Thứ Năm, 6 tháng 10, 2022

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

 

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra.

 “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản 

Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”...

Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng - con đường dẫn đến “tự triệt tiêu mình”
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.

Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo.

Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất

Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu.

Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự.

Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”.

Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.

Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản.

Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn.

Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.

Vài suy nghĩ về trách nhiệm của Đảng viên với công tác xây dựng Đảng

 

Vai trò của công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng - sống còn, cần được chú trọng đẩy mạnh và nâng cao, đó cũng chính là trách nhiệm của từng Đảng viên.

Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong Điều lệ Đảng được Đại hội X của Đảng, Đảng và Bác đều khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền”. Là một Đảng cầm quyền, Đảng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó hai nguy cơ lớn nhất đã được Bác chỉ rõ là: sự sai lầm về đường lối và sự suy thoái, biến chất của đội ngũ cán bộ, Đảng viên.


Xây dựng Đảng. (Ảnh minh họa. Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Chính vì vậy, vai trò của công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa quan trọng - sống còn, cần được chú trọng đẩy mạnh và nâng cao, đó cũng chính là trách nhiệm của từng Đảng viên. Việc xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi Đảng viên là thiết yếu để duy trì sự lớn mạnh và phát triển của Đảng trong thời đại mới, thời đại của hội nhập quốc tế. Điều này cũng được Đảng ta nhấn mạnh trong Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII): “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Để làm tốt công tác xây dựng Đảng, cá nhân mỗi Đảng viên cần phải:

- Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, không hoang mang, dao động, hoài nghi và giảm sút lòng tin vào con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn trong bất cứ tình huống nào, kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhất. Đảng viên cần phải luôn kiên định với đường lối đổi mới của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống các khuynh hướng giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, vô nguyên tắc. Mỗi đảng viên cần phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có đạo đức cách mạng trong sáng.

- Luôn đi tiên phong, gương mẫu, nghiêm chỉnh thực hiên Quy định của Ban chấp hành trung ương về những điều đảng viên không được làm. Tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước, giữ nếp sống văn hóa, gần gũi lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Từ đó chủ động tuyên truyền vận động nhân dân tích cực thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Luôn chủ động và tích cực trong thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của mình. Cùng tuyên truyền và học tập gương người tốt, việc tốt quanh mình để ngày một nhân rộng, tạo ra một xã hội dân chủ, văn minh.

- Luôn tự rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Luôn đề cao mục tiêu: “Xây dựng Đảng trọng sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Mạnh dạn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tham gia ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi.

- Luôn mạnh dạn và chủ động trong tự phê bình và phê bình của Đảng viên. Khi thấy có vi phạm hoặc những biểu hiện sai trái, người đảng viên cần mạnh dạn và chủ động báo cáo ý kiến trực tiếp hoặc bằng văn bản hoặc chất vấn trong phạm vi hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng mình tham gia sinh hoạt.

- Tích cực tham gia công tác dân vận nhằm tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, vận động quần chúng nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước. Luôn tôn trọng, lắng nghe và lĩnh hội ý kiến của quần chúng nhân dân góp ý cho đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng, bởi trí tuệ trong dân là vô hạn, từ đó mỗi cán bộ đảng viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng để hoàn thiện mình, góp phần làm cho Đảng ta trong sạch, được nhân dân tin yêu, ủng hộ.

- Luôn quan tâm chăm lo cho quần chúng và đồng nghiệp là những người trẻ, phát hiện quần chúng ưu tú bồi dưỡng cho họ để bổ sung vào lực lượng của Đảng góp phần phát triển Đảng. Trong Di chúc của mình, Bác đã viết: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

- Mỗi Đảng viên cần tích cực nghiên cứu, tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng các hoạt động của tổ chức Đảng một cách hiệu quả và bài bản góp phần đôn đốc, tạo điều kiện, và động viên các đảng viên khác thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng. Mỗi cơ sở tổ chức Đảng cần phải xây dựng chương trình hoạt động cụ thể hàng tháng, hàng quý và hàng năm, kịp thời đánh giá kiểm điểm những mặt đã đạt được và những tồn đọng cần khắc phục, cũng như đưa ra hướng khắc phục kịp thời hiệu quả cho từng đảng viên và cả tổ chức Đảng. Bên cạnh đó việc đánh giá, kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật đối với tổ chức cơ sở Đảng và từng Đảng viên một cách công bằng và khách quan cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi mỗi Đảng viên cần tích cực tham mưu cho lãnh đạo các cấp của Đảng để không ngừng cải tiến các chương trình hoạt động.

- Những Đảng viên là trí thức hoạt động và làm việc trong các lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao ở các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước, cũng như trong các công ty nước ngoài cần ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình đồng thời khuyến khích đồng nghiệp trong việc lĩnh hội, phát triển công nghệ phục vụ cho sản xuất và phát triển kinh tế đất nước. Các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài thường có giá rất đắt hoặc đã lỗi thời, chính vì vậy việc học hỏi và nghiên cứu công nghệ của riêng mình trở thành lợi thế cho phát triển kinh tế đất nước là hết sức quan trọng. Vận động, bồi dưỡng quần chúng là trí thức bổ sung vào hàng ngũ của Đảng. Đó cũng là một phần trong việc thực hiện công tác xây dựng phát triển Đảng của người đảng viên, giúp Đảng thực sự trở thành nơi hội tụ của tinh hoa văn hóa, trí tuệ của dân tộc, của nhân dân, luôn đi đầu trong mọi lĩnh vực từ đó nâng cao sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng và giữ được niềm tin tuyệt đối của nhân dân đã và đang dành cho Đảng ta.

NGUYỄN VĂN QUẢNG

Đưa cuộc sống vào nghị quyết

 

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng nghị quyết nói riêng, là một nội dung quan trọng được Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII của Đảng tập trung thảo luận, gợi mở nhiều vấn đề mới. Đáng chú ý là các đồng chí Trung ương đã thẳng thắn đúc rút: Để sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống thì trước hết phải đưa cuộc sống vào nghị quyết!

Có nghĩa là phải lấy thực tiễn làm căn cứ, cơ sở quan trọng để xây dựng nghị quyết; là môi trường, điều kiện vận hành nghị quyết; đồng thời là thước đo, chân lý kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả lãnh đạo bằng nghị quyết.

Thời gian qua, không ít tổ chức cơ sở đảng xây dựng nghị quyết chủ yếu bám vào chủ trương, giải pháp của cấp trên và xem đó như một căn cứ duy nhất và cao nhất. Nói cách khác là nghị quyết cấp trên xác định thế nào thì cấp dưới cứ thế “sao chụp”, mà quên rằng thực tiễn mới là căn cứ quan trọng hàng đầu. Thành thử, ở nhiều nơi, nghị quyết khi được ban hành thường có nội dung chung chung, phương phưởng; dù “đúng” đường lối, nhưng chưa “trúng” với đòi hỏi thực tiễn. 

Đưa cuộc sống vào nghị quyết
Ảnh minh họa: TTXVN 

Để nghị quyết sát thực tiễn, việc hết sức quan trọng là tổ chức đảng nơi ấy phải xác định bằng được, rằng địa phương, cơ quan, đơn vị mình đang cần gì, khả năng lãnh đạo đến đâu, dự báo kết quả đạt được như thế nào, vấn đề lãnh đạo trọng tâm, những ưu tiên trước mắt và chiến lược lâu dài... Có nghĩa, tinh thần nghị quyết tất yếu phải bám sát chủ trương của trên, nhưng chất liệu thực tiễn mới là phần lõi của nội dung nghị quyết. Khảo sát một số tỉnh ở địa bàn Tây Nguyên cho thấy, nhiều đảng bộ cấp huyện, xã có xu hướng quy kết con số phần trăm (%) về con số thực trên thực tế gắn với địa bàn. Ví như, nghị quyết cấp trên xác định phải giảm 5% hộ nghèo/năm thì về đến cấp huyện, cấp xã phải cụ thể 5% ấy tương ứng với bao nhiêu hộ trên địa bàn; rồi cân nhắc xem có nâng lên hay hạ xuống về chỉ tiêu hay không; thực hiện số lượng ấy bằng cách nào... Cũng ở những địa phương này, con số phần trăm được nhìn nhận, đánh giá hết sức linh hoạt, phù hợp. Đều đạt 1% chỉ tiêu, nhưng ở địa phương này là một thành tích đáng ghi nhận; nhưng tại nơi khác thì đó là khuyết điểm lớn trong công tác lãnh đạo. Có nghĩa, kết quả lãnh đạo được đánh giá thực chất, chứ không cào bằng.

Công bằng mà nói, đưa thực tiễn vào nghị quyết là việc khó, đòi hỏi sự linh động, sáng tạo, cho nên khi chủ trương đã được quyết nghị, ban hành thì không cứ xem đó là “chiếu lệnh” để bằng mọi giá hiện thực một cách cứng nhắc; hoặc dùng các thủ thuật để thổi phồng thành tích, hòng "báo công" hay "tự đắc" rằng tổ chức mình đã lãnh đạo hoàn thành 100% chỉ tiêu. Đó là tư duy và cách làm sai lệch, thậm chí là vi phạm quy định, kỷ luật Đảng. Theo nghĩa đó, nghị quyết dù đã ban hành, nhưng phải căn cứ vào diễn biến thực tiễn để không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện, bổ sung, điều chỉnh... sao cho thật hợp lý, có tính khả thi cao.

Thực tiễn không chỉ là căn cứ xây dựng nghị quyết, là mảnh đất màu mỡ để hiện thực chủ trương mà quan trọng hơn, thực tiễn còn là tiêu chí, thước đo đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết. Ấy nhưng vẫn còn không ít tổ chức cơ sở đảng đánh giá kết quả nghị quyết nặng cảm tính, áp đặt, xa rời thực tế, thiếu định lượng... Thậm chí, có nơi tổng kết nghị quyết nhưng nội hàm, nội dung lại chẳng khác gì một báo cáo thành tích; chưa hướng trọng tâm vào việc nêu bật cách thức, phương thức, kinh nghiệm lãnh đạo. Những bài học mạnh-yếu thường được “sao chép”, chỉnh sửa lại từ nghị quyết cũ; ưu điểm thì dài dòng, nhưng khuyết điểm thì chỉ thể hiện ở một vài “gạch đầu dòng” ngắn ngủi...

Để sớm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống thì việc cần kíp hiện nay là phải quyết liệt đổi mới tất cả các nhân tố, các khâu, các bước, từ việc xây dựng nghị quyết, tổ chức học tập, lãnh đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, đánh giá tổng kết... trên cơ sở bám sát thực tiễn sinh động. Phải đổi mới đồng bộ, nhưng có ưu tiên, chọn khâu đột phá, làm đồng thời ở tất cả các cấp trong hệ thống tổ chức đảng. Có vậy thì nghị quyết mới thật sự là văn kiện giá trị, được đúc rút, tổng kết từ thực tiễn và quay trở lại “soi đường” cho thực tiễn.

Vai trò của từng đảng viên trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh

 

  - Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, ngày 10/5/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Phải xác định rõ tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng”. Từ đó, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Đội ngũ đảng viên có vai trò trực tiếp và là nhân tố cơ bản quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, đảng viên, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng…”.

Thực tiễn cũng như lý luận cho thấy, công tác xây dựng tổ chức đảng nói chung và tổ chức đảng ở cơ sở nói riêng có vai trò, trách nhiệm rất lớn của từng đảng viên.

Trước hết, đó là việc thực hiện đúng nguyên tắc, đầy đủ các nhiệm vụ của người đảng viên. Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc đối với mỗi đảng viên mà không thể viện lý do để từ chối hoặc thực hiện không đầy đủ. Chẳng hạn, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, mỗi đảng viên cần mạnh dạn thể hiện quan điểm, chính kiến của mình, nhất là với các vấn đề liên quan đến việc bảo đảm tính nguyên tắc trong sinh hoạt và tổ chức của chi bộ. Tức là đảng viên không thể thụ động trong việc nắm bắt các nguyên tắc, không thể đợi mời mới phát biểu… mà phải chủ động tham gia vào các công việc chung của tổ chức đảng. Hay trong việc thực hiện các phân công cụ thể, đảng viên phải nỗ lực hoàn thành ở mức cao, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu chung của đơn vị mà còn làm gương cho quần chúng; không thể viện dẫn các lý do riêng để thoái thác hoặc bao biện cho việc chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, mỗi đảng viên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng nghị quyết, kế hoạch triển khai nghị quyết, định hướng hoạt động cùng các công tác xây dựng tổ chức đảng… của chi bộ và của đơn vị. Thực tế cho thấy, có một số đảng viên thụ động, ít mạnh dạn đề xuất các giải pháp, không có nhiều sáng kiến để thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị hay công tác xây dựng Đảng của chi bộ, mà thường chỉ đơn giản đồng ý với các ý kiến của cấp ủy, của bí thư chi bộ, trừ khi có liên quan trực tiếp đến lợi ích của bản thân. Trong khi đó, vai trò lãnh đạo của chi bộ thể hiện tính chất tập thể rõ nét, luôn cần phát huy trí tuệ của tất cả các đảng viên, nhằm góp phần thể hiện ý chí và trí tuệ tập thể. Không chỉ vậy, sự chủ động và tích cực tham gia còn góp phần làm cho đảng viên nâng cao trách nhiệm và có thêm cơ hội trau dồi kiến thức, kỹ năng về các vấn đề có liên quan đến nội dung đề xuất.

Không chỉ vậy, các đảng viên cần thể hiện tính kỷ luật, tính đảng đối với các vấn đề mang tính tranh đấu, ngay trong nội bộ. Thí dụ, thấy bí thư, cấp ủy viên có biểu hiện áp đặt, thiếu tôn trọng ý kiến của tập thể, thì cần phải thẳng thắn nêu ý kiến, vận dụng các quy định và sức mạnh tập thể để trao đổi, thậm chí phải đấu tranh để khắc phục tình trạng đó. Hoặc phát hiện đảng viên sử dụng mạng xã hội đưa những nội dung chưa phù hợp thì cần trực tiếp góp ý, trao đổi, cần thiết có thể báo cáo với cấp ủy để có biện pháp uốn nắn, giáo dục; trong trường hợp đặc biệt thì còn phải đưa ra tập thể xem xét, chấn chỉnh. Điều này yêu cầu đảng viên không được xuê xoa, cầu an, thỏa hiệp, nhất là với các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu… của tổ chức đảng.

Ngoài ra, trong điều kiện cụ thể, từng đảng viên có thể tham gia một số hoạt động phong trào hoặc nâng cao để góp phần giúp tổ chức đảng tham gia các sinh hoạt chính trị do cấp trên tổ chức hoặc để giành thành tích đặc biệt trong các cuộc vận động. Chẳng hạn, đảng ủy cấp trên cơ sở tổ chức cuộc thi bí thư chi bộ giỏi, với thành phần dự thi là bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên, người được quy hoạch các chức danh trên từ các tổ chức đảng cơ sở và trực thuộc, thì cần những đồng chí mạnh dạn và tích cực tham gia. Đây là dịp để học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng, đồng thời có thể đem lại những thành tích của tổ chức đảng, có thể giúp được đánh giá các mức độ hoàn thành nhiệm vụ cao trong năm cho cả tổ chức đảng và cá nhân.

Sau cùng, từng đảng viên còn phải nỗ lực tham gia vào việc duy trì thành tích đã đạt được hoặc phấn đấu nâng cao chất lượng hoàn thành nhiệm vụ theo từng năm. Chẳng hạn, đối với tổ chức đảng đã được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm trước thì năm sau phải phấn đấu giữ vững thành tích đó. Đương nhiên, ở đây không phải chạy theo thành tích hoặc cố giữ thành tích bằng mọi giá mà chính đó là một mục tiêu quan trọng để nỗ lực, bởi bên cạnh việc khẳng định kết quả năm trước là xứng đáng còn có ý nghĩa hướng đến các thành tích cao hơn, như tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu hoặc là tổ chức đảng xuất sắc 5 năm liền… Ở trường hợp ngược lại, nếu tổ chức đảng chỉ được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ thì cả tập thể cần phải phấn đấu quyết liệt để nâng chất đánh giá, trong đó chú ý khắc phục triệt để các hạn chế, yếu kém của năm trước, cả phía tổ chức đảng lẫn phía cá nhân đảng viên. Trong đó, nếu có đảng viên có khuyết điểm, chưa hoàn thành nhiệm vụ hoặc có vấn đề cần chấn chỉnh thì cả tổ chức đảng phải giúp đỡ đảng viên đó vươn lên, đồng thời không để hạn chế đó “lây lan” đến đảng viên khác…

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn gợi ý nhiều giải pháp quan trọng như nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng phải gắn liền với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phải lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; thường xuyên kết hợp giữa xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh với củng cố, chấn chỉnh cơ sở đảng yếu kém; coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đi đôi với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, vai trò tiên phong, gương mẫu trong sinh hoạt đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, bồi dưỡng quần chúng, đối tượng cảm tình đảng, trước khi vào Đảng phải thực sự là những quần chúng ưu tú không chỉ về năng lực công tác mà phải thực sự tiêu biểu về phẩm chất, đạo đức, lối sống, có động cơ trong sáng; thường xuyên rà soát, sàng lọc, kịp thời và kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng…

Suy cho cùng, các giải pháp này gắn liền với từng tổ chức đảng ở cơ sở, đồng thời gắn với từng đảng viên, bởi nếu các đảng viên không tham gia hoặc vai trò, trách nhiệm của từng đảng viên không được phát huy thì các giải pháp nêu trên cũng sẽ rất khó thực hiện đầy đủ.

Vân Tâm

Độc lập dân tộc, hạnh phúc nhân dân là đôi cánh nâng đất nước bay cao, bay xa

 Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong nghìn đời của nhân dân ta. Người dân Việt Nam đã thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là cuộc Cách mạng chân chính của những người bị mất tự do và bị áp bức bóc lột được Đảng Cộng sản Việt Nam giác ngộ, tổ chức thành công. Sau tám mươi năm bị thực dân Pháp xâm lăng và đô hộ, tiếp đó là phát xít Nhật cai trị, người Việt Nam đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, lập ra Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Những người cộng sản không phải là lực lượng xã hội đầu tiên ở Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1858, dấu giày viễn chinh đến từ nước Pháp đã hằn in lên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cho cuộc xâm lăng Việt Nam lần thứ nhất. Không ít phong trào, cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp nổi lên ngay lúc kẻ thù đặt chân lên non sông này. Các phong trào và cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp khi ấy do những vị vua và các sĩ phu phong kiến yêu nước lãnh đạo.

Mở đầu là phong trào Cần Vương dưới ngọn cờ mang tinh thần trung quân ái quốc của vua Hàm Nghi và kết thúc là cuộc khởi nghĩa vũ trang kéo dài ba mươi năm ở mảnh đất Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy. Khởi nghĩa Yên Thế kết thúc cho một giai đoạn chống giặc Pháp xâm lược đặt dưới ngọn cờ của các vị vua và sĩ phu yêu nước. "Bi tráng" và "Thất bại" là hai từ khái quát nhất nói về giai đoạn lịch sử tăm tối này. Thế hệ sau Hoàng Hoa Thám đã chọn con đường khác, cách thức khác để giải phóng dân tộc và họ đã làm nên sự kiện lịch sử vĩ đại như ta đã nói tới: Cách mạng mùa Thu năm Ất Dậu 1945.

Cuộc Cách mạng nổ ra cách đây 77 năm nhưng những gì nổi bật trong mùa Thu ấy vẫn còn chưa mờ phai trong ký ức dân tộc. Ký ức về một cơn lũ lịch sử ở khắp ba miền dâng tràn ào ạt làm sụp đổ thành trì thực dân, phát xít xâm lược và phong kiến phản động. Ký ức về lá cờ đỏ sao vàng như ngọn đuốc lửa dẫn dắt những người cùng khổ đi phá kho thóc của Nhật. Ký ức về Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc để dân tộc ta từ bóng tối bước ra ánh sáng. Ký ức về ngày Quốc khánh 2/9 dưới trời thu lồng lộng và giữa nắng vàng rực rỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy..,

Ý chí quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy của đồng bào và chiến sĩ ta đã thể hiện hùng hồn, đậm nét trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp theo, trong hai mươi năm đánh đế quốc Mỹ xâm lược và trong công cuộc gìn giữ bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Cái giá để đất nước độc lập tự do, non sông hòa bình thống nhất là vô cùng to lớn, không sao kể xiết. Chặng đường dân tộc đi tới hôm nay thấm đẫm mồ hôi Việt, máu Việt trên những nẻo non sông khi chiến tranh và ngay cả khi đất nước đã hòa bình.

Ai có thể vô cảm được trước hàng vạn nấm mộ liệt sĩ có tên và chưa xác định được danh tính nối dài từ Nam ra Bắc. Ai có thể sung sướng hưởng thụ khi những di họa của các cuộc chiến tranh còn chưa hết trong mỗi làng thôn, khu phố, trong một thế hệ và nhiều thế hệ. Có những con người không hề biết mùi bom đạn, chất độc da cam nhưng lại phải mang di chứng và hậu quả của cuộc chiến tàn khốc trong mình... Nói như thế để vừa trân quý cuộc sống hòa bình hôm nay vừa phải biết tri ân những người đã ngã xuống và quan trọng hơn là biết sống, làm việc vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Chúng ta chấp nhận hy sinh để giành lại và gìn giữ độc lập là để mang lại hạnh phúc cho dân tộc. Độc lập phải được gắn liền với tự do và hạnh phúc của nhân dân. Đó là nguyên tắc, là mục đích không thay đổi của Cách mạng Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc tới vấn đề này. Từ năm 1946, Người đã chỉ rõ: Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Người mong muốn: Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Người còn căn dặn cán bộ ta: Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân…hay: Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh…

Hạnh phúc của nhân dân là ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi người dân là một chủ nhân của chế độ mới, còn cán bộ chính quyền phải thực sự là công bộc của dân. Họ phải lo nỗi lo của dân, khổ nỗi khổ của dân, đau nỗi đau của dân và luôn hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Chính quyền cách mạng là chính quyền của dân, do dân và vì dân đúng nghĩa, không phải là thứ bánh vẽ hay khẩu hiệu mị dân. Nhân dân các tầng lớp trong xã hội theo Đảng làm Cách mạng tháng Tám và kháng chiến sau này với niềm tin Đảng cộng sản Việt Nam không có quyền lợi nào khác ngoài quyền lợi của dân tộc.

Cách mạng tháng Tám tỏa sáng vào dân tộc khát vọng Việt Nam được sánh vai với các nước tiến bộ trên thế giới. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay).

Những giá trị mang ý nghĩa nhân loại là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc cũng chẳng hề xa lạ với dân tộc Việt Nam. Chỉ tiếc, là những nước mà Hồ Chí Minh chọn trích Tuyên ngôn lại trước, sau trở thành kẻ xâm lược đất nước Việt Nam. Giá như Pháp và Mỹ thấu hiểu dân tộc Việt Nam thì chắc chắn sau mùa Thu năm 1945 ấy đã không xảy ra các cuộc chiến tranh hao người tốn của cả hai phía.

Đối chiếu với những lời Bác Hồ căn dặn, những đảng viên cán bộ chân chính không khỏi xót lòng khi phải chứng kiến sự xuống cấp của đạo đức của một bộ phận xã hội bây giờ cùng quốc nạn tham nhũng đã gây ra nhiều hậu quả cho đất nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền.

Như các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, cuộc chiến chống tham nhũng vẫn không thể không dựa vào dân. Dân mới đủ trăm tay nghìn mắt, dân mới có trăm phương nghìn kế, dân mới hội tụ được những sức mạnh vô tận để tiêu diệt giặc nội xâm có tên là tham nhũng.

Cách mạng tháng Tám cho ta bài học về sức mạnh của nhân dân. Khi nhân dân đã đồng lòng, quyết chí thì không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể tác oai tác quái được. Không tập hợp được nhân dân thì mọi cuộc cách mạng đều coi như đã thất bại.

Thiết nghĩ, phải đưa tinh thần Cách mạng tháng Tám vào công cuộc chống giặc nội xâm hôm nay. Đó là, phải hết sức tin dân, trọng dân, dựa vào dân để chống tham nhũng. Khi nhân dân đồng lòng thì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhất định sẽ thành công. Trong những tháng ngày chống đại dịch COVID-19, chúng ta cũng thấy rất rõ sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân.

Một đất nước phát triển, một xã hội trong sạch, một chế độ dân chủ là ước mong của nhân dân ta. Người dân Việt Nam thực sự có hạnh phúc ngay trên Tổ quốc mình khi những điều đó trở thành hiện thực. Đừng bao giờ quên, hạnh phúc, tự do của nhân dân là mục tiêu cao đẹp của Cách mạng mùa Thu năm 1945.

Độc lập dân tộc và hạnh phúc nhân dân gắn liền với nhau như đôi cánh nâng đất nước bay cao bay xa. Bao giờ Tổ quốc bay lên cao với đôi cánh tuyệt vời đó? Câu hỏi đó là dành cho mỗi người con nước Việt, dù ở trong hay ngoài nước, đưa Việt Nam cùng nhân loại tiến về phía trước.

Nguyễn Hữu Quý/Chinhphu

Tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Đây là điều đã được khẳng định và minh chứng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, nền tảng đó muốn lâu bền, vững chắc thì không chỉ thể hiện trên văn bản, giấy tờ, nghị quyết,… của từng tổ chức, mà điều quan trọng nhất là sự tồn tại, thấm sâu trong chính nhận thức, suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động thực tiễn – những biểu hiện cụ thể từ đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Điều đó được biểu hiện sinh động ở quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau giữa hai nhân tố này trong quá trình vận động, phát triển của cách mạng. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận, thế giới quan, nội dung, tiêu chí để xây đắp, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngược lại, đạo đức cách mạng là cơ sở tiếp thu, “nuôi dưỡng” và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức là gốc, nền tảng của người cách mạng, Người cho rằng “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”1. Đặc biệt, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới “gánh được nặng và đi được xa”; trước những khó khăn, gian khổ, phức tạp không dao động, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn. Vì vậy, tiêu chuẩn đầu tiên của người cán bộ là phẩm chất đạo đức, “đạo đức là gốc”, người cán bộ phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mới có thể trở thành người cán bộ chân chính, “mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đạo đức cách mạng, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm nhiều yếu tố, tựu trung là: trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Trong đó, điều mấu chốt nhất là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Thấm nhuần điều đó, từ khi thành lập Đảng cho tới nay, tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên luôn thể hiện rõ phẩm chất đạo đức cách mạng; tích cực, chủ động học tập, thấm nhuần và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển phồn vinh của đất nước.

Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực đa chiều, nhất là mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,... một số cán bộ, đảng viên đã không giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực, địa bàn, cơ quan, đơn vị của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp cao diễn ra nghiêm trọng, phức tạp, với nhiều biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng rèn luyện dẫn tới phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước buộc phải xử lý, v.v. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến một số cán bộ, đảng viên hư hỏng, biến chất đòi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Triệt để lợi dụng thực trạng này, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, kích động chống phá, gieo rắc hoài nghi,... làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, v.v.

Đại hội XII của Đảng đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng cũng đã chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”2. Đến Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức được đặt ở một vị trí cao hơn.

Như vậy, đạo đức cách mạng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và có ý nghĩa quyết định tới sự tồn vong của Đảng, của chế độ nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng; đòi hỏi, cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng là giải pháp quan trọng để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Để thực hiện tốt điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng của tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Thực tế cho thấy, những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật có nguyên nhân căn bản từ việc thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Mặc dù được công tác, học tập trong môi trường có tính kỷ luật cao, tổ chức chặt chẽ; vẫn được giáo dục, tuyên truyền; vẫn tham gia đầy đủ các lớp học, các hội nghị; được quán triệt, học tập đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị,… nhưng do chưa nhận thức đúng vai trò của tự tu dưỡng nên một số cán bộ, đảng viên buông lỏng bản thân, không có, hoặc chưa có hoạt động tự tu dưỡng, rèn luyện đủ mạnh, khiến đạo đức người đảng viên, cán bộ không được bồi đắp, đi chệch hướng.

Việc rèn luyện đạo đức cách mạng không phải dễ dàng, bởi ai cũng muốn, thậm chí ham muốn được phát triển, có quyền lực, có điều kiện kinh tế, có cuộc sống sung túc, muốn được hưởng thụ, thậm chí còn muốn được xa hoa,… do vậy, đấu tranh để thắng những ham muốn của bản thân mình là một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp và phải do tự mình “chiến đấu”. Khó, nhưng không phải không làm được. Tấm gương tự tu dưỡng, tự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và biết bao đảng viên khác để đưa đất nước đến ngày hôm nay là minh chứng rõ nét. Sinh thời, Chủ tịch  Hồ Chí Minh chỉ rõ, kẻ địch cần chống trước hết là chống thói quen và truyền thống lạc hậu; đặc biệt là chống chủ nghĩa cá nhân đang ẩn chứa trong mỗi con người, khi có điều kiện tác động nó sẽ phát triển. Cho nên, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình”. Và, phải chủ động đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng của quân nhân.

Hai là, tích cực nghiên cứu, học tập. Trước hết, phải thường xuyên học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không nắm vững, không thấm nhuần nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể tu dưỡng được đạo đức cách mạng, đồng thời cũng không thể bảo vệ, phát triển, thậm chí còn làm tổn hại tới nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tự học tập là rất quan trọng, hiện nay, hoạt động này đang bị tác động tiêu cực từ nhiều mặt. Cản trở lớn nhất là sự phát triển của công nghệ giải trí, của mạng xã hội với vô vàn các nội dung khiến một số cán bộ, đảng viên thiên về “thỏa mãn” nhu cầu giải trí, sao nhãng việc nghiên cứu, học tập. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học tập phù hợp, hiệu quả, khả thi và thực hiện nghiêm túc. Giải quyết hài hòa giữa nhu cầu thư giãn, giải trí, tái tạo sức lao động với nhu cầu trau dồi kiến thức nền tảng của người cán bộ, đảng viên. Để việc tự học tập đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần cụ thể hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đề ra phương hướng, mục tiêu, nội dung, giải pháp để tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, đối tượng. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục với tạo điều kiện cho đảng viên tự học, tự rèn, tự soi, tự sửa để hoàn thiện bản thân; nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng trung thành đối với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người; gương mẫu trong công tác, lối sống, khiêm tốn giản dị, dân chủ, đoàn kết và kỷ luật, nói đi đôi với làm; thương yêu đồng chí, đồng đội, không quan liêu, độc đoán chuyên quyền, gia trưởng.v,v. Cán bộ, đảng viên phải có trình độ chuyên môn và tác phong, phương pháp công tác tốt; luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, không dao động trước khó khăn, thử thách.

Ba là, thực hiện hiệu quả các nguyên tắc trong tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Đầu tiên là phải luôn nói đi đôi với làm, nêu gương tốt, làm việc tốt. Đây không chỉ là nguyên tắc rèn luyện mà còn là sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng và phi đạo đức cách mạng. Vì vậy, lời nói của cán bộ, đảng viên phải đi đôi với việc làm và phải thực hiện tốt việc làm gương. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền”, “trước mắt quần chúng, không phải cứ viết lên trán hai chữ cộng sản mà ta được họ yêu quý. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức ở đây không phải là đạo đức “tu thân” mà là đạo đức “dấn thân”, đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Muốn hướng dẫn cho quần chúng thì cán bộ, đảng viên phải làm mực thước. Muốn cho cơ quan, đơn vị đoàn kết, thì tập thể lãnh đạo phải thực sự dân chủ, đoàn kết, công tác cán bộ phải công tâm, khách quan, v.v. Cán bộ, đảng viên phải làm gương mọi mặt cho quần chúng noi theo.

Thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, việc làm gương phải thực hiện ở mọi nơi, mọi việc, từ cán bộ cấp cao tới cơ sở;tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm, trách nhiệm, chức trách, nhiệm vụ của mỗi người và sự đóng góp xây dựng của tập thể. Trong cuộc sống thường nhật, ai cũng có mặt mạnh, mặt hạn chế, không ai có thể đạt tới sự hoàn mỹ một cách tuyệt đối. Cho nên, mỗi đảng viên phải biết và dám dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật bản thân con người mình và dựa vào tập thể để thấy cái tốt, cái hay để phát huy, cái xấu, cái ác để khắc phục. Việc tu dưỡng đạo đức cách mạng phải gắn liền với thực tiễn hoạt động công tác; phải bền bỉ, ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới những vi phạm của một số tổ chức, cá nhân thời gian qua, đó cũng là căn nguyên làm xói mòn đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để tự tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Nắm chắc nội dung, yêu cầu của nguyên tắc trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Quá trình thực hiện dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Theo đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất thiết phải được tập thể cấp ủy (ban thường vụ), chi bộ thông qua trước khi thực hiện. Từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, phát biểu thẳng thắn, trung thực, khách quan; thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, trên nguyên tắc luôn luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết. Không cơ hội, vụ lợi; chạy theo mục tiêu trước mắt, ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Chỉ khi nào cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh thì khi đó chủ nghĩa cá nhân mới được đẩy lùi và đạo đức cách mạng mới được bồi đắp, phát huy.

Thực hiện hiệu quả việc tự tu dưỡng, rèn luyện là cơ sở, nền tảng để xây dựng và phát huy phẩm chất, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đó cũng là yếu tố gốc rễ để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

PHẠM TUẤN – MINH ĐỨC
_______________

1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 292.

2 -  ĐCSVN - Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 23.

Ai đang đánh tráo khái niệm về nhân quyền?

     

Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở.

Ngoài việc thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam.


Một bản kiến nghị “tổ ong”

Tổ ong có hình thức thủng lỗ chỗ. Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó.

Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”.

Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền...

Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được “tai nghe, mắt thấy” ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)...

Đến đây thì "thư ngỏ" đã “lòi đuôi cáo” khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau “tiền hô hậu ủng” để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng.

Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ.

Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: “Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý”. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng.

Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...”.

Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia.

Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì!

Sự thật không như họ nói

Cùng với việc bác bỏ nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nhân danh nhân quyền quốc tế đã đưa ra về tình hình Việt Nam, ngày 22-9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, về việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người trong thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng ta hãy kiểm chứng lời của người phát ngôn:

Trước tiên, xin được dẫn đánh giá của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam qua Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”.

Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. 

Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành "Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo", về đích trước gần 10 năm so với thời hạn. Cũng theo bà Caitlin Wiesen, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua.

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”(1).

Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là công bằng, hướng tới mọi đối tượng, không chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị, mà luôn dành nguồn lực lớn, sự quan tâm sâu sắc tới xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Qua từng năm, hầu hết các chỉ tiêu về phát triển văn hóa, xã hội đều thay đổi nhanh chóng.

Một điểm đặc biệt của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao, đó là đất nước rất chú trọng đến Chỉ số phát triển con người (HDI), dù kinh tế chưa đạt được như các nước tiên tiến. Báo cáo hằng năm của UNDP cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Nếu năm 1990, HDI của Việt Nam chỉ đạt mức thấp là 0,48 thì đến năm 2021, HDI của Việt Nam được UNDP công bố là 0,703, xếp thứ 115 trong số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với quan tâm phát triển con người, quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật... có những bước tiến rõ rệt.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được LHQ đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ. 

Phát biểu tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ) khẳng định: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Một quốc gia có trách nhiệm giữa nói và làm

Cũng tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22-9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan".

Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật...

Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm.

Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người.

Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái... 

Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh.

Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 cùng nhiều cam kết, ưu tiên với thông điệp “Tôn trọng và Hiểu biết-Đối thoại và Hợp tác-Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Việt Nam cũng đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của hiệp hội cho nhiệm kỳ này.

NGUYỄN ANH TUẤN

--------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. II, tr. 81./.