Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023
PHÒNG CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Thời gian qua các tổ chức và cá nhân phản động thường tung thông tin xuyên
tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản
động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi
chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị,
chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực
đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,
suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt
“phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt
lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội
của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con
đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ
đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù
địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng,
củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai
trò đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà
tư tưởng. Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần
tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều
chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây,
cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ
Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của
Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý
nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh
thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận
và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí
Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân
tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là
một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy
vật biện chứng nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình
thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện
thực.
Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm
sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã
hội. Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập
trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên
không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ
Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách
mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh
xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý
tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa
thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng
Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn
duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức
phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã
hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải
phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách
mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho
kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự
do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa
nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng
chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong
những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là
đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân
dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng
mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.
Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn
vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.
Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ
Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế
thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ
và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.
Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong Tập biên bản của Đại hội đồng
UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987 có đầy đủ nội dung liên
quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh
Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1
Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x
30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Năm 2010, liên quan đến sự kiện
Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã
phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm
lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách
đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan
trọng và kiệt xuất của lịch sử”.
Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi
thời”, không còn phù hợp.
Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường,
hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những
quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”,
“khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại...
Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức
sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính
những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước
thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt
Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong
toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập
đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép
ai được ngả nghiêng, dao động”.
Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng
sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp
của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của
nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới
về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc.
Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về
tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá
trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp
hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển
của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung,
trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân
loại.
Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh
thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình
thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó
có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa
bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ
đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí
Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao” (18) .
Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là
phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng
thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm
cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.
MỘT SỐ TRỌNG TÂM CHỦ YẾU ĐẶT RA NHẰM BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG
Như chúng ta đã biết, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển
mạnh mẽ trên toàn cầu, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa
học - kỹ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt
động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó,
để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Trong văn kiện Đại hội XIII của
Đảng đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã
hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Để thực hiện
thắng lợi Nghị quyết của Đảng, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho
nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa
bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường không gian
mạng. Các hoạt động của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền
tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, số
lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến
thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không
nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các
thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị
các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm thù địch, sai trái. Để mỗi người dân
có thể “miễn dịch” với các loại vi rút này cao hơn và có thể trở thành chiến sĩ kiên
trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn
nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận
thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia trên không gian mạng mà
các đối tượng phản động luôn rình dập chống phá.
Thứ hai, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi
xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian gần đây, xuất hiện ngày
càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt
động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội
phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Chính vì lẽ đó, yêu cầu làm tốt công tác
phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên
không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ. Cần làm tốt công tác quản
lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm
phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn
dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an
ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt có chuyên
môn giỏi, tinh nhuệ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm công nghệ cao xâm
phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng thật sự có hiệu quả.
Thứ ba, làm tốt công tác phòng ngừa không để xảy ra chiến tranh mạng. Để
đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải
pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương
nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh
thông tin, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Tăng cường
quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh
vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng
yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh
vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, lực
lượng tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên
không gian mạng, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống chiến tranh mạng xảy ra.
Thứ tư, làm tốt công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian
mạng. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch,
phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập,
chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia,
lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn
thông tin mạng ban hành năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà
nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn,
xử lý kịp thời các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước,
thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các
hành vi trái pháp luật.
Thứ năm, tăng cường xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng
cao, đủ về số lượng và chất lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, chủ động về công
nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công
nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn
hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra
ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu
về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng.
Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ
cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu
của nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới./.
QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN VỚI NGƯỜI ĐẦY TỚ TRUNG THÀNH CỦA MÌNH
MẤY YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TÁC GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
Trong những năm tới, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đi vào chiều
sâu, với những diễn biến khó khăn hơn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan, bên trong và bên ngoài,... đan xen một cách phức tạp. Đặc biệt là sự gia
tăng những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch
đối với cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tình hình đó đặt ra
những yêu cầu cơ bản, cấp thiết đối với cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên
tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong giai đoạn
cách mạng hiện nay.
Cần phải tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của hệ thống chính trị đối với
sự nguy hại của những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Vì sự nghiệp đổi mới càng được
đẩy mạnh, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan
hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn hơn để tạo động lực trực tiếp cho sự
phát triển đất nước. Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng
lớn, việc nhận thức đúng và xử lý tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị càng trở nên quan trọng và bức thiết. Giai đoạn tới, cần đặt đúng vị trí vấn đề đổi
mới chính trị và đổi mới kinh tế phải đồng bộ, phù hợp, có bước đi thích hợp để thúc
đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững”.
Trong khi đó, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh phản bác
những quan điểm xuyên tạc mối quan hệ này nói riêng là một hoạt động khó khăn, rất
nhạy cảm, do đó, cần được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở
nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có trên cơ sở tạo sự chuyển
biến sâu sắc về nhận thức mới làm cho các tổ chức, các lực lượng xã hội có thái độ
đúng, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng và phát huy
đầy đủ trách nhiệm trong tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác, từ đó mới bảo đảm
cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có chất lượng và mang
lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tránh không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác; nhưng
không tuyệt đối hóa, chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao
trình độ và năng lực của lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung,
phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị ở Việt Nam nói riêng.
Tiếp tục có những đột phá mới trong tư duy lý luận của Đảng về giải quyết mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo
đó, vấn đề đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng Cộng sản Việt
Nam phải tích cực nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên tổng kết thực tiễn công
cuộc đổi mới; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu
vực; bám sát sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước, quốc tế để từng bước
nhận thức đầy đủ, sáng tỏ. Tức là, những vấn đề trên đây đã, đang đòi hỏi ở Đảng ta
một tư duy lý luận không chỉ mang tính sáng tạo, độc đáo mà còn có khả năng đột phá
và mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa
đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là phương thức hữu hiệu nhất để
đấu tranh phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực
thù địch chung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước
ta, mà còn trở thành tiền đề trực tiếp, cơ sở khoa học, kim chỉ nam dẫn dắt cho thành
công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
ở nước ta nói riêng trong thời gian tới và những năm tiếp theo.
Đảng cần tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực của lực lượng
chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, phản bác các luận điệu xuyên tạc mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng. Tham gia vào
cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, chứ không chỉ là
công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Tuy nhiên, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời,
nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh đòi hỏi phải xây dựng một lực lượng chuyên
trách giữ vai trò nòng cốt, xung kích. Trong điều kiện hiện nay, cần tích cực bồi dưỡng
nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ mọi mặt của lực lượng này. Bởi thực tiễn đã cho
thấy, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào đều không
thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái, các luận điệu
xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam với một bản
lĩnh chính trị non yếu và trên một nền tảng lý luận nghèo nàn; một hệ thống tri thức
không đầy đủ, xa rời những vấn đề thực tiễn đang diễn ra trong cuộc sống.
Chính vì vậy, chúng ta cần đặt ra một số vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ
bản lâu dài là cần tiếp tục hơn nữa bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh tư
tưởng, lý luận một cách toàn diện, trước tiên phải bồi dưỡng họ trở thành những
người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tư duy lý luận sâu sắc, có phương
pháp đấu tranh nhạy bén, sắc sảo; thậm chí là những chuyên gia giỏi cả về lý luận lẫn
chuyên môn, nghiệp vụ, những cây bút chiến sắc bén, để tham gia tích cực vào cuộc
đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ thành quả
của cách mạng trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.
BẢN CHẤT GIỮA DÂN CHỦ VỚI NHÂN QUYỀN CẦN TỈNH TÁO VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CỦA KẺ ĐỊCH
Nói đến dân chủ và nhân quyền, đây là hai chế định gắn bó chặt chẽ với nhau.
Nhân quyền vừa là nền tảng, vừa là lý tưởng của dân chủ; ngược lại dân chủ là điều
kiện để thực thi nhân quyền, là thể chế chính trị bảo đảm và thực thi quyền con người.
Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh tiến bộ về quyền con người, dân chủ phát triển
càng cao thì quyền con người càng được khẳng định. Nhân quyền là một phạm trù
chính trị, lịch sử, pháp lý, xã hội và là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên luôn có các
cách hiểu khác nhau, từ khái niệm, nội hàm đến cách thức thực hiện. Với việc thông
qua Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, lần đầu tiên
trong lịch sử nhân loại, quyền con người được thừa nhận và bảo vệ một cách rộng rãi.
Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì: “Quyền con
người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm
chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự
được phép và tự do cơ bản của con người”. Luật Nhân quyền quốc tế cũng chỉ ra
nghĩa vụ của quốc gia và các chủ thể nghĩa vụ khác phải có trách nhiệm thực thi việc
bảo đảm và ngăn ngừa sự vi phạm. Như vậy, Liên hợp quốc chủ yếu đề cập đến khía
cạnh pháp lý của quyền con người, đó là những bảo đảm về pháp lý trong bảo vệ các
quyền tự do cơ bản của con người. Các quan điểm theo lập trường tư sản thì nhấn
mạnh thái quá khía cạnh quyền con người là quyền tự nhiên, “bẩm sinh”, nghĩa là con
người sinh ra đã có các quyền; quyền con người là những nhu cầu cơ bản của con
người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người; con người sở dĩ có các quyền và
tự do đơn giản chỉ vì họ có những phẩm chất tự nhiên của con người. Như vậy, quan
điểm tư sản cho rằng quyền con người là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà
không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến, dân tộc, xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác. Với quan
điểm như vậy, các nước phương Tây đã tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền,
coi nhân quyền là cao nhất, là không có thời gian, không gian, biên giới. Cho nên, ở
đâu họ cho là có vi phạm nhân quyền thì ở đó họ sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp.
Xét theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền
của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật
ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2
nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã
hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội.
Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên
mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử
phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch
sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là
thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống
pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người,
thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.
Còn Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản,
phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948
và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt
Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây
dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ
quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ
quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con
người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công
dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”.
Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát
vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có
tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng,
khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực,
nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính
trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của
mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị,
kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá
nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung
của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc
tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan
tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng
đồng là cách đề cập phiến diện, thiếu khách quan. Vì sự khác biệt về hoàn cảnh lịch
sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia
có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng,
lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các
quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm
điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.
Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế
lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước
khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao
nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi
toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt
các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các
lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã
hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.
Các thế lực phản động luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá
Việt Nam; là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa
bình” của chúng; với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người
cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền
phân lập”, “xã hội dân sự”. Do đó, dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc”
cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt
Nam của chúng; đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích
động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu
tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở
một số nước trên thế giới trong những năm qua cho thấy, phần lớn sự mất ổn định
chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm
mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân
quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, sẽ giúp chúng ta nâng cao
cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh
không khoan nhượng với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên
lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.
NHỮNG CÁI NHÌN SAI LỆCH VỀ NGÀY 30-4-1975
ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA
Trên thực tế, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại,...
trong một tổng thể thống nhất. Mặc dù, bước đi của đổi mới là vấn đề vô cùng nhạy
cảm và hệ trọng. Theo đó, quan điểm của Đảng ta là đổi mới toàn diện, nhưng đặt
trọng tâm vào đâu, lĩnh vực nào đi trước, lĩnh vực nào đi sau,... để bảo đảm cho đổi
mới vận hành đúng hướng, giành thắng lợi, đòi hỏi một tư duy lý luận sâu sắc và nghệ
thuật lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã cân nhắc cẩn trọng, lựa chọn và ưu tiên tập trung giải
quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảm bảo, xuyên suốt
quá trình đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị là một “nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng ta từ khi đổi mới đến nay”.
Trên phương diện tổng thể, “Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về
tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại.
Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác”. Mặt khác, Đảng cũng
nhấn mạnh: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chính
là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho công cuộc đổi mới nói chung đi tới
thắng lợi”. Đó còn là ban hành Hiến pháp mới (năm 1992 và năm 2013), hàng trăm
đạo luật, pháp lệnh bảo đảm cho đổi mới kinh tế; đổi mới tổ chức và hoạt động của
Nhà nước, cả về lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy tốt hơn vai trò của nhân
dân, thực hành dân chủ về chính trị, huy động nhân dân vào công tác quản lý nhà
nước, giám sát và phản biện xã hội. Những đổi mới đó chính là đổi mới chính trị.
Không có những đổi mới chính trị đồng bộ đó thì không thể có thành tựu đổi mới kinh
tế như ngày nay. Song, đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị
xã hội chủ nghĩa, đúng như Đảng ta đã xác định rõ: “Đổi mới tổ chức và phương thức
hoạt động của hệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó,
mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng
định trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI (tháng 1-2015): Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ
chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta mà là đổi mới cơ chế, chính
sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương
thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham
nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ
thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng,
an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Suy cho cùng, thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy nhận thức lý
luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đổi mới
cơ chế, chính sách mà hạt nhân cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích;
đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ
xã hội chủ nghĩa ngày càng tươi đẹp, thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm
phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, công cuộc đổi mới ở Việt Nam
vừa có đổi mới kinh tế, vừa kết hợp đổi mới chính trị.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã minh chứng, xét về mặt kinh tế, không hề có cơ
sở để nảy sinh chế độ chính trị đa nguyên. Vì, trong các thành phần kinh tế ở nước ta,
kinh tế tư bản (nhất là kinh tế tư bản tư nhân) chưa bao giờ giữ được vị trí thống trị.
Chế độ phong kiến ở Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm cũng không tạo ra được thành
phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng nó. Kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu thực dân ở
nước ta được du nhập cùng với chế độ thuộc địa trước đây. Do đó, những nhà tư sản
đầu tiên là tư sản Pháp, sau đó dần dần mới xuất hiện các nhà tư sản người Việt. Tuy
nhiên, giai cấp tư sản này ngay khi mới hình thành đã bị tư sản Pháp chèn ép, cùng
với đó là hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên giai cấp tư sản Việt
Nam bị phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc.
Sau hơn 35 năm đổi mới, gắn với nền kinh tế nhiều thành phần, ở Việt Nam đã
và đang định hình khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh, được Đảng và Nhà
nước tôn trọng, khuyến khích phát triển, đem lại nhiều kết quả ích nước, lợi nhà, nhưng
phần lớn vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Đội ngũ doanh nhân ngày
càng đông đảo, có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta cần thấy
rằng, trong điều kiện có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, chính quyền của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì mối quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp (kể cả quan
hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp tư nhân) không
giống như trong chế độ do giai cấp bóc lột nắm chính quyền. Bằng hàng loạt các công
cụ trong tay của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hệ thống pháp luật, chính
sách (quy hoạch, thuế, tín dụng, thương mại, đầu tư...), kinh tế nhà nước gắn với nguồn
lực nhà nước (đất đai, đầu tư công, vốn trong doanh nghiệp nhà nước) đến các biện
pháp hành chính, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân,... bảo đảm phát huy mặt
tích cực, giảm thiểu mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân, giữ vững định hướng đóng vai trò
quyết định bảo đảm cho sự thắng thế của yếu tố xã hội chủ nghĩa đối với yếu tố phi xã
hội chủ nghĩa, trong đó có yếu tố tư bản chủ nghĩa, vốn vẫn tồn tại trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh rất khó khăn, phức tạp.
Một lần nữa, cần khẳng định rằng, chúng ta thực hiện đổi mới nhưng kiên trì
mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực. Đổi mới để có chủ nghĩa xã hội nhiều
hơn chứ không phải quay lại chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tự do, nhà nước
pháp quyền (tư sản) và đa nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản
hiện đại. Chúng ta không đi theo hướng đó vì nó không phù hợp và không đáp ứng
nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn
với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Với những cơ sở
lý luận và thực tiễn sinh động, đầy thuyết phục, có thể nhất quán khẳng định rằng,
chúng ta thực hiện kinh tế đa thành phần nhưng vẫn bảo đảm nhất nguyên về chính
trị, giữ vững vai trò và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn
toàn hợp lý và là bước đi đúng đắn.
Hơn một phần 3 thế kỷ, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng “Chúng ta đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so
với những năm trước đổi mới. Như lời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã
từng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế
như ngày nay”. Thành tựu đó là kết quả của nhiều nguyên nhân, nhiều nhân tố, nhưng
giữ vai trò chủ đạo, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự sáng tạo và độc đáo của Đảng về
giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong quá trình nhận thức và giải
quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, song nếu chỉ nhìn
phiến diện một chiều vào những khiếm khuyết (mặt thứ yếu, không cơ bản) của vấn đề
này mà lại vội vàng quy chụp cho rằng, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không có đổi
mới chính trị; hoặc đổi mới chính trị “lệch pha” so với đổi mới kinh tế,... thì quả là một
sự “quy chụp” lố bịch; một sự xuyên tạc, bóp méo trắng trợn, thô thiển thiếu khách quan
của các thế lực thù địch. Bởi vì, sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đổi mới kinh tế
với đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
là nét “độc đáo” riêng có của Việt Nam, hoàn toàn khác với Liên Xô, với các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, và Trung Quốc hiện nay.
Ngay trong bước đầu của cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải những
sai lầm, đi vào cải tổ chính trị vô nguyên tắc, nêu ra “dân chủ hóa”, “công khai hóa”,
thúc đẩy vô chính phủ, làm xuất hiện các lực lượng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản, tách Đảng khỏi Nhà nước, tách Nhà nước ra khỏi Đảng. Xét đến
cùng, đây là sự vô hiệu hóa Đảng, nên đã dẫn đến tan vỡ Đảng, sụp đổ chế độ xã hội
chủ nghĩa và sự tan rã của Liên bang Xô-viết.
Còn đối với chúng ta, ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới cũng như trong quá
trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta xác định: “Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải
từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị”; “Kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị”; “Đổi mới chính trị phải đồng
bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp”... Điều đó có nghĩa, ở Việt Nam, đổi mới
kinh tế không phải là đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà theo một định hướng
chính trị nhất định, một cơ sở khoa học đầy đủ. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vừa
là cơ sở của nhau, vừa là điều kiện để triển khai sâu rộng và vững chắc công cuộc đổi
mới trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng - an ninh,... Đổi mới, phát
triển kinh tế tạo ra môi trường và điều kiện để củng cố cơ sở kinh tế cho đổi mới chính
trị, là nhân tố suy đến cùng quyết định sự ổn định chính trị - xã hội. Ngược lại, đổi mới
chính trị tạo ra cơ sở chính trị - pháp lý cho sự phát triển kinh tế; đồng thời, tạo động lực
và gia tăng sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế.
Bằng những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên đã minh chứng một
cách rõ ràng rằng, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam luôn song hành, hỗ
trợ, bổ sung cho nhau; làm cơ sở, tiền đề, điều kiện của nhau; giữa hai mặt luôn có
mối quan hệ biện chứng và thống nhất hữu cơ với nhau, không như các luận điệu
xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch./.
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/4
Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023
SỢ SAI KHÔNG DÁM LÀM LÀ MỘT KIỂU "TỰ DIỄN BIẾN"
Theo nhiều chuyên gia tâm lý, sợ sai không dám làm là một kiểu “tự diễn biến” mới trong quan niệm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Tư tưởng này không những làm chậm trễ, đình trệ hoạt động công vụ, gây bức xúc trong nhân dân mà còn cản trở động lực phát triển. Vì vậy, bên cạnh việc sớm thể chế hóa chủ trương về bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, quan trọng hơn, mỗi cán bộ, nhất là cán bộ quản lý phải nâng cao trách nhiệm, trình độ, bản lĩnh chính trị trong công tác với ý thức phục vụ nhân dân cao nhất.



