích thì thôi. Lịch sử phải là môn học bắt buộc và các nhà cải cách giáo dục cần phải thay đổi tư duy, phải đổi mới cách dạy và học, để học sinh không nhàm chán. Đó mới là điều cần làm, nên làm và phải làm. Xem nhẹ lịch sử chính là nguồn cơn của mọi thất bại. 

Người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản làm phim về lịch sử dân tộc họ rất thành công, nhiều chi tiết được thần thánh hóa nhưng người xem từ trong đến ngoài nước đều rất thích thú, hào hứng đón nhận. Họ làm được, tại sao chúng ta lại không? Trông người mà ngẫm đến ta, nghĩ rất buồn cho điện ảnh nước nhà và cả những người làm công tác định hướng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng và mặt trận giáo dục của nước nhà. Con người có tổ, có tông/ như cây có cội, như sông có nguồn! Xem nhẹ lịch sử chính là cái họa để cho “văn hóa lai căng” xâm nhập, dần dần làm mất hết bản sắc văn hóa của dân tộc. Chúng ta nợ tiền nhân cách truyền đạt, giáo dục cho muôn đời sau về lịch sử dân tộc hiệu quả./.


Yêu nước ST.

NATO TẬP TRẬN QUI MÔ LỚN GẦN BIÊN GIỚI NGA!

Cuộc tập trận quy mô lớn của NATO đã bắt đầu ở Estonia. Cuộc tập trận mang tên Hedgehog 2022 là một trong những cuộc tập trận lớn nhất trong lịch sử quốc gia vùng Baltic này.
Cuộc tập trận của NATO sẽ có 15.000 binh lính tham gia từ 14 quốc gia, trong đó bao gồm cả quân đội từ các nước thành viên NATO và các đối tác.
Các binh lính từ Phần Lan, Thụy Điển, Gruzia và Ukraine nằm trong số những quốc gia tham gia vào cuộc tập trận này. Cuộc diễn tập bao gồm tất cả các thành phần của lực lượng vũ trang, cũng như liên quan đến các cuộc tập trận trên không, trên biển và trên mặt đất và huấn luyện chiến tranh mạng.
Theo tuyên bố của NATO, cuộc tập trận cũng sẽ chứng kiến sự tham gia của tàu đổ bộ lớp Wasp Kearsarge của Hải quân Mỹ. NATO và Lực lượng Quốc phòng Estonia đều phủ nhận cuộc tập trận được tiến hành nhằm phản ứng trước chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine. Cuộc tập trận trên diễn ra chỉ cách biên giới Nga hơn 60km.
Cuộc tập trận của NATO cũng diễn ra 1 ngày sau khi Phần Lan và Thụy Điển chính thức thông báo về kế hoạch gia nhập liên minh này.
Dù vậy, cuộc tập trận ở Estonia chỉ là một phần trong những hành động quân sự quy mô lớn của NATO gần biên giới Nga. Một quốc gia Baltic khác là Litva cũng đang tổ chức cuộc tập trận Iron Wolf với 3.000 binh lính NATO và 1.000 trang thiết bị quân sự, trong đó có 2 xe tăng Leopard 2 của Đức.
2 cuộc tập trận lớn nhất của NATO là Defender Europe và Swift Response đang diễn ra ở Ba Lan và 8 quốc gia khác với sự tham gia của 18.000 binh lính từ 20 quốc gia.
"Các cuộc tập trận này cho thấy NATO có lập trường mạnh mẽ và sẵn sàng bảo vệ các quốc gia thành viên của chúng tôi trước bất kỳ mối đe dọa nào", người phát ngôn NATO Oana Lungescu cho hay, khẳng định cuộc tập trận sẽ giúp "loại bỏ những tính toán sai lầm và hiểu lầm về quyết tâm của chúng tôi nhằm bảo vệ từng tấc đất của các nước thành viên".
Lực lượng phản ứng nhanh của NATO hiện đang tham gia cuộc tập trận Wettiner Heide ở Đức. Biển Địa Trung Hải cũng sẽ chứng kiến cuộc tập trận hải quân "Neptune series" với sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay USS Harry S. Truman. Đây là lần thứ 2 kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh nhóm tác chiến tàu sân bay này được chuyển sang sự chỉ huy của NATO.
Tháng 6, Ba Lan và các nước vùng Baltic sẽ tổ chức cuộc tập trận mà NATO cho là "cuộc tập trận phòng thủ tên lửa và phòng không tích hợp lớn nhất châu Âu" với 23 quốc gia tham gia.
Các cuộc tập trận lớn trên diễn ra giữa bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Nga, NATO và một số đối tác của liên minh này./.
Yêu nước ST.
…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…” . Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng. Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xóa bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩ, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp... Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
SỐNG ÔM HẬN THÙ CHỈ CÓ ĐÁNG KHÔNG? Hình ảnh dòng người cầm “cờ vàng ba que” của chế độ ngụy Sài Gòn biểu tình rầm rộ vào sáng thứ 5 ngày 12/5/2022 tại Washington Monument khiến nhiều người chợt nghĩ: những con người này đáng thương hơn đáng trách. Đáng thương vì lẽ, họ ôm hận thù những thứ viễn vông thuộc về quyền lợi mà cho đến tận ngày hôm nay vẫn chẳng được yên thân, vậy hóa chăng cả cuộc đời của họ từ khi sinh ra đến khi chết đi đều mang hận thù sao? Thật đáng thương. Trong khi Việt Nam tươi đẹp chẳng mất cho Tây, cho Tàu, vẫn là một quốc gia độc lập, thống nhất, uy tín, bản lĩnh trên trường quốc tế... Cuộc biểu tình của số Cờ vàng ba que với 3 mục tiêu: Ủng hộ Ukriana; Lên tiếng Việt Nam vi phạm quyền con người; nhắm vào chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong chuyến dự hội nghị ASEAN. Cuộc biểu tình chống vánh, dưới sự kiểm soát khắt khe của phía cảnh sát Hoa Kỳ và sự nhốn nháo không có tổ chức khiến cho cộng động đặt câu hỏi rằng đây chỉ là một thiểu số người mắc bệnh tự huyễn, ấu trĩ, thiếu tinh thần dân tộc mới có hành động như vậy. Từ trời Mỹ xa xôi, những con người cầm trên tay “cờ vang ba que” có hiểu rằng đất nước Việt Nam xinh tươi hiện là nơi đáng sống nhất trên thế giới không. Đáng sống không chỉ là sự giàu có tuyệt đối mà còn là sự an toàn, tình người, tinh thần dân tộc... hãy nhìn xem những trận cầu nảy lửa hay những môn thể thao chỉ cần là người Việt Nam thì sẽ có những sự tiếp sức mạnh mẽ đến từ người dân. Hãy nhìn xem nhiều lãnh đạo trên thế giới sang Việt Nam đi dạo chẳng cần có vệ sỹ, chẳng cần có súng ống, thiết bị hạng nặng, các bạn hãy nhìn xem đến Đan Nguyên còn quay về Việt Nam để đi Show vì sự yêu thương, mở rộng vòng tay của người Việt. Nếu các bạn suy nghĩ vì dân tộc thì có lẽ các bạn sẽ làm điều lớn hơn thay vì sự thù hận, ấu trĩ của một bộ phận thiểu số cờ vàng hiện nay. Các bạn hãy chấp nhận thực tế hiện tại vì một tương lai của dân tộc hùng mạnh hơn, thay vì hoang phí thời gian đi biểu tình phá hoại thì cac bạn nên dành thời gian về Việt Nam thăm lại quê hương, đất nước con người, hãy nhìn xem sự thay đổi, phất triển hiện nay như thế nào rồi hãy phán xét cũng chưa muộn.
LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN QUY ĐỊNH MỚI VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM Lợi dụng vấn đề ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW trước đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động suy diễn, xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37. Từ đó, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vai trò của Đảng. Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”. Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.