Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

Sự phát triển lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) là nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận về BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng. Từ khi có Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến trước khi có Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã xác lập đa dạng những vấn đề cụ thể về phương thức BVTQ. Đến Đại hội XIII, Đảng đã bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề mới về phương thức BVTQ, góp phần hoàn thiện thêm lý luận và chỉ đạo nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ mới.

Phương thức BVTQ là tổng thế các hình thức, phương pháp, biện pháp được áp dụng trên mọi lĩnh vực của quốc gia mà các chủ thể lãnh đạo, quản lý và tham gia sử dụng vào sự nghiệp quốc phòng để đạt được mục tiêu BVTQ. Đó là tổng thể những vấn đề: Kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng đất nước mạnh lên làm phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất; sử dụng các hình thức và biện pháp đấu tranh vũ trang để đánh bại các hành động vũ trang xâm lược; áp dụng các hình thức, biện pháp đấu tranh phi vũ trang để đánh bại các thủ đoạn tiến công phi vũ trang; kết hợp đấu tranh phi vũ trang và vũ trang, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hành “tự bảo vệ”, nhất là bảo vệ từ bên trong để đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; khai thác và phát huy vai trò của đối ngoại vào BVTQ.

Từ khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và BVTQ XHCN. Trong thời kỳ tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã áp dụng tổng thể, có hiệu quả các phương thức BVTQ, đem lại những thành tựu quốc phòng quan trọng, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Những thành tựu quan trọng đó, cùng với sự không ngừng sáng tạo bổ sung, phát triển lý luận BVTQ và những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp BVTQ trước sự vận động phức tạp, khó lường, khó dự báo của tình hình thế giới đã trở thành cơ sở, tiền đề cho Đảng ta, nhất là Đại hội XIII của Đảng phát triển, làm sâu sắc thêm lý luận về phương thức BVTQ, góp phần chỉ đạo tiến hành sự nghiệp quốc phòng, công cuộc giữ nước trong thời kỳ mới. Sự phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại.

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới, nhằm tiến tới đồng bộ hóa, dần hoàn thiện lý luận phương thức BVTQ của Đảng, được ghi nhận, xác lập trong Văn kiện Đại hội XIII. Nếu như trước đây, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX mới chỉ xác định “Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã bổ sung và làm rõ thêm bốn lĩnh vực cần phải kết hợp chặt chẽ với nhau là “kinh tế”, “xã hội”, “quốc phòng”, “an ninh”; và được Đại hội XII khẳng định lại vấn đề này,… thì đến Đại hội XIII, Văn kiện không chỉ bổ sung thêm hai lĩnh vực cần phải kết hợp là “văn hóa” và “đối ngoại”, mà còn kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp theo một trật tự thống nhất, lần lượt là kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại… nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức; đồng thời, quán triệt và cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo BVTQ đã được Đại hội XIII xác lập là: “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” .

Cũng với sự bổ sung và kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp trên đây để BVTQ, đó còn sự bổ sung về mục tiêu, yêu cầu đạt được của sự kết hợp. Nếu như trước đây các văn kiện, nghị quyết của Đảng đòi hỏi sự “kết hợp chặt chẽ” và “kết hợp tốt” một cách chung chung, thì nay Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đòi hỏi phải đạt được đến độ là “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả”, nhằm không chỉ thực hiện quan điểm về mục tiêu “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước”, mà còn đáp ứng đòi hỏi phát triển nhanh và bền vững của từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời kỳ phát triển mới đến năm 2025, 2030 và giữa thế kỷ XXI.

Sự kế thừa, bổ sung, phát triển vấn đề kết hợp giữa các lĩnh vực cụ thể trong BVTQ của Văn kiện Đại hội XIII đã làm cho lý luận về phương thức BVTQ không ngừng hoàn thiện; tính chất phức hợp của sự gắn kết đồng thời giữa các lĩnh vực đòi hỏi được tăng lên, cùng tính trọng tâm, trọng điểm xác định đối với từng lĩnh vực trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ ngày càng được thể hiện rõ hơn. Nhờ sự bổ sung, phát triển này mà quán triệt, cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý tốt một trong 10 mối quan hệ lớn mà Đại hội XIII đã xác định là “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đối với mọi lĩnh vực, chủ thể quốc gia trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Hai là, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới một cách trực tiếp đối với một những vấn đề thuộc lý luận về phương thức BVTQ của Đảng đã được xác lập từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến nay, với tính mới là sự tổng hợp và đúc kết lý luận về phương thức BVTQ được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII.

Phương thức chủ động giữ nước được Đảng liên tục quán triệt, bổ sung, phát triển trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đến đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh quốc tế và đất nước nổi lên những nguy cơ đặc biệt nguy hại cho sự nghiệp cách mạng, nhất là đối với nhiệm vụ BVTQ, Đảng đã xác lập nên quan điểm có tính chất xác định rõ hơn một trong những hình thức, phương pháp, biện pháp BVTQ là “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, nhằm quán triệt, phát huy truyền thống “Dựng nước đi đôi với giữ nước”, “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” của cha ông ta trong thời kỳ mới. Vấn đề này được thể hiện sơ lược trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX; được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, đồng thời được Đại hội XII khẳng định lại và xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định lại vấn đề này. Tuy nhiên, tính mới và đặc sắc nhất của lý luận về phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” ở Văn kiện Đại hội XIII là không còn chỉ thể hiện ở việc xác nhận lại, ghi lại ở riêng phần quốc phòng, an ninh nữa. Nghĩa là không còn xác lập và coi “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” chỉ thuộc về phần quốc phòng, an ninh và chỉ riêng thuộc về trách nhiệm của quốc phòng, an ninh nữa. Trái lại, nó đã được xác lập ở hầu khắp các phần khác, lĩnh vực khác và quy định các lĩnh vực khác cũng phải thực hành phương thức này. Cụ thể:

Trong “Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025”, Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Chủ động chuẩn bị các phương án để kịp thời thích ứng với những biến động của tình hình”. Trong 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, đã có ba định hướng xác định phương châm chủ động giữ nước như: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”; “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả”. Trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, Văn kiện Đại hội XIII xác định “Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế”. Trên lĩnh vực văn hóa, Văn kiện còn xác định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa”. Trên lĩnh vực y tế, đó còn là: “Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng”. Với lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu, Văn kiện yêu cầu: “Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời giảm thiểu các tác động bất lợi từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”… Như vậy, ngay từ mục tiêu đến những định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngành, lĩnh vực trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII đã quy định trách nhiệm cùng phải thực hiện phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của các ngành, lĩnh vực khác.

Đặc biệt, phương châm BVTQ từ sớm, từ xa được Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hóa bổ sung và phát triển thêm nội dung trên bốn lĩnh vực trọng yếu sau: Với quốc phòng, an ninh, đó là: “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”; “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Với đối ngoại, đó là: “Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, trong đó chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; “giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”. Với xây dựng Đảng, đó là: “Tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”; “Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”.

Rõ ràng, sự phát triển mới của phương thức BVTQ từ sớm, từ xa không còn được xác lập riêng cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh nữa, mà đã xác lập ở hầu khắp mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, sự chủ động giữ nước đó còn phải khuôn theo nguyên tắc “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”, nghĩa là không phải sự chủ động chỉ xuất phát từ mỗi lĩnh vực theo ý muốn riêng của ngành, lĩnh vực mình, mà phải tiến hành bằng “biện pháp hòa bình” và “phù hợp” với luật pháp quốc tế… Đây chính là sự phát triển mới về lý luận, vừa mang tính khẳng định lại, vừa bổ sung và tổng hợp một cách khái quát, hệ thống nhất về phương thức BVTQ, đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII.

Sự bổ sung, phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII không chỉ trực tiếp góp phần bổ sung, ngày càng hoàn thiện thêm lý luận BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng trong thời kỳ mới, mà còn góp phần vào thành công, cũng như khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Đại hội XIII trong lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giá trị thực tiễn của sự bổ sung, phát triển mới lý luận phương thức BVTQ đã và đang góp phần định hướng, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững của đất nước hiện nay. Nó trực tiếp giúp cho các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các chủ thể của các ngành, lĩnh vực này có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn đối với nhiệm vụ BVTQ đang diễn ra trong bối cảnh đất nước và quốc tế có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, khó dự báo hiện nay. Sự bổ sung, phát triển lý luận về phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn là một bước chuẩn bị hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp cho Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Nhà nước ta thực hiện Đề án tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 9 NĂM 1957!

     “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”.
     Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 07/9/1957.
     Thời điểm cách mạng nước ta đang bước vào thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo XHCN. Tình hình đó đặt ra phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đối với người đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ của mình. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực. Đồng thời, câu nói có ý nghĩa là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
     Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải là lực lượng xung kích, đi đầu, phải nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên cần không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.
     Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải thực sự là một tấm gương tốt cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải luôn đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi cao, do vậy phải có động cơ, thái độ đúng đắn, rõ ràng. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao”, coi đó là một nhu cầu tự thân. Không tự ti, giấu dốt, luôn có thái độ cầu tiến bộ, xóa bỏ tư tưởng chủ nghĩa cá nhân, vì tập thể, đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước. Có như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên mới thực sự mẫu mực về phẩm chất và năng lực, là tấm gương có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.
Môi trường ST.

Chăm lo xây dựng lực lượng dự bị động viên

 

Thao trường của Trung đoàn Minh Đạm (Bộ CHQS tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) nắng nóng, oi bức, nhưng các sĩ quan dự bị Đại đội Cối 82 (Tiểu đoàn Sông Dinh, Ban CHQS TP Bà Rịa) vẫn hăng say luyện tập các tư thế vận động trên chiến trường.

Tiếp thêm động lực phấn đấu

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng, Người từng dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”. Quán triệt sâu sắc lời huấn thị của Người, Trung đoàn 152 (Quân khu 9) và Trung đoàn 659 (Cục Hậu cần Quân khu 9) luôn chú trọng xây dựng động cơ phấn đấu cho từng cán bộ, chiến sĩ qua các phong trào thi đua.

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

 

Mới đây, khi ghé thăm một bạn đồng ngũ (cùng nhập ngũ ngày 21-8-1970 vào Tiểu đoàn 38, Bộ tư lệnh Thủ đô) là anh Nguyễn Quang Phấn ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), tôi được anh tặng bản "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (diễn đạt bằng thơ) do anh chuyển thể thành bài thơ gồm 80 câu thơ (560 từ) theo thể thơ bảy chữ. Nhận được món quà tinh thần rất có ý nghĩa từ người bạn cựu chiến binh, tôi dành thời gian đọc bài thơ rồi đối chiếu với "Di chúc" của Bác và bị cuốn hút từ đầu đến cuối bài thơ.

Doanh trại khang trang, cốt cách, tâm hồn đẹp

 

Đến Trung đoàn Vận tải 654 (Cục Hậu cần, Quân khu 4), chúng tôi ấn tượng ngay từ khi bước chân vào cổng đơn vị chính là cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp của đơn vị. Hệ thống doanh trại khang trang với thảm cỏ xanh mướt, bồn hoa, cây cảnh được chăm sóc, cắt tỉa đẹp mắt. Đi sâu vào bên trong đơn vị, các pa nô, khẩu hiệu được bố trí trang trọng.

Thiết thực chăm lo đối tượng chính sách

 

Tỉnh Vĩnh Long có hơn 70.000 đối tượng chính sách, trong đó có hơn 16.300 liệt sĩ, 4.500 thương binh, 2.850 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thời gian qua, cùng với các ban, ngành, đoàn thể, Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, thể hiện trách nhiệm, khơi dậy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” trong lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh.

MỸ VÀ NATO MÃI VẪN LÀ NHỮNG CON KỀN KỀN TRÁO TRỞ.!


Năm 1990 khi ngoại trưởng Mỹ mong muốn Liên Xô rút quân đồn trú khỏi Đông Đức để thống nhất nước Đức. Người Liên Xô đã rất quân tử khi rút 300 nghìn quân trong hoà bình để trả lại một nước Đức tươi đẹp. Và ngoại trưởng Mỹ đã hứa rằng Nato sẽ không tiến 1 milimet nào về phía đông. Thủ tướng Đức - Anh cũng đã hứa như vậy với Mikhail Sergeyevich Gorbachov. Và Liên Xô cũng chơi đẹp đến mức tuyên bố không ngăn cản tiến trình chính trị của khối Đông Âu nếu họ muốn. Ưng thì ở chán thì đi chứ không ngăn cản khối rời khỏi chủ nghĩa cộng sản và chỉ cần Mỹ và Nato đảm bảo đừng mở rộng khối về phía đông...
Nghe mà cảm thán cho một siêu cường trong buổi hoàng hôn của đế chế và những gì xảy ra sau đó là lịch sử. Thế Giới đã từng phải ngả mũ trước người "ANH CẢ" như thế .
NATO khi hứa như vậy có 16 thành viên còn bây giờ thì sao? là 30, và hầu hết là những nước thuộc Liên Xô cũ.
Và có những lúc người Nga tuyệt vọng đến mức đã muốn tham gia vào: NATO và EU. Tổng Thống Vladimir Putin từng xuống nước ngỏ lời với Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton trong chuyến thăm Mosscow năm 2000 rằng :
Vladimir Putin : Ngài có nghĩ chúng tôi có thể tham gia Nato không?
Bill Clinton: Không, chúng tôi không nghĩ như vậy...
Vladimir Putin: Ồ, nếu ta không thể là một liên minh, Tôi hi vọng các ngài cũng đừng trở thành Kẻ Thù của chúng tôi...
Sau này Khi tổng thống Nga Vladimir Putin yêu cầu Mỹ - Nato giữ lời hứa không mở rộng khối đến sát Nga thì Mỹ và Đồng Minh nói rằng: Chúng tôi chỉ hứa với Liên Xô và bây giờ Liên Xô đã không còn thì lời hứa cũng không còn nốt. Thế nên trong những năm qua Tổng Thống Vladimir Putin luôn yêu cầu một văn bản chính thức của Mỹ về việc không mở rộng khối liên minh đến biên giới Nga. Nhưng thay vì bàn bạc để có hoà bình thì người Mỹ phớt lờ yêu cầu đó và vươn cánh tay đến tận Ukraine.
Bạn có ngủ yên trên giường được hay không khi thằng Hàng Xóm cứ lăm le hướng tên lửa về phía nhà mình?
Trước đây, Rất nhiều chính trị gia của Phương Tây cũng nhận thấy Mỹ & Nato hạ nhục chèn ép Nga như vậy chưa bao giờ là một phương pháp hay nhưng Mỹ vẫn làm...
Và Chuyện Gì Phải Đến cũng đã đến. Nếu Nga không hành động thì Họ sẽ mất vị thế trên toàn cầu, và đến lúc này khi Tổng Thống Vladimir Putin đưa quân vào Ukraine thì chứng tỏ Nga đã không còn đường lùi... sau lưng họ là Mátxcơva! Là mái nhà của họ…
Ngày xưa 2 triệu quân Đức Quốc Xã với Hàng vạn xe Tăng cũng chỉ khiến Liên Xô lùi đến đấy. Lùi nữa đồng nghĩa với cái chết của nước Nga mà một người theo chủ nghĩa dân tộc như Tổng Thống Vladimir Putin không thể chấp nhận.
Cần Thế Giới để làm gì nếu không có nước Nga?
Một Trận Chiến là Tất Yếu, và nó đã thực sự xảy ra. Nếu có trách thì chỉ trách Ukraine quá ngây thơ khi tin vào lời hứa viển vông của Mỹ và Nato, bây giờ cứu vãn cuối cùng là Ukraine nhanh chóng ngồi vào bàn đàm phán lại với Nga và từ bỏ hoàn toàn ý định chống lại chính những người chung dòng máu Liên Xô cũ với mình… Nga sẽ thắng, thế nhưng Chiến Thắng nào cũng phải có mất mát hi sinh, thường dân sẽ là những người chịu khổ nhiều nhất, Cá Nhân tôi mong rằng ông: Tổng Thống Vladimir Putin sẽ kết thúc sớm để tránh quá nhiều thương vong cho cả 2 nước…
Gửi đôi lời đến báo chí và cộng đồng cư dân mạng Việt đang chửi bới và lên án nước Nga: Có thể các bạn đã quên hoặc còn quá trẻ để nhớ đến những gì Hồng Quân Liên Xô đã làm trong Thế Chiến.
Thế nhưng ít nhất các bạn được đi học Lịch Sử cũng phải được nghe đến những gì Liên Xô đã làm cho Việt Nam ta trong cả 2 cuộc chiến giành độc lập? Những viện trợ nhân đạo không hoàn lại từ người Anh Em xứ bạch dương trong nhiều thập kỉ qua các bạn còn nhớ?
Và Tôi xin nhắc lại lần nữa với Châu Âu: Để có những mùa hè rực nắng, hay mùa đông tuyết trắng đường, những công trình đẹp đẽ ngày hôm nay thì bên dưới đó chính là Máu, Máu của Hồng Quân Liên Xô, những người hùng đã giải cứu thế giới khỏi ách bạo tàn của Phát Xít: Đức, Ý, Nhật...
Các Bạn: Có thể Nhớ, có thể Quên, nhưng không bao giờ được phép Phủ Nhận...!!!
ĐT-QP

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - BIỂU TƯỢNG CỦA TINH HOA VÀ KHÍ PHÁCH DÂN TỘC VIỆT NAM

 

Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói đến biểu tượng của tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng và khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Tất cả những gì tốt đẹp nhất của dân tộc ta trong hàng nghìn năm lịch sử đều được kết tinh, hun đúc, sống dậy, tràn đầy sức mạnh hơn bao giờ hết trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, trong thời đại Hồ Chí Minh.
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm chứa những giá trị tinh thần cao quý như độc lập, tự do, hạnh phúc, loại bỏ bất công, bất bình đẳng, hòa bình và công lý, một thế giới mới chống lại đói nghèo, bệnh tật, dốt nát.
Chủ nghĩa yêu nước, giá trị hàng đầu, nhất quán, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam xuất hiện từ thời cổ đại, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, đến thời đại Hồ Chí Minh, là một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam và nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi thì đích thực là đạo Việt Nam”(1). Trải qua các giai đoạn lịch sử từ cái nôi Văn Lang - Âu Lạc đến thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc chống đô hộ Hán, Đường, qua kháng chiến chống xâm lược thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có cách biểu hiện cao thấp, sắc thái khác nhau, nhưng ngày càng phát triển cả bề rộng và sâu, đậm đà cốt cách Việt Nam. Đến giai đoạn lịch sử cận đại, khi triều Nguyễn lên ngôi, giai cấp phong kiến Việt Nam từng bước từ bỏ ngọn cờ yêu nước, giai cấp tư sản không đủ sức giương cao ngọn cờ yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được giai cấp công nhân nâng lên một tầm cao mới.
Được ánh sáng khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Lênin (chủ nghĩa Mác - Lênin) soi sáng, Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Từ đó trở đi, Người cùng với Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam - Đảng do Người sáng lập và rèn luyện - phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống, đưa vào những nội dung mới, chất lượng mới, trở thành một bộ phận của tinh thần quốc tế, kết hợp nhuần nhuyễn, phát huy một cách hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong toàn bộ tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa yêu nước là thứ của quý, động lực tinh thần lớn nhất cho cách mạng, kháng chiến và xây dựng. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước “có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”(3).
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát kiến lại chủ nghĩa yêu nước truyền thống không phải bằng lý luận, sách vở thuần túy mà chủ yếu thông qua thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người sử dụng liên tục chủ nghĩa yêu nước như một vũ khí và rèn luyện vũ khí ấy ngày càng sắc bén trong trường kỳ cách mạng và kháng chiến. Người chỉ rõ: “Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội và nhân dân ta đã mấy năm trường chịu đựng trăm đắng nghìn cay, kiên quyết đánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyết xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, một nước Việt Nam dân chủ mới”(4).
Sau gần 90 năm (1858-1945), dân tộc ta đánh Pháp, Nhật và chế độ phong kiến với tinh thần Hồ Chí Minh trong lời hiệu triệu: “Dân ta một cổ hai tròng. Đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô lệ cho Nhật. Trước tình cảnh đau đớn, xót xa ấy, ta có chịu khoanh tay chờ chết không? Không, quyết không! Hơn 20 triệu con Lạc cháu Hồng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi!... Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”(5). Cuối cùng, chúng ta đã thắng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!(6).
Khi thực dân Pháp trở lại cướp nước ta một lần nữa, lời hịch của ông cha ta tự ngàn xưa vang vọng trong lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Chúng ta phải đứng lên… Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(7). Sau chín năm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn, đem thân làm giá súng”, chúng ta đã viết nên thiên sử vàng Điện Biên, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Hơn hai mươi năm tiếp theo, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở cả miền Nam và miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ hào khí Việt Nam, khảng khái tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(
😎
. “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(9). Cuối cùng, Mỹ phải cút, ngụy phải nhào, Tổ quốc thống nhất, giang sơn thu về một mối. Chúng ta “có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”(10).
Nhiều dân tộc trên thế giới bị xâm lược và đứng lên chống xâm lược, không riêng Việt Nam, nhưng như Việt Nam thì không nhiều. Nhiều người nước ngoài không hiểu nổi sức mạnh của dân tộc Việt Nam là gì? Vì sao dân tộc Việt Nam thời trung đại, không những không bị Hán hóa, mà còn giành được độc lập dân tộc? Ba lần đánh bại quân Mông, Nguyên, những kẻ luôn luôn chiến thắng từ Á sang Âu? Từ một nước nông nghiệp, khoa học kỹ thuật kém phát triển, đã vùng lên giải phóng, đánh bại các cuộc xâm lược của các đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ? Còn nhiều câu hỏi vẫn phải tiếp tục tìm câu trả lời hoàn toàn thuyết phục.
Việt Nam đất không rộng, người không đông, vũ khí súng đạn không nhiều, không lớn, luôn phải đối mặt với những cường quốc to lớn hơn mình gấp nhiều lần. Vậy khí phách của dân tộc Việt Nam là gì? Câu trả lời nằm ở chỗ một dân tộc biết đặt tâm lý tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu; luôn coi trọng luân lý biết hy sinh lợi ích cá nhân mình, làm lợi cho quần chúng. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh kéo dài hàng nghìn năm đã nhào nặn tâm hồn Việt Nam, đạo lý và khí phách Việt Nam. Chúng ta tự hào về một dân tộc rắn rỏi, kiên trung, hiên ngang, có tinh thần độc lập tự chủ, lạc quan, sáng tạo, thương người, chính nghĩa, đại nghĩa, trước “sóng cả không ngã tay chèo”.
Những giá trị đó có tự ngàn xưa, được vun bồi, kết tinh, sống dậy trong Hồ Chí Minh, phát sáng hào quang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do; là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính nhân đạo, tượng trưng cho tinh thần của dân tộc “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(11); “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12); “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp mình đã”(13). Để khởi nghĩa thắng lợi, Người khái quát và nâng cao tinh thần, khí phách của dân tộc: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(14).
Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt vời về nhiệt tình, chí khí cách mạng kiên cường, khí phách anh hùng, tinh thần độc lập tự do, một lòng kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, lâu dài, phức tạp, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; thắng không kiêu, bại không nản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.
Nguyễn Trãi viết: “Lấy đại nghĩa thắng hùng tàn/Dùng chí nhân thay cường bạo”.
“Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt tối rồi lại minh
Để mở nền muôn thuở thái bình
Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.
Đó là một khía cạnh đặc trưng thuộc tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam - tinh hoa và khí phách về khát vọng đổi mới, hạnh phúc và phát triển bền vững, thái bình. Hồ Chí Minh tiếp nối, phát triển, nâng cao khát vọng đó với tâm nguyện đến ngày thắng lợi sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, hơn mười ngày nay. Trong Di chúc, Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(15).
Thế giới khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế, đồng thời tượng trưng cho dân tộc mình, một dân tộc trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thời cổ trung đại đến cận hiện đại đã tiến hành liên tục các cuộc đấu tranh anh hùng để bênh vực những giá trị đạo đức cao cả, chân chính không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại, đó là quyền sống, độc lập, tự do, hạnh phúc, công lý cho mọi dân tộc và vì mọi người, bình đẳng giữa các dân tộc, thế giới hòa bình.
Năm 1980, trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới, Rômét Chanđra nhấn mạnh: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(16).
Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ rõ phẩm chất của một nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cách mạng vô sản dũng cảm kiên cường, triệt để, suốt đời hy sinh phấn đấu với niềm tin và tư thế của một người chiến thắng. Đó là khí phách và khát vọng của những người được sứ mạng lịch sử trao cho là đánh đổ xã hội cũ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy dân làm gốc.
Hai mươi năm sau, năm 2000, trên cương vị Chủ tịch danh dự Hội đồng Hòa bình thế giới, phát biểu trong Hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX”, Rômét Chanđa có một phát hiện độc đáo khác: “Trong nửa sau thế kỷ XX, có một từ đã xuất hiện trong tiếng nói của những người bảo vệ và kiến tạo hòa bình trên thế giới, một từ mà cùng một lúc mang rất nhiều ý nghĩa: đấu tranh, dũng cảm, anh hùng; và nó còn có ý nghĩa là chiến thắng, độc lập, tự do. Từ đó là Việt Nam. Và có một cái tên luôn luôn gắn với từ này - từ chỉ tên của một đất nước. Đó là Hồ Chí Minh… Người là niềm cảm hứng cho cuộc đấu tranh bất khuất của dân tộc mình, và cũng là nguồn cảm hứng cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho những điều tốt đẹp nhất của nhân loại. Lời nói bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã vang vọng khắp mọi nơi và nó đã được phụ nữ, nam giới trên khắp các châu lục, những người đang chiến đấu để giành lấy những mục tiêu thiêng liêng đó, hưởng ứng”(17).
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, “một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(18).
Vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử. “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là lời kêu gọi cứu nước khẩn thiết hiện nay của Tổ quốc, là lời hịch của ông cha ta vang vọng tự ngàn xưa, là nghĩa vụ thiêng liêng của chúng ta đối với muôn đời con cháu”(19). Người “là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta”(20).
Đánh giá, ghi nhận của Đảng ta và bè bạn quốc tế là sự khái quát cao, cô đọng, súc tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu tượng cho tinh hoa và khí phách của nhân dân Việt Nam anh hùng.
PGS.TS. Bùi Đình Phong

 CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN

Ông là kiến trúc sư hàng đầu trong Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài suốt 20 năm và cũng chính ông là người đã vạch ra chiến lược cách mạng ở miền Nam Việt Nam với Đề cương cách mạng miền Nam. Từ bản đề cương này, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ ở miền Nam nổ ra, dọn đường cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công và giải phóng hoàn toàn miền Nam vào năm 1975 kết thúc cuộc kháng chiến vệ Quốc vĩ đại.
Hòa bình tưởng chừng đã được lặp lại ở Việt Nam sau năm 1975, nhưng không, chúng ta phải đối diện với 1 cuộc chiến khác, 1 cuộc chiến mà bản chất của nó đã được nhận định ngay từ lúc đầu khi ông Ba Quốc (Đặng Trần Đức) báo cáo công tác tình báo cho TBT Lê Duẩn năm 1977: “Thưa anh Ba, có lẽ, chúng ta nên chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới có thể sẽ phải chiến đấu ở cả hai đầu mặt trận“. Năm 1978, những nhận định của công tác tình báo lập tức được trình ra trước trung ương để nhận định về kẻ thù phải đối mặt, Bộ Chính trị và trung ương lúc đó đã nhận định rõ kẻ thù và kẻ nguy hiểm nhất thời điểm đó, đến từ phía Bắc và bè lũ Sen đầm quốc tế do Mỹ và Singgapo cầm đầu, còn Polpot chỉ là mục tiêu thứ yếu, một lần nữa, dưới sự chỉ huy của dũng tướng Lê Trọng Tấn, đội quân bách chiến bách thắng lại thân chinh ra trận để cứu không chỉ chúng ta mà còn cứu cả Đông Nam Á, thoát khỏi viễn cảnh như Trung Đông hiện nay.
Lịch sử cần có những người hy sinh sự nghiệp, danh dự của mình vì cái chung, vì đại cục, sự vĩ đại của người Lãnh tụ cách mạng là nằm ở tố chất đó và Lê Duẩn là 1 trong số đó, ông hy sinh cả đời mình, chịu nhiều thiệt thòi kể cả lúc sống và sau khi ông mất, không nhận bất cứ công lao gì về mình, mặc dù ông là người có vai trò cực kỳ quan trọng, có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc kháng chiến nhất thống giang sơn và bảo vệ Tổ quốc sau này, ông làm những gì có thể nhất vì đất nước này, vì dân tộc này, vì thế hệ này, và vì chế độ này, giống như lời nhận định của Pierre Asselin: “Với Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông ấy tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều gây nguy hại cho an ninh quốc gia" và trong một nhận xét khác có tính khẳng định hơn, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Javier Pérez de Cuéllar khẳng định: “Ngài Tổng Bí thư Lê Duẩn đã giữ một vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử của Việt Nam cũng như lịch sử thế giới trong thế kỷ 20”.
Để nhắc tới những cuộc vệ quốc vĩ đại đã qua của dân tộc, không thể không nhắc đến ông - Lê Duẩn, thế kỷ này, thế kỷ sau và hàng trăm năm sau, cái tên của ông vẫn sẽ đi vào lịch sử như 1 Bismark của Đông Nam Á, tầm vóc và sự vĩ đại của ông cho đến tận ngày nay thế giới vẫn chưa thể đánh giá hết, ngay cả bởi chính chúng ta.
“Sự trung thành đối với chủ nghĩa dân tộc của Lê Duẩn, là điều khiến cho Việt Nam là nước tiên phong trên toàn thế giới đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đất nước“.
Sưu tầm

QUY ĐỊNH PHÂN CẤP QUẢN LÝ CÁN BỘ, BỔ NHIỆM, GIỚI THIỆU CÁN BỘ ỨNG CỬ


Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký ban hành Quy định số 80-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
Quy định này áp dụng đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị.
Quy định nhằm tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng; bảo đảm chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ.
Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của hệ thống chính trị; đánh giá cán bộ khách quan, công tâm; lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Quy định nêu rõ các nội dung về phân cấp quản lý cán bộ; bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử; bổ nhiệm lại, giới thiệu tái cử; điều động và biệt phái cán bộ.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ
Theo Quy định số 80-QĐ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện định hướng và quyết định những chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trực tiếp quyết định một số nội dung trong công tác cán bộ; phân công, phân cấp cho các cấp ủy, tổ chức đảng quyết định một số nội dung đối với các chức danh lãnh đạo thuộc diện Trung ương quản lý và các chức danh cán bộ khác; ủy quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư quyết định một số khâu, nội dung trong công tác cán bộ.
Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ công tác, sinh hoạt đảng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có cán bộ thuộc diện cấp trên quản lý và chịu trách nhiệm trước cấp có thẩm quyền về phạm vi được phân cấp, ủy quyền trong quản lý cán bộ.
Trường hợp một người đồng thời đảm nhiệm nhiều chức vụ thuộc thẩm quyền quản lý của các cấp khác nhau thì cấp quản lý chức vụ cao nhất xem xét, quyết định.
Bộ Chính trị chuẩn bị và giới thiệu nhân sự để Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, bầu Tổng Bí thư
Về trách nhiệm và quyền hạn của Bộ Chính trị, Quy định nêu rõ, Bộ Chính trị quyết định chủ trương, chính sách về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng những vấn đề lớn về công tác cán bộ, chiến lược cán bộ; chuẩn bị và giới thiệu nhân sự để Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương (Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương), Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương và giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước khi giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu, phê chuẩn đối với các chức danh: Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước, các thành viên Chính phủ. Cùng với đó, kỷ luật cán bộ và những vấn đề khác về công tác cán bộ thuộc thẩm quyền của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Bộ Chính trị quyết định phân công công tác đối với Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (cả chính thức và dự khuyết). Phê duyệt quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Chỉ định Bí thư, Phó Bí thư và Ủy viên Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương. Khi cần thiết chỉ định bí thư, giao quyền bí thư hoặc giao phụ trách đảng bộ trực thuộc Trung ương.
Đồng thời Bộ Chính trị quyết định phân công, phân cấp quản lý cán bộ đối với các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; ủy quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư trong phạm vi, lĩnh vực phụ trách xem xét quyết định phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử đối với cán bộ diện Bộ Chính trị quản lý giữ các chức danh, chức vụ có cơ cấu kiêm nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức nghị sỹ hữu nghị của Việt Nam với các nước, các ban chỉ đạo theo quy định…
Ban Bí thư quyết định kiểm tra, giám sát công tác cán bộ theo ủy quyền của Bộ Chính trị
Về trách nhiệm và quyền hạn của Ban Bí thư, theo Quy định, Ban Bí thư quyết định kiểm tra, giám sát công tác cán bộ theo ủy quyền của Bộ Chính trị. Ban Bí thư ủy quyền cho các đồng chí: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư trong phạm vi, lĩnh vực phụ trách xem xét quyết định phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử đối với cán bộ diện Ban Bí thư quản lý giữ các chức danh, chức vụ có cơ cấu kiêm nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức nghị sĩ hữu nghị của Việt Nam với các nước, các ban chỉ đạo theo quy định…
Thường trực Ban Bí thư có trách nhiệm chủ trì cùng Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét kết quả bầu cử và quyết định chuẩn y ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và các chức danh bầu bổ sung của các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. Chỉ định bổ sung cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy trực thuộc Trung ương, ủy viên đảng đoàn, ban cán sự đảng trực thuộc Trung ương theo quy định của Điều lệ Đảng.
Thường trực Ban Bí thư cho ý kiến về nhân sự thư ký của các đồng chí: Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội.
Quy định số 80-QĐ/TW cũng quy định về phân cấp quản lý đối với cán bộ đã thôi giữ chức vụ hoặc nghỉ hưu; các nguyên tắc, trách nhiệm và thẩm quyền, quy trình bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, cũng như tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức vụ cao hơn, thủ tục bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý…
Quy định này có hiệu lực kể từ ngày ký; và thay thế Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị./.
Có thể là hình ảnh về 1 người
29
1 bình luận
17 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ