Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

CÁCH ĐÁNH GIẶC ĐỘC ĐÁO CỦA DU KÍCH VIỆT NAM

 

Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả. Ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang) kể lại:
"Cái giàn thun bắn lựu đạn là do sáng kiến của tôi và tôi là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác. Coi vậy chớ theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều tôi từng được nghe: Nào là "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ", kể cũng không có gì cường điệu.
Tôi còn nhớ một hôm, chú Chín Hải (Lê Văn Phẩm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho) đi họp về, có nói nơi nào đó bắn lựu đạn bằng cái ná thun và biểu tôi làm thử. Từ đó, hình ảnh cái giàn thun bắn lựu đạn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện trong đầu. Cái ná thun thì hồi nhỏ, tôi "rành sáu câu" nhưng tìm đâu ra dây cao su cho giàn thun này bây giờ? Cái bao da may bao lớn? Thân ná chọn loại gỗ gì, cỡ cùm chân hay bắp vế? Không phải chuyện đùa, thao tác nửa chừng mà đứt dây, gãy ná là "bỏ mẹ".
Chuyện cái giàn thun bắn lựu đạn dài dòng lắm! Tóm lại, trong cái khó ló cái khôn, những giây phút hiếm hoi ngã mình trên cánh võng, bất chợt tôi đã nghĩ ra. Có ai ngờ rằng, cái cọng dây thun nhỏ xíu thường dùng buộc các bịch mũ đựng hàng, buộc bịch đựng nước ngọt đã làm cho bọn Mỹ-ngụy thất điên, bát đảo. Một cây làm chẳng nên non! Từng sợi thun nhỏ được kết với nhau thành từng sợi cỡ ngón tay; từng sợi thun cỡ ngón tay lại được bện xoắn với nhau thành từng sợi cỡ cùm tay, bắp tay. Giữa hai sợi thun đã được bện xoắn nhiều lần, có một cái bao da dùng để đựng quả lựu đạn. Thân ná là hai thân cây cỡ bắp đùi rời nhau, cơ động dễ dàng, tiện lợi hơn khi sử dụng cây tại chỗ. Năm lần bảy lượt, làm tới làm lui, cuối cùng cái giàn thun bắn lựu đạn cũng hoàn thành.
Lại lao vào tập bắn! Nhiêu khê lắm, khó khăn không kém gì khi làm cái giàn thun. Tập bắn thẳng đến tập bắn cầu vồng; tập bắn xa, bắn gần; tập bắn sao cho lựu đạn vừa chạm đất là nổ, thậm chí còn cho nó nổ chụp từ trên không xuống. Thuần thục rồi mà khi vào bắn thật, đã xảy ra một số trường hợp đứt dây thun, gãy giàn, lựu đạn rơi tại chỗ "chạy thấy mẹ".
Nói vậy thôi, chớ giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, chúng tôi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề!".
vubao2-St
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời
5
Thích
Bình luận
Chia sẻ

ĐIỀU PHI LÝ TRONG BÁO CÁO NHÂN QUYỀN HẰNG NĂM CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ

 

Liên tục từ năm 1997 đến nay, Bộ Ngoại giao Mỹ đều đặn ra Báo cáo nhân quyền hằng năm, với nhiều điều phi lý. Tiêu biểu cho những điều phi lý đó là họ đánh giá Việt Nam “không tôn trọng sự toàn vẹn của con người”, khi chính nước Mỹ vẫn chìm sâu trong vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát, v.v. Sự phi lý đó một lần nữa cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.
Những năm gần đây, một số nước tư bản phát triển, trong đó có chính quyền Mỹ, đã và đang triệt để lợi dụng nhân quyền như là một công cụ - nói đúng hơn là đội lốt nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc, nhất là các nước đối lập về hệ tư tưởng, hoặc không nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của họ, nhằm ép buộc những nước này không đứng ngoài “trật tự thế giới” do họ làm chủ. Cùng với việc ra sức truyền bá các học thuyết, các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản, đề cao vị trí độc tôn của tự do, lợi ích cá nhân, “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, đặt nó đứng ngoài, thậm chí đứng trên pháp luật, lợi ích cộng đồng; họ còn tăng cường các hoạt động xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền của các nước. Họ tự cho mình quyền đứng trên pháp luật quốc tế để đưa ra các báo cáo, đánh giá nhân quyền của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền khác. Vì thế, không lạ gì khi lâu nay các thế lực thù địch luôn coi “dân chủ”, “nhân quyền” là một mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam, vẫn đều đặn ra báo cáo nhân quyền Việt Nam như một thông lệ. Có thể nói, từ tư cách của chủ thể đến nội dung các báo cáo này đều phi lý; nhưng chỉ xin bàn đến nội dung quyền sống hay “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong các báo cáo ấy để minh chứng cho sự phi lý đến nực cười này.
Chúng ta đều biết, nhân quyền trước hết và tối thiểu nhất là quyền được sống của mỗi người, được pháp luật quốc tế và mỗi quốc gia, dân tộc bảo vệ như một tất yếu. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển kỳ diệu của đất nước trên nhiều lĩnh vực, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và truyền thông, báo chí không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ nhất các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người. Pháp luật về quyền con người của Việt Nam cũng đã có bước phát triển. Với 36 điều trên tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 vừa khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, vừa thể chế hóa sâu sắc, toàn diện nhận thức, quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.
Để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người của Việt Nam ngày càng đồng bộ, từng bước hoàn thiện; việc tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật về quyền con người được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc thực thi pháp luật; kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân. Những năm gần đây, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, với mục tiêu “sức khỏe và tính mạng của người dân là trên hết, trước hết”, Chính phủ luôn kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế với chăm lo bảo đảm an sinh xã hội; kiên trì thực hiện “mục tiêu kép” để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam không ngừng tăng và nhanh nhất trong số các nước đang phát triển (năm 2020 tăng 04 bậc, xếp thứ 79 trên thế giới, đứng hàng đầu châu Á).
Trong tính tổng thể đó, lẽ dĩ nhiên, quyền sống hay “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” được pháp luật Việt Nam bảo vệ và thực thi đầy đủ, nghiêm minh, bình đẳng với mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, để đảm bảo an toàn cho người dân, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc cá nhân sở hữu vũ khí (bao gồm cả vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao) và công cụ hỗ trợ; còn những đối tượng được pháp luật cho phép trang bị, sử dụng súng được quy định rất cụ thể tại khoản 1, Điều 55, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (năm 2017). Đó chủ yếu là những người được giao nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm,… kèm theo những quy định chặt chẽ về các điều kiện, như: sức khỏe, phẩm chất đạo đức, đã qua đào tạo, huấn luyện và được cấp giấy chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Mọi hành vi xúc phạm nhân phẩm, tra tấn, hành hung, tước đoạt mạng sống con người trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm.
Vậy mà, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn đưa ra những nhận xét không khách quan, dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” ở Việt Nam. Theo cách “bới lông tìm vết”, họ cố tình nhặt nhạnh những sự việc riêng lẻ, hy hữu chưa được kiểm chứng rồi ra sức thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo để nó trở thành nghiêm trọng. Mục đích cuối cùng là để bôi xấu tình hình nhân quyền của Việt Nam nhiều nhất có thể. Và chỉ chờ có thế, các cá nhân, nhóm hoạt động đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” trong và ngoài nước đua nhau lên án Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”; từ đó, quy chụp, vu khống, hạ thấp uy tín của các cơ quan thi hành pháp luật Việt Nam; đồng thời, cho rằng “hậu quả” đó là do Đảng ta độc tài, toàn trị.
Điều phi lý là, trong khi cố tình “đặt điều” từ những sự việc chưa kiểm chứng, lớn tiếng rao giảng về “nhân quyền”, phán quyết về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” của các nước khác, thì chính quyền Mỹ lại cố tình lờ đi những “lỗ hổng” khó hàn gắn về vấn đề này ngay trong lòng nước Mỹ. Vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát,… vẫn phủ bóng đen gây ám ảnh dai dẳng người dân Mỹ, gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ nước Mỹ. Ở Mỹ, năm 2020, hơn 45 nghìn người đã chết vì bạo lực súng đạn, tăng 35% so với năm trước đó. Theo số liệu thống kê của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI): số vụ xả súng có chủ đích tại nước này trong năm 2021 đã tăng hơn 50% so với năm 2020. Năm 2022, bạo lực súng đạn lại tái diễn với hàng loạt vụ nổ súng kinh hoàng tại New York, Texas và nhiều nơi khác. Theo số liệu của Gun Violence Archive1, tính đến tháng 6/2022, bạo lực súng đạn đã khiến hơn 19.300 người thiệt mạng và trong dịp nghỉ lễ từ ngày 01 - 04/7/2022 vừa qua, xảy ra hơn 500 vụ xả súng ở hầu khắp các bang trên toàn nước Mỹ. Thực tế cho thấy, ở Mỹ, thuốc chữa bệnh, nước sạch cho người dân, sữa bột cho trẻ em có thời điểm có thể rất khan hiếm; nhưng, súng đạn thì luôn rất dồi dào, được phép bán công khai và mọi công dân có thể mua nếu có nhu cầu. Đây là nguồn cung cho những kẻ muốn dùng súng đạn để giải quyết mâu thuẫn, hay đơn giản giết người chỉ để thể hiện quan điểm tự do cá nhân. Gần đây, trước những hậu quả nặng nề do bạo lực súng đạn gây ra, đã có lúc chính quyền nước này muốn tìm cách thắt chặt kiểm soát, song vẫn bất lực, do lập trường của chính quyền vẫn đang bị chia rẽ bởi những lợi ích nhóm chi phối. Số lượng súng đạn được bán ra vẫn tăng lên theo những bất ổn của xã hội Mỹ. Theo Forbes2, gần 20 triệu khẩu súng đã được bán tại Mỹ trong năm 2021, tức là trong 100 người Mỹ thì 06 người đã mua súng, tăng tỷ lệ người trưởng thành ở Mỹ sử dụng lên 46%. Với dân số hơn 330 triệu người nhưng đã có hơn 393 triệu khẩu súng cá nhân được cấp phép tại Mỹ, tức là mỗi người sở hữu hơn 01 khẩu súng; đây là nguyên nhân hàng đầu khiến Mỹ là quốc gia hứng chịu nhiều bạo lực súng đạn nhất thế giới.
Điều phi lý nữa là, chỉ dựa vào những sự việc chưa được kiểm chứng, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Mỹ vẫn lên án các lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam làm tổn hại đến sức khỏe, nhân phẩm người khác. Thế nhưng, cảnh sát Mỹ lạm sát nhằm vào người da màu là một thực tế không thể chối cãi ở Mỹ. Theo thống kê của báo giới Mỹ, có hơn 1.000 người đã bị cảnh sát bắn tử vong ở Mỹ trong năm 2021. Một thực tế khác không khó để nhận thấy, mặc dù nhân danh bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhưng Mỹ và phương Tây lại không ngừng gia tăng việc tiến hành chiến tranh, can thiệp vũ trang ở nhiều nơi. Các cuộc “cách mạng màu sắc”, “can thiệp nhân đạo” mà Mỹ và phương Tây tiến hành ở Iraq, Afghanistan, Libya,… đã và đang gây ra những đau khổ không kể xiết dành cho người dân các nước này và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn sản xuất vũ khí. Hơn ai hết, người dân Việt Nam đều thấu hiểu bộ mặt thật đằng sau các chiêu trò “nhân quyền” của Mỹ. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, để bảo vệ cho “chế độ dân chủ” tay sai của mình ở miền Nam, Mỹ đã dội lên đầu mỗi người dân Việt Nam hơn 45,5 kg bom đạn; tiến hành hàng trăm nghìn cuộc vây ráp, khủng bố và giết chóc. Tàn ác hơn, họ đã cho rải hơn 80 triệu lít chất độc hóa học có chứa dioxin trên khắp Việt Nam, khiến gần 05 triệu người Việt Nam bị chết, tàn tật và di chứng cho nhiều thế hệ sau; hơn 40.000 người bị chết và 60.000 người bị thương do bom mìn sót lại sau chiến tranh gây ra, trung bình mỗi năm cướp đi tính mạng của hơn 1.000 người và hơn 1.300 người phải mang thương tích, thương tật suốt đời. Như vậy, chẳng phải chỉ đích danh, song ai cũng biết những kẻ lớn tiếng phê phán quốc gia khác không “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” lại là kẻ vi phạm nghiêm trọng nhất điều này, cả trong lịch sử lẫn hiện tại. Sự thật đó cho thấy, cái gọi là “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ thật phi lý.
Bản chất của nhân quyền là sự đảm bảo về quyền sống, quyền tự do và bình đẳng đối với mỗi con người trong một chế độ xã hội nhất định. Bảo đảm việc thực thi các giá trị này trên thực tế đến đâu sẽ nói lên bản chất của một chế độ xã hội. Với bản chất tốt đẹp, tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - nền dân chủ của dân, do dân và vì dân, Việt Nam luôn đặt con người ở trung tâm của mọi chính sách phát triển, nhằm đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam./.
vubao1-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ

NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẦN BIẾT TRỌNG DANH DỰ, GIỮ LIÊM SỈ!

         Để trở thành cán bộ lãnh đạo, mỗi người đều phải trải qua quá trình tích cực học tập, công tác, rèn luyện, thử thách, cống hiến và trưởng thành, hội tụ đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác.
     Sự ghi nhận, tin tưởng, tôn vinh, hay ngưỡng mộ, kính trọng của tổ chức, tập thể và rộng hơn là của nhân dân, của xã hội đối với người lãnh đạo tạo nên danh dự của người đó. Đó là sự coi trọng, đánh giá cao phẩm chất, uy tín, năng lực cá nhân và quá trình công tác, thành tích cống hiến của họ, đó cũng chính là những giá trị tinh thần, xã hội, ý nghĩa cuộc sống vì sự đóng góp, cống hiến của họ.
     Danh dự, uy tín của người lãnh đạo không thể đo đếm hay mua bán, đánh đổi bằng vật chất, tiền bạc, cũng không tự nhiên mà có, không ai có thể mang đến cho họ hoặc làm thay, làm hộ, mà phải do bản thân người lãnh đạo trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn, cống hiến nhiều năm. Danh dự của con người không liên quan tuổi tác, không phụ thuộc vào giới tính, học vấn, trình độ, địa vị, thành phần xuất thân. Là người bình thường, ai cũng đều có lương tâm, danh dự.
     Tuy nhiên, mức độ lan tỏa và ảnh hưởng của danh dự ở mỗi người trong xã hội có khác nhau phụ thuộc vào phương thức truyền thông, sự lan tỏa giá trị, quan hệ xã hội, uy tín, địa vị công tác, hoặc địa vị xã hội của người đó. Người có trình độ học vấn, có vị trí càng cao, có ảnh hưởng đến nhiều người, càng phải biết trọng danh dự, giữ gìn tư cách, hình ảnh, giá trị cá nhân đã được thừa nhận.
     “Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”. (Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 30/6/2022)./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 10 NĂM 1961!

         “Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi. Bác nói ngày 08 tháng 10 năm 1961; báo Nhân dân, đăng số 2757, ngày 09 tháng 10 năm 1961. 
     Thực hiện Chỉ thị số 156-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 1959 của Trung ương Đảng về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta, sau hai năm triển khai thực hiện quyết liệt, Cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng, đánh thức tiềm năng, thế mạnh của một vùng miền núi rộng lớn có vị trí, ý nghĩa chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi phát triển chưa đều, một số chính sách cụ thể thích hợp với miền núi chưa được quy định, công tác tư tưởng trong hợp tác xã chưa được chú ý, công tác quản lý hợp tác xã còn rất lúng túng. Nhiều nơi chi bộ, ủy ban hành chính và các đoàn thể nhân dân chưa được vững mạnh. Có những xã chưa có chi bộ đảng. Lực lượng cán bộ các dân tộc nói chung thiếu và yếu. Do vậy, Bác đã có những chỉ đạo rất sát đúng, kịp thời về mọi mặt; trong đó, cần phải hết sức chú trọng đến công tác cán bộ - cái gốc của mọi công việc.
     Thực hiện huấn thị các Bác, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 24 khóa IX của Đảng về công tác dân tộc đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có phẩm chất chính trị, năng lực công tác và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; có cơ cấu, số lượng cán bộ phù hợp trong hệ thống chính trị”. Thực hiện chính sách về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số đã thực sự được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Đặc biệt, công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã từng bước hoàn thiện, chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, góp phần tích cực vào sự phát triển của các địa phương miền núi, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi.
     Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội đã chủ động làm tốt việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số từ sớm, thông qua việc mở các lớp thiếu sinh quân để đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số từ các bậc học phổ thông, đào tạo tại các trường sĩ quan, cao đẳng, trung cấp. Đã có hàng vạn lượt con em đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước được nuôi dưỡng, đào tạo trong môi trường quân đội; nhiều đồng chí trở thành cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương, trở thành tướng lĩnh trong quân đội và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng như tâm nguyện của Bác kính yêu./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

NHẬN DIỆN ĐÚNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG TA!

         Hiện nay, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của trí thức.
     Mỗi chúng ta đều thấy rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.
     Từ thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều hay ít của giai cấp”.  
     Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng./.


Môi trường (Yêu nước) ST.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2022

Biển Đông tiềm ẩn nguy cơ xung đột, bất ổn

Về tình hình thế giới, khu vực, bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, trong những năm tới, dự báo môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó dự báo. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Tăng ngân sách quốc phòng, chạy đua vũ trang ngày càng quyết liệt và trở thành xu thế phổ biến. Đặc biệt một số nước đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, tăng cường năng lực quân sự với những thế hệ vũ khí mới. Cũng theo đại tướng Phan Văn Giang, Chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thực dụng, cường quyền nước lớn trong quan hệ quốc tế gia tăng; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia; sự can dự, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; chạy đua vũ trang; không gian chiến lược mới; các loại hình tác chiến mới đặt ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trên thế giới, khu vực và độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các nước, nhất là nước nhỏ đang phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhất là công nghiệp số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực quốc phòng, tạo ra cả thời cơ, thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại đã làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh. Sự ra đời của chiến tranh mạng tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và của mỗi quốc gia. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, nhất là khủng bố, thiên tai, dịch bệnh tiếp diễn phức tạp. Về tình hình trong nước, sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức đặt ra đối với quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt được những kết quả quan trọng nhưng vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh ở một số lĩnh vực, một số địa phương, đơn vị cần phải nghiên cứu triển khai chặt chẽ hiệu quả hơn. Những vấn đề phức tạp về quốc phòng ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện. Về nhận thức mới và tư duy mới về quốc phòng Việt Nam, đại tướng Phan Văn Giang cho biết, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, .... để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa... Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”. Theo đại tướng Phan Văn Giang, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sức mạnh tổng hợp của đất nước cả về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện sâu sắc sự phát triển tư duy mới của Ðảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, là định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”, hoàn toàn thống nhất mục tiêu phát triển “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đảng xác định bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và của nhân dân, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước. Kiên định nguyên tắc chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược trong xử trí các tình huống liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược trong mọi tình huống.

Người tài và một khe cửa hẹp

Trong lịch sử nhân loại, việc xác định được người tài không dễ, nhưng việc có thể sử dụng họ cho lợi ích quốc gia còn khó hơn rất nhiều lần. Lịch sử cũng có bao câu chuyện những người tài được vời tới hoặc tự tìm đến để được cống hiến, nhưng không ít người trong họ đã không được quốc gia đó nhận ra hoặc nhận ra nhưng rồi không hợp tác được với họ và họ đã bỏ đi, sống ẩn mình cho tới khi chết. Lãng phí tiền của là một lãng phí lớn nhưng lãng phí người tài là một con đường dẫn đến sự phá sản trí tuệ và tinh thần của một quốc gia. Người tài thường mang những tư duy khác biệt và đôi khi lối sống khác biệt. Họ có trí tuệ rộng lớn nhưng luôn luôn bày tỏ một cách trung thực những suy nghĩ của mình. Thường là những người tài không màng tới danh vị hay vật chất. Điều họ cần nhất là được tin tưởng và được cống hiến. Nhưng chức vụ cho người tài nghĩa là cho họ có cơ hội và có quyền để hiện thực hóa một cách quyết đoán những tư duy lớn vào công việc. Và việc trả lương ‘’đặc biệt’’ cho họ là cách bày tỏ lòng tin vào họ của tổ chức. Trên cõi nhân gian này, kẻ bất tài luôn chứa đầy dục vọng thấp hèn và tìm mọi cách để đạt được những dục vọng ấy. Bởi thế mà những kẻ bất tài luôn tìm cách xu nịnh, sống giả dối, luôn nghĩ cách mưu hại người có tài. Không có một không gian chung mang tính dân chủ, bình đẳng và tôn trọng cho người tài và kẻ bất tài nhiều tham vọng. Nếu một người tài không được trao quyền hay dưới sự điều hành, quản lý của những kẻ bất tài mà lại nhiều tham vọng thì những người tài không phát huy được mà có khi còn bị triệt tiêu bằng nhiều cách. Ông cha ta nói: ‘’Một người lo bằng kho người làm’’ để nói tới tầm quan trọng của những người tài. Tư duy của họ, sáng kiến của họ, cách nhìn của họ có thể vạch ra con đường chính xác cho một tập thể, một cộng đồng và một quốc gia đi tới tương lai. Trong thời đại của chúng ta, vấn đề sử dụng người tài đang là một vấn đề được chính quyền hết sức quan tâm. Mới đây, có ý kiến đề xuất thành phố Hồ Chí Minh trả lương cho người tài ở một chế độ hoàn toàn cách biệt với lương công chức lâu nay. Nếu thực hiện được điều đó thì cũng chỉ mới là một điều kiện mà thôi. Điều quan trọng là chính quyền phải bảo vệ được người tài giữa những kẻ bất tài nhiều tham vọng ích kỷ và dám đặt cược lòng tin vào những người tài. Chúng ta liệu có đủ kiên nhẫn và lòng tin vào những người tài với một cách tư duy và lối sống khác không? Ví dụ, một người tài thường có ý kiến phản biện mạnh mẽ các vấn đề, các chính sách và cả quan điểm nhưng họ có thể vạch ra một chiến lược làm thay đổi xã hội thì người quản lý những người tài như thế có chịu đựng được họ không? Có dám gạt ra mọi thị phi của những kẻ bất tài đối với người tài không? Có đủ kiên nhẫn đợi chờ sự ‘’bùng nổ’’ của người tài không? Có dám có những chính sách và điều kiện khác biệt dành cho người tài không? Có nhìn những hiện tượng bên ngoài của người tài mà đánh giá bản chất lương tâm và trí tuệ của họ không? Tôi nhận thấy, một trong những cản trở việc sử dụng người tài của chúng ta là không đủ lòng tin vào họ và dùng quá nhiều những yếu tố mang tính hiện tượng mà xác lập trí tuệ và nhân cách người tài. Đấy là một trong những điều dẫn đến sự thất bại trong việc sử dụng người tài. Đất nước chúng ta đã thay đổi rất nhiều. Trong khi những tập đoàn kinh tế tư nhân và những tổ chức, tập đoàn kinh tế nước ngoài đã mở chiến dịch săn lùng người tài trong nước từ rất lâu rồi và họ thực sự cần người tài thì chúng ta vẫn còn loay hoay tìm câu trả lời. Chính sách sử dụng người tài phải là một trong những chiến lược lớn cho sự phát triển đất nước. Chúng ta từng nói đến nguy cơ ‘’chảy máu chất xám’’. Cho đến lúc này không phải là một nguy cơ mà là sự thật. Đấy cũng là lý do không ít người tài không muốn làm cho các cơ quan của nhà nước. Cũng có những người tài chọn hệ thống của Nhà nước để cống hiến nhưng những vấn đề bất cập trong đánh giá, sử dụng của các cơ quan quản lý chưa tương xứng và thậm chí sai lệch đã dần dần biến họ thành những người tài ‘’vô tác dụng’’ và đôi khi ngược lại. Có những người cho rằng: chúng ta chưa có chính sách đãi ngộ người tài một cách tương xứng để khai thác trí tuệ và năng lực của họ. Nhưng tôi thấy điều quan trọng hàng đầu để sử dụng được trí tuệ và sự dâng hiến của họ là niềm tin của người quản lý vào họ. Và lâu nay, những người tài đợi chờ niềm tin từ những người quản lý đất nước ở mọi cấp. Chính sách của chính quyền đối với người tài mang nhiều tính ưu việt và có tính chiến lược. Nhưng những người trực tiếp sử dụng người tài vẫn là một cánh cửa mới chỉ hé ra một khe hẹp mà những người tài lại không có khả năng và không muốn cố ‘’luồn lách’’ để đi qua. Nhưng điều mà cá nhân tôi thấy vô cùng quan trọng là: nhận ra người tài là khó, sử dụng họ còn khó hơn, nhưng bảo vệ được người tài trước những kẻ bất tài mới là điều khó nhất và quan trọng nhất.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC!

     Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ. Trên thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin
tích cực
Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực… Thí dụ, hồi tháng 6/2021, báo chí đăng về việc anh Lại Văn Cường (32 tuổi) và vợ là chị Bùi Thị Hương (29 tuổi), tạm trú tại khu phố 1, phường Long Bình Tân, TP Biên Hòa (Đồng Nai), khi nhặt được điện thoại Iphone 11 đã chủ động đăng facebook, dán tờ rơi… tìm chủ nhân để trả lại. Anh Cường là người khuyết tật, đang mưu sinh bằng nghề bán vé số… Câu chuyện này hẳn sẽ thúc đẩy suy nghĩ tốt đẹp, lương thiện trong hầu hết người tiếp nhận.
     Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.
     Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội…

Chọn thông tin tích cực để lan tỏa
     Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống. Như trong đợt dịch năm 2021, rất nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ các chỉ dẫn được cho là của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhưng trên thực tế lại không phải như vậy.
     Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.
     Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

Gợi ý cách lan tỏa thông tin tích cực
     Mỗi cán bộ, đảng viên có thể sử dụng tài khoản mạng xã hội hoặc trang mạng internet cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…
     Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (trên mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. Chẳng hạn, khi có căn cứ bác bỏ một thông tin chưa đúng, chúng ta có thể đưa thông tin đó vào các trang, nhóm có đông người theo dõi để tạo sự lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn.
     Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.
     Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị... và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.
     Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc./.
Yêu nước ST.

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI MIỄN NHIỄM TRƯỚC SẢN PHẨM VĂN HÓA ĐỘC HẠI!

         Sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội nếu thâm nhập vào các cơ quan, đơn vị trong quân đội sẽ gây tác hại khôn lường. Nó làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ta bị vẩn đục; làm xói mòn niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghi ngờ về sự thành công của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thậm chí làm hoen ố phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam, phai mờ hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt bạn bè quốc tế, gây dư luận xấu trong lòng xã hội ta, là cơ sở “ươm mầm”, “nảy nở” mọi thói hư, tật xấu, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và sẽ là nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.
     Lây nhiễm lối sống phương Tây, đề cao thái quá đời sống vật chất, sùng bái đồng tiền, vì tiền; coi thường nhân nghĩa, đạo lý, vi phạm pháp luật, kỷ luật rất nghiêm trọng. Phải chăng, việc phạm pháp, thoái hóa, biến chất, mất nhân cách ở một số cán bộ, chiến sĩ có nguyên nhân sâu xa từ sự “lây nhiễm” các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động, các tệ nạn xã hội thẩm lậu vào các cơ quan, đơn vị không được kiểm soát, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi?
     Thấy rõ sự nguy hại đặc biệt nghiêm trọng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị các cấp trong quân đội đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực như xác định đúng và trúng mục tiêu, mô hình, nội dung, tiêu chuẩn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu".
     Nhờ đó đã góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục có hiệu quả những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa phẩm đồi trụy; không để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; giữ vững, nuôi dưỡng và phát huy tốt vai trò, bản lĩnh, nhân cách cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh; làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ngày càng tốt hơn theo hướng chân, thiện, mỹ./.


Yêu nước ST.

Ý đồ xoá mờ lịch sử để làm phải nhạt ý chí cách mạng, lòng yêu nước Việt Nam

Tướng Mỹ Macnamara đã rút ra nguyên nhân Mỹ thất bại quan trọng nhất là "không hiểu con người và lịch sử Việt Nam". Họ cay cú và hứa sẽ trở lại sau 20 năm. Nhưng không phải với súng đạn mà bằng đô la?

Đứng núi này trông núi nọ !

Có một điều rất lạ đó là nhiều người cho dù có ở nhà biệt thự, ăn toàn cao lương mỹ vị, du lịch hạng sang, ngồi khoang business mỗi chuyến bay, thì sau cùng họ vẫn không thấy thỏa mãn. Lúc chưa có thì làm bằng mọi giá để đạt được, nhưng đến khi có trong tay thì lại không còn hứng thú. Khi đứng bên đây núi, ta thấy ngọn núi bên kia đẹp hơn. Nhưng khi leo lên được ngọn núi bên kia, ta lại thấy một ngọn núi khác đẹp hơn. Tại sao vậy? Tại đôi mắt của ta chỉ có thể nhìn về phía trước và chỉ nhìn được một phần của cuộc sống. Nên lúc nào chúng ta cũng hay so sánh, đứng núi này trông núi nọ, so sánh công việc của mình với người khác,… Rất nhiềᴜ người ước ao cuộc sống của người khác, bởi họ cho rằng cuộc sống của người đó luôn có những điều tốt đẹp hơn của mình. Bạn khao khát tự do của tôi. Còn tôi mơ ước bị trói buộc như bạn. Bạn thích chiếc xe của tôi. Còn tôi nhìn căn nhà của bạn với ánh mắt ghen tị. Bạn mong muốn làm công việc của tôi. Còn tôi ước mong mỗi ngày có chút thời gian nghỉ ngơi như bạn. Chúng ta không nhìn được một cách trọn vẹn rằng, cái gì cũng có 2 mặt của nó. Rằng ngọn núi nào nhìn xa trông có vẻ cũng rất đẹp, nhưng leo lên thì rất mệt. Chúпg ta khôпg cần ρhảι ao ước cuộc sống của bất kỳ một ai. Bởi cũng như chúng ta, những thứ họ đạt được đều phải chịu đánh đổi một điều gì đó quan trọng. Chúng ta khôпg nhậп thức được rằng, không có cuộc đời của ai xứng đáng với ѕự đố kỵ của chúng ta Luôn muốn nhiều hơn những gì mình đang có, đó là điều bình thường. Vì con người ai cũng có tham vọng. Tham vọng cho thấy bạn là người có chí cầu tiến. Bạn không bao giờ hài lòng, bạn cũng không cần so bì hay ai đó đốc thúc, bạn nỗ lực hết mình chỉ để đạt được điều bản thân mong muốn. Nhưng tham vọng chứ đừng trở nên tham lam. Tham lam thì sao? Tham lam chẳng phải cũng là muốn nhiều hơn những gì mình đang sở hữu sao? Nhưng tham lam khác tham vọng ở chỗ nó phụ thuộc vào người khác. Bạn thấy người khác sở hữu một món đồ đẹp, bạn cũng muốn sở hữu nó. Bạn thấy người ta ở chức vụ cao, bạn cũng muốn đạt được điều đó. Và vì không có chiến lược hay một mục đích cụ thể, những người tham lam thường lạc lối trong việc lựa chọn và hành động. Lằn ranh giữa tham vọng và tham lam rất mong manh. Nhưng đừng vì nó mong manh hay khó phân biệt mà bạn lờ đi, nó có thể phá hỏng cuộc đời mình. Chúng ta cứ sống như thế, luôn ganh tị với người khác rồi nảy sinh ra những lựa chọn mới. Kết quả thì không phải lúc nào cũng tốt đẹp hơn, bởi đơn giản một điều, đi đôi với chọn lựa bao giờ cũng là sự đánh đổi. Và sau cùng, chúng ta chỉ là những kẻ đáng thương. Luôn thích thứ mình không có được, còn thứ mình có lại không biết trân trọng. Đứng núi này nhìn sang núi kia rồi chỉ đem lại những tiếc nuối mà thôi. Thay vào đó, hãy cố gắng thay đổi tích cực, hoàn thiện bản thân từng ngày với đầy đủ kiến thức, kỹ năng và bản lĩnh. Năng lực được công nhận thì bạn sẽ có được vị trí và tất cả những gì bạn mong muốn.

Biên giới quốc gia là bất khả xâm phạm!

Đây là một dự luật mới nhận được sự quan tâm của dư luận, được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng như cơ quan thẩm tra là Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội đánh giá là cần thiết phải ban hành trong bối cảnh khu vực và quốc tế ngày càng có những diễn biến phức tạp. Có thể nói, vùng biên giới, biển, đảo, chủ quyền quốc gia không chỉ có vai trò là phên giậu, cửa ngõ của Tổ quốc, là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, mà còn có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại của đất nước. Lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Bất cứ lúc nào sức mạnh của nhân dân được phát huy, thì đất nước vững mạnh, phát triển. Ngược lại, khi nào lòng dân ai oán, bức xúc, thiếu niềm tin vào các cơ quan quyền lực, thì đất nước sẽ suy yếu và lâm nguy. Nhận thức rõ chân lý “đẩy thuyền đi là dân, mà lật thuyền cũng là dân”; Trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”; Phát huy những giá trị cao đẹp tư tưởng của Bác, Đảng ta xác định, đại đoàn kết dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng của Đảng. Đáng chú ý, việc quản lý và phát triển đường biên giới vừa là công việc của mỗi quốc gia, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp giữa các quốc gia. Thực tế cho thấy, công tác biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuchia thời gian qua đều có tiến triển. Về cơ bản, đường biên giới trên bộ của nước ta với các nước láng giềng được bảo vệ ổn định, bảo đảm an ninh, trật tự, hòa bình, hữu nghị. Với Campuchia, chúng ta hoàn thành 84% khối lượng công tác phân giới cắm mốc và mới ký hai văn kiện pháp lý để ghi nhận thành quả này ngày 5/10/2019. Đối với Lào và Trung Quốc, chúng ta đã hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc, đã ký các Điều ước quốc tế về quy chế biên giới và cửa khẩu. Như vậy, với hai nước này, nhiệm vụ chính là tập trung vào việc thực hiện các văn kiện pháp lý liên quan đến quản lý biên giới, đồng thời, trong quá trình thực hiện, sẽ xem xét việc bổ sung, điều chỉnh các quy định của các văn kiện pháp lý về quản lý biên giới nếu có nảy sinh những vướng mắc, bất cập không phù hợp với tình hình thực tế. Vấn đề dư luận cả nước quan tâm nhất là đường biên giới trên biển, sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực và trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Đặc biệt, Trung Quốc đang thể hiện sự ngang ngược, cũng như xem thường pháp lý quốc tế và chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước (trong đó có Việt Nam), khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển của chúng ta trở thành nhiệm vụ nhiều khó khăn, thách thức. Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt. Đáng mừng là, công tác đối ngoại đã sử dụng linh hoạt, triệt để các biện pháp chính trị-ngoại giao, mọi kênh đối thoại, tiếp xúc, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời chủ động tranh thủ mọi cơ hội để giảm căng thẳng, khôi phục lòng tin, thúc đẩy hợp tác hữu nghị, nỗ lực đối thoại nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài. Có thể thấy, công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới cả trên bộ và trên biển luôn là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đòi hỏi tư duy trí tuệ, tầm nhìn sâu rộng, dài hạn của người đứng đầu. Nhưng, phải khẳng định rằng, chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Những gì mà Việt Nam đã, đang và sẽ làm trong công cuộc đấu tranh gìn giữ, bảo vệ hình hài đất nước đang minh chứng cho một tinh thần nhất “không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”- lời của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Cuối cùng, xin mượn lời của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang rằng: “Ngày nay các thế hệ con cháu ta tiếp tục truyền thống giữ nước và ý chí kiên cường ấy, quyết tâm xây dựng và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vững chắc bờ cõi, một ly, một lai lãnh thổ mất là có tội với tiền nhân”. Đó là ước nguyện của toàn dân tộc Việt Nam.

Trước hết, mình phải làm gương

Điều này vừa thể hiện sự tin cậy, gửi gắm tình yêu thương của quần chúng nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB-ĐV), vừa thể hiện sự chăm lo giáo dục, nhắc nhở của Đảng đối với mỗi CB-ĐV trong quá trình triển khai thực hiện các chỉ thị, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Kiểm nghiệm thực tiễn qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược trước đây hoặc trong xây dựng hòa bình, hầu hết các CB-ĐV đã thể hiện rất tốt sự trung thành tuyệt đối với Đảng; luôn tận tụy, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, được Đảng ta tin tưởng đánh giá cao; được nhân dân chấp nhận khắc phục mọi khó khăn, nguy hiểm ra sức bảo vệ, đùm bọc, chở che. Ngày nay, đất nước tiếp tục phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Do đó, tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường đối với công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và quản lý, giáo dục CB-ĐV đương nhiên có những ảnh hưởng nhất định. Vừa qua, có không ít CB-ĐV sa sút ý chí chiến đấu, thiếu thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện trong môi trường đầy rẫy cám dỗ vật chất nên đã bị sa ngã. Lãnh đạo Đảng ta đã kịp nhận ra điều đó nên nhanh chóng có những quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn. Thiết nghĩ, sự gương mẫu của CB-ĐV trong giai đoạn hiện nay không phải là điều gì to lớn hoặc khó thực hiện, càng không phải là điều gì quá cao xa, trừu tượng. Từ khi Trung ương Đảng phát động toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác thì rất nhiều giá trị được áp dụng mang lại lợi ích cho cộng đồng xã hội, động viên mọi người tích cực hưởng ứng noi theo, tạo ra một nguồn lực đặc biệt to lớn cho phát triển xã hội. Từ đó, thấy rằng việc thực hành gương mẫu trước hết chủ yếu là do ý thức mỗi người và một phần là điều kiện cần và có. Khi nói về vấn đề gương mẫu của CB-ĐV, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta: "Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương cả về 3 mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải quyết tâm, trí tâm và đồng tâm. Ta nhớ 3 chữ ấy, thực hành làm gương nêu 3 chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đang mạnh mẽ bước tiếp trong thời kỳ hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, chắc chắn bên cạnh những thuận lợi và thời cơ, vận hội sẽ đan xen với những khó khăn, thách thức lớn, khó lường, đòi hỏi chúng ta phải hết sức tỉnh táo để không rơi vào những cái cạm bẫy mà các thế lực thù địch giăng sẵn. Trong đó có chiêu bài làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối với đội ngũ CB-ĐV, làm lu mờ mục tiêu phấn đấu của CB-ĐV, trước hết là những người thiếu tu dưỡng, rèn luyện. Từ đó cho thấy vấn đề đặt ra là tất cả CB-ĐV cần phải thể hiện việc nghiêm túc học và làm theo quan điểm của Bác Hồ về sự gương mẫu. Đừng tự vội vã đánh mất mình trước cám dỗ để rồi phải ân hận.

Vào Đảng mà động cơ không trong sáng, giữa chừng gãy cánh

Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai cho rằng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên luôn được Đảng coi trọng và xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh; tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương cũng thẳng thắn chỉ ra chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, một số tổ chức, cơ sở Đảng chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, vừa qua kỷ luật một số tổ chức Đảng cơ bản là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế, có tình trạng dùng ý chí của người đứng đầu áp đặt chủ quan, không tôn trọng dân chủ và một số nơi thả nổi, người đứng đầu không chịu trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Những việc này đều không tốt cho Đảng. Chất lượng sinh hoạt, tinh thần phê và tự phê bình, đánh giá xếp loại còn hạn chế, chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân. Thậm chí, chỗ này, chỗ khác những khó khăn, khiếu kiện của nhân dân còn nhận phải thái độ chưa đầy đủ trách nhiệm, thờ ơ của cấp ủy địa phương. Bà Trương Thị Mai cho biết nhiệm kỳ 2016 - 2020 có 664 tổ chức cơ sở Đảng bị thi hành kỷ luật (khiển trách 503 tổ chức, cảnh cáo 161 tổ chức), tăng 114 tổ chức so với nhiệm kỳ 2010 - 2015, trung bình thi hành kỷ luật hơn 100 tổ chức (khoảng 0,2%). "Nhìn vào con số kỷ luật 0,2% là thấp nhưng trong hơn 50.000 tổ chức cơ sở Đảng không thể xem thường và mỗi nơi, tổ chức cơ sở Đảng bị kỷ luật thì ở đó lòng tin của nhân dân bị giảm sút. Vì thế, sau này, đề nghị ở đâu tổ chức cơ sở Đảng bị kỷ luật phải thay cấp ủy. Không thể để mấy ông cán bộ bị kỷ luật ngồi đó mãi, ảnh hưởng lòng tin của dân với Đảng"- bà Trương Thị Mai nhấn mạnh. Cũng theo Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, chỉ tính riêng năm 2021, đã thi hành kỷ luật 223 tổ chức đảng (khiển trách 159 tổ chức, cảnh cáo 64 tổ chức), cao hơn nhiều so với bình thường và việc này có thể do làm nghiêm hơn so với trước. Phân tích thêm hạn chế, bà Trương Thị Mai thẳng thắn nêu rõ một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, phai nhạt lý tưởng, sống thực dụng, suy thoái, tự chuyển biển, chuyển hóa, vi phạm quy định, vi phạm pháp luật... "Ngay từ lúc vào Đảng mà động cơ không đúng, không trong sáng, rồi bước vào Đảng hoạt động cả cuộc đời thì không thể tin tưởng sẽ trong sáng được. Tôi đã nói Đảng mong muốn một người bước chân vào, đi với Đảng suốt đời, một người được đề bạt làm cán bộ phải tiếp tục phát triển, không giữa chừng gãy cánh được. Rất tiếc có một bộ phận giữa đường gãy cánh, gãy cánh nặng chứ không phải nhẹ. Đó là điều rất buồn"- bà Trương Thị Mai bày tỏ. Tiếp tục làm rõ hạn chế về nguyên tắc tập trung dân chủ trong các bước bổ nhiệm cán bộ, bà Trương Thị Mai đề nghị làm rõ cụ thể bước "dân chủ" và bước "tập trung". Nhưng chỗ nào cần định hướng cũng cần thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc cốt tử cần quan tâm, cụ thể hóa để dễ thực hiện, dễ chấp hành. Chỗ nào dân chủ để có ý kiến, để có lá phiếu đúng đắn về uy tín cán bộ khi bổ nhiệm. Nhưng chỗ nào cần định hướng, chỗ nào tập trung thì phải thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Vừa rồi chúng ta kỷ luật một số tổ chức Đảng, cơ bản là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Dùng ý chí của người đứng đầu áp đặt chủ quan, không tôn trọng dân chủ. "Nhưng ngược lại có nơi thả nổi. Người đứng đầu không chịu trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Cả 2 việc này không tốt cho Đảng. Vì vậy đây là nguyên tắc cốt tử cần quan tâm, cụ thể hóa để dễ thực hiện, dễ chấp hành"- bà Trương Thị Mai nói. Chỉ rõ những nguyên nhân của hạn chế thời gian qua, bà Trương Thị Mai cho rằng, đó là do một số tổ chức cơ sở đảng buông lỏng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chưa thường xuyên rà soát, kiên quyết sàng lọc đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng. "Đảng mong muốn phát triển được nhiều đảng viên, nhưng không vì vậy mà không đưa ra khỏi Đảng những người không còn đủ tư cách. Đảng mong muốn phát triển được nhiều đảng viên, nhưng không vì vậy mà không đưa ra khỏi Đảng những người không còn đủ tư cách. Bởi những người không đủ tư cách sẽ làm cho Đảng ngày càng yếu đi. Vì vậy, một mặt coi trọng chất lượng, mặt khác phải thường xuyên sàng lọc đưa người không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng"- Trưởng Ban Tổ chức nhấn mạnh.

Tuổi trẻ và sự cống hiến

Cống hiến là sự tự nguyện, tự giác đem sức lực, tài năng, trí tuệ của mình đóng góp cho lợi ích chung. Cống hiến là một đức tính cao đẹp có trong tâm trí con người. Sự cống hiến luôn ẩn chứa đức hy sinh vì một tình yêu mà con người muốn dâng hiến theo sự mách bảo của trái tim… Điều đáng trân trọng ở đây là người cống hiến không coi đó là sự hy sinh, mà xem đó như là việc phải làm, là “nghĩa vụ” và “nhu cầu” để được hành động, san sẻ… Có thể thấy, trong đời sống, ở đâu, lĩnh vực nào, bao giờ cũng có sự cống hiến với vô vàn hình thức, cách thức… hiến dâng. Có người dành cả đời mình cho nghệ thuật. Người cống hiến cho thể thao; người trọn đời cống hiến cho khoa học. Người hết lòng vì Tổ quốc thiêng liêng… Có những cống hiến dễ nhận thấy, được ngợi ca, nhưng cũng có những cống hiến thầm lặng, lắng sâu tự đáy lòng… Điểm chung nhất, đó là sự hy sinh - sự hy sinh cao cả… “Ba lần tiễn con đi - hai lần khóc thầm lặng lẽ”… Và “nước mắt Mẹ không còn vì khóc những đứa con, lần lựa ra đi, đi mãi mãi…”. Có lẽ không có sự hy sinh, mất mát và nỗi đau nào lớn bằng những đứa con - khúc ruột do mẹ mang nặng, đẻ đau… đã hiến dâng cho Tổ quốc và mãi mãi không về. Và đây nữa, những người trẻ anh hùng - những người con áo vải “ra đi từ mái tranh nghèo”, từ đồng quê mộc mạc… đã nặng lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”! Họ đã xả thân mình không một chút do dự, nao núng… Ai cũng hừng hực khí phách của “người lính đi đầu” suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong thời bình hôm nay, chính những người trẻ đã noi theo các thế hệ đi trước, đã tự dặn lòng: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”… Và họ tự đặt cho mình nhiệm vụ ra sức học tập, trau dồi kiến thức mọi mặt; không ngừng rèn luyện để hoàn thiện bản thân, tích cực tiếp cận những tiến bộ của thời đại, đem hết tinh thần và nhiệt huyết cống hiến cho quê hương, đất nước ngày một “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”… Chính tuổi trẻ đã góp phần làm rạng rỡ non sông, đất nước mà như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước - Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vai trò, vị trí cao như ngày nay”! Chúng ta tự hào khi có nhiều người trẻ là những giáo sư, tiến sĩ, những nhà khoa học, nhà sáng chế… ở tuổi thanh niên. Ở đó có những nhà lãnh đạo trẻ tài năng, những nhà kinh doanh vươn tầm quốc tế. Trong họ luôn mang đến tư duy mới, cách mạng, sáng tạo không ngừng và luôn khát vọng, hoài bão để thúc đẩy sự tiến bộ, văn minh xã hội. Có thể thấy thế hệ trẻ luôn là “nguyên khí quốc gia”, là niềm tin, là hy vọng. Dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, vai trò của thế hệ trẻ vẫn luôn góp công, góp sức quyết định tương lai dân tộc… Sự cống hiến tài năng, trí tuệ của tuổi trẻ luôn là sức mạnh nội sinh, độc lập, tự chủ làm nên lịch sử… Bản thân người trẻ đã tự xác lập cho mình lý tưởng, mục tiêu và lối sống lành mạnh, đúng đắn, văn minh về sự cống hiến. Gạt bỏ những lợi ích cá nhân, vị kỷ, tầm thường, hy sinh “cái tôi” của bản thân, đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực của mình đóng góp cho đất nước, quê hương. Quê hương, đất nước luôn tự hào và hạnh phúc khi sự cống hiến vẫn luôn hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi - nhất là khi “Đất nước chìm trong giông bão” thì lại trỗi lên tinh thần “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” với một sức trẻ tràn đầy nghĩa khí… Sự cống hiến không chỉ ở “đầu sóng ngọn gió” mà có ở mọi lúc mọi nơi, mọi ngõ ngách của đời sống và cả “trong sâu thẳm trái tim mình”… Tất cả, tất cả đã và đang sẵn sàng vào cuộc với một tâm thế… hiến dâng trong kiêu hãnh, tự hào! Tuy nhiên, đời sống luôn có hai mặt, trái chiều. Bên cạnh sự xả thân cũng lộ diện sự lười nhát, vụ lợi, sống cho riêng mình; có cả sự “ung dung” hưởng thụ trong… lười biếng! Một dạng khác nữa là luôn tỏ ra xông xáo, tích cực… hiến kế, hiến tài… nhưng thực chất là “làm màu” để lấy lòng cấp trên, vì những hành vi “múa rìu” của họ rất khó tìm thấy… “cái tâm” trong ấy! Đó là những hiện tượng lệch lạc, cần lên án, chấn chỉnh, bài trừ… Có như thế mới đem lại sự “công bằng” và khích lệ tinh thần cống hiến của tuổi trẻ; để mọi người cùng ý thức hiến dâng (dù ít dù nhiều) luôn là hành động, là nghĩa cử cao đẹp trong tâm mỗi con người. “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp, cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” - Bác Hồ kính yêu luôn mong mỏi, luôn kỳ vọng, gửi gắm niềm tin - nhất là thế hệ trẻ nước nhà… Chúng ta tự hào khi cách đây chưa lâu, trong Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc (giai đoạn 2015 - 2020) đã có trên 2.000 đại biểu là những đại diện xuất sắc nhất trên các lĩnh vực - là những bông hoa trong vườn hoa đẹp của dân tộc. Họ là những con người dâng hiến tài năng, trí tuệ, sức lực của mình cho làng xóm, quê hương, cộng đồng, dân tộc. Ở đó có những câu chuyện, những sẻ chia với những nỗi đau quặn thắt lòng người… Ở đó có cả sự hy sinh tính mạng mình một cách vô tư, hồn nhiên như “chuyện phải làm”! Chúng ta tự hào với 4 nhân vật truyền cảm hứng trong năm 2020 - bốn “nhân vật cống hiến của năm” được báo chí bình chọn: Đó là cô giáo vùng cao Trương Thị Nhượng (tỉnh Hà Giang) - người đã tận tụy suốt nhiều chục năm ở vùng đất chỉ có núi và… núi. Mong mỏi lớn nhất của cô là có được ngôi trường đàng hoàng để tập hợp trẻ mồ côi; học sinh miền núi có thêm miếng thịt trong bữa ăn, có chiếc áo ấm để mặc… Đó là Hoàng Tuấn Anh - “cha đẻ” ATM gạo miễn phí trong đại dịch COVID-19. Anh vẫn tự dặn lòng: “Sẽ nỗ lực để làm được những điều mới mẻ khác nữa, đem lại lợi ích cho cộng đồng”! Đó là cậu sinh viên Ngô Minh Hiếu - chàng trai khiến ta cảm mến với câu chuyện tử tế: 10 năm cõng bạn đến trường… xem đó như một lẽ tự nhiên vì bạn! Và nhân vật đặc biệt: Chủ tịch UBND xã Bắc Trạch (tỉnh Quảng Bình) - Phan Thanh Miên, người đã qua đời trong trận lũ miền Trung mới đây khi dầm mình trong nước lũ, đưa người dân đến nơi an toàn, còn anh thì… ra đi mãi mãi! Hết lòng vì người khác, xả thân đời mình, bất chấp hiểm nguy, đem hết tài năng, trí tuệ dâng hiến cho người, cho đời là tinh thần thiêng liêng của sự cống hiến… Để kết thúc mấy dòng suy ngẫm này, xin được mượn lời của triết gia ở đầu bài: “Con người sẽ trở nên hạnh phúc và thành công nhất khi được cống hiến” - đó không phải là triết lý mà là sự chân tình giữa con người với con người trong cuộc sống!

HỌC ĐỂ LÀM GÌ VÀ HỌC NHƯ THẾ NÀO?

Trong mỗi quốc gia văn minh đều có các công chức (công dân trong bộ máy nhà nước) và các công dân (nhân dân trong xã hội dân sự). Hai loại công dân này đều cần phải học.