Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

PHÒNG CHỐNG PHAI NHẠT LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Trong giờ phút thiêng liêng được kết nạp vào Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên đều thề trước cờ Đảng và hình ảnh lãnh tụ, suốt đời đấu tranh phấn đấu theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, giữ gìn kỷ luật Đảng và phẩm chất, đạo đức của người cách mạng. Đó là lời thề danh dự định hướng rèn luyện, hành động của mỗi đảng viên, cán bộ.
Suốt các thời kỳ đấu tranh cách mạng, tuyệt đại đa số đảng viên, cán bộ đã thực hiện trọn vẹn lời thề đó, điều này có ý nghĩa quyết định sức chiến đấu, danh dự và uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Sự phấn đấu, hy sinh của các đồng chí lãnh đạo Đảng, của hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, đảng viên đã cổ vũ, đoàn kết toàn dân tộc: giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của lịch sử dân tộc; đi tới toàn thắng trong các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc vì hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
"Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng".
Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có những thành công căn bản và quan trọng, bảo đảm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Song công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhất là một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
"Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" tại Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10/2016). Biểu hiện hàng đầu của sự suy thoái đó là: "Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh".
Không chỉ phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mà một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện "Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái" và những biểu hiện sai trái khác. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị là căn bản và có ý nghĩa quyết định bảo đảm bản chất cách mạng, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng là điều nguy hiểm nhất với sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Vì vậy, phải đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh đó càng đòi hỏi sự trong sạch trong nội bộ Đảng, phải ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.
Cách mạng và dân tộc Việt Nam từ năm 1930 đến nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã và đang phát triển trên con đường đúng đắn với những thắng lợi và thành tựu to lớn. Vì sao với hiện thực rõ ràng như vậy vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội? Cần thiết phải làm rõ nguyên nhân.
Có những người bị chi phối bởi quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cho rằng sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Sự thật là, đó là sự tan vỡ của một mô hình với những hạn chế và khuyết điểm hoàn toàn có thể điều chỉnh, sửa chữa được.
Chính sự phản bội và nhân danh tư duy chính trị mới đã phủ nhận thành quả vĩ đại của chủ nghĩa xã hội, đưa các nước đó rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã sửa chữa những khuyết điểm của mô hình cũ bằng đường lối đổi mới. Kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội và đổi mới thành công đã làm cho nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã tổng kết điều đó. Đặc biệt, tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam công bố năm 2021 là sự phát triển quan trọng nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cần phải quán triệt và nhận thức sâu sắc những tổng kết có giá trị khoa học và hiện thực của Đảng trong từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đó là điều có vai trò quan trọng để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lý luận, tư tưởng đó quyết định bản chất cách mạng, khoa học, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của Đảng và cũng quyết định ý chí, lý tưởng cách mạng và phẩm chất chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng nhiều lần nhấn mạnh, học tập, nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là thuộc lòng câu chữ mà phải nắm vững giá trị mang tính quy luật, phương pháp luận khoa học để vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển.
Bộ Chính trị khóa XII chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch. Qua cuộc đấu tranh đó để toàn Đảng và nhân dân cảnh giác và góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng, lý luận, tăng sức đề kháng trong Đảng và toàn xã hội. Những người phai nhạt lý tưởng, dao động, giảm sút niềm tin, hoặc bị ảnh hưởng từ những luận điệu sai trái, thù địch, cố tình phụ họa, tiếp tay cho kẻ địch, hoặc do trình độ nhận thức hạn chế, bản lĩnh chính trị không vững vàng, ít chịu học tập, rèn luyện, tu dưỡng và cả sự chủ quan, kiêu ngạo, cố tình quay lưng lại với sự thật.
Vì vậy phải chú trọng công tác giáo dục, học tập, nghiên cứu lý luận chính trị một cách căn bản, sâu sắc, có hệ thống. Giáo dục sâu sắc, thiết thực lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng củng cố sức mạnh của Đảng về tư tưởng, chính trị, ngăn chặn, đẩy lùi sự phai nhạt lý tưởng cách mạng.
Phòng ngừa sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần phải tu dưỡng, rèn luyện tính tiên phong, đức hy sinh và phẩm chất đạo đức cách mạng. Hiểu biết sâu sắc đất nước, dân tộc mình, tự hào, tự tôn dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng và dân tộc và không ngừng học tập. Học tập để nâng cao trình độ trí tuệ, hiểu biết lý luận, nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để hành động tự giác, có hiệu quả.
Lý tưởng, mục tiêu của Đảng rất rõ ràng là độc lập dân tộc và xây dựng Việt Nam trở thành nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Là cán bộ, đảng viên của Đảng phải tuyệt đối trung thành và phấn đấu vì lý tưởng cao cả đó. Làm sao để trong Đảng không có những đảng viên phai nhạt lý tưởng, càng không thể có đảng viên xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng. Hãy luôn luôn ghi nhớ lời thề khi gia nhập Đảng./.
Theo Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về 1 người

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

 Thời gian qua các tổ chức và cá nhân phản động thường tung thông tin xuyên

tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản

động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi

chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị,

chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực

đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,

suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực

thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt

“phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt


lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội

của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con

đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ

đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù

địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng,

củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai

trò đặc biệt quan trọng. 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà

tư tưởng. Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần

tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều

chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây,

cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ

Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.

Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của

Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý

nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân

tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập

dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh

thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận

và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác

- Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí

Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân

tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là

một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng

Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy

vật biện chứng nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình

thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện

thực.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ

nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm

sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã

hội. Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập

trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên

không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ

Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. 


Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách

mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh

xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý

tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa

thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng

Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn

duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức

phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã

hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải

phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách

mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho

kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự

do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây

dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa

nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng

chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp

bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ

nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong

những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là

đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân

dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng

mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn

vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.

Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ

Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa

được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế

thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ

và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong Tập biên bản của Đại hội đồng

UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987 có đầy đủ nội dung liên

quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh

Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1

Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x

30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Năm 2010, liên quan đến sự kiện


Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã

phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm

lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách

đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm

Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan

trọng và kiệt xuất của lịch sử”.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi

thời”, không còn phù hợp.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường,

hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những

quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”,

“khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại...

Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức

sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính

những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước

thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt

Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong

toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập

đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -

Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép

ai được ngả nghiêng, dao động”.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng

sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp

của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng

xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của

nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới

về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc.

Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về

tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá

trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp

hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước

chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển

của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung,

trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân

loại.


Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh

thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của

nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình,

độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình

thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó

có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa

bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ

đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí

Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao” (18) .

Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là

phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng

thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa

Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm

cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.

MỘT SỐ TRỌNG TÂM CHỦ YẾU ĐẶT RA NHẰM BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN MÔI TRƯỜNG KHÔNG GIAN MẠNG

 Như chúng ta đã biết, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển

mạnh mẽ trên toàn cầu, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa

học - kỹ thuật để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt

động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó,

để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Trong văn kiện Đại hội XIII của

Đảng đã khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,

thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng,

Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã

hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Để thực hiện

thắng lợi Nghị quyết của Đảng, chúng ta cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho

nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa

bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường không gian

mạng. Các hoạt động của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền

tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi đó, số

lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến

thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không

nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các

thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị

các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm thù địch, sai trái. Để mỗi người dân

có thể “miễn dịch” với các loại vi rút này cao hơn và có thể trở thành chiến sĩ kiên

trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn

nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận

thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm đến an ninh quốc gia trên không gian mạng mà

các đối tượng phản động luôn rình dập chống phá.  

Thứ hai, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi

xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian gần đây, xuất hiện ngày

càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt

động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội

phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Chính vì lẽ đó, yêu cầu làm tốt công tác

phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên

không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ. Cần làm tốt công tác quản

lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn

dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an

ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng lực lượng nòng cốt có chuyên

môn giỏi, tinh nhuệ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm công nghệ cao xâm

phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng thật sự có hiệu quả.      

Thứ ba, làm tốt công tác phòng ngừa không để xảy ra chiến tranh mạng. Để

đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải


pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương

nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh

thông tin, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Tăng cường

quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh

vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng

yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh

vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, lực

lượng tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên

không gian mạng, sẵn sàng ứng phó trong mọi tình huống chiến tranh mạng xảy ra.   

Thứ tư, làm tốt công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian

mạng. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch,

phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập,

chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia,

lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn

thông tin mạng ban hành năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà

nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn,

xử lý kịp thời các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước,

thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các

hành vi trái pháp luật.

Thứ năm, tăng cường xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng

cao, đủ về số lượng và chất lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, chủ động về công

nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Chúng ta có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công

nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn

hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra

ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu

về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng.

Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ

cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu

của nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới./.

QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN VỚI NGƯỜI ĐẦY TỚ TRUNG THÀNH CỦA MÌNH


Chủ nghĩa Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến quyền của quần chúng nhân dân với những người lãnh đạo của mình.
Theo quan điểm của Lênin, nhân dân có quyền cử ra cũng như có quyền thay đổi và kiểm tra, hiểu rõ về các hoạt động của những người lãnh đạo. Lênin từng chỉ rõ: “Quần chúng phải có quyền được tự mình cử ra những người lãnh đạo có trách nhiệm. Quần chúng phải có quyền được thay đổi những người lãnh đạo của mình, phải có quyền được hiểu rõ và kiểm tra mỗi một bước nhỏ nhất trong hoạt động của những người đó”.
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định “Đảng là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Tư tưởng ấy xuyên suốt quá trình ra đời, trưởng thành, phát triển, lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam của Đảng cũng như hệ thống chính trị.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Người chỉ rõ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân”. Ngày 24 – 1 – 1947, trong Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ai cũng biết rằng; trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ làng xã đến toàn quốc những người chức trách đều do dân cử ra. Dân tin cậy ai thì người ấy trúng cử và bổn phận những người trúng cử là làm đầy tớ công cộng cho dân chứ không phải làm quan phát tài”.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: để Đảng, Chính phủ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình với nhân dân thì các tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước phải thật sự vì nhân dân phục vụ. Nói chuyện với anh em công chức Thủ đô vào ngày 30 – 11 – 1954, Người nhấn mạnh: “Bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, chúng ta đều là đầy tớ của nhân dân. Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta cần phải cố gắng thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính”. Tháng 3 – 1947, khi viết về Đời sống mới, Hồ Chủ tịch yêu cầu: “Cán bộ của làng phải là người trong sạch, công bình, thạo việc, có thể làm gương cho dân làng; có thể hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung”.
Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước phải luôn trung thực với nhân dân, không được giấu giếm nhân dân, phải để nhân dân hưởng quyền được biết về công việc của Đảng, của Chính phủ, quyền kiểm tra giám sát, thụ hưởng theo đúng quy định của Đảng, của Nhà nước, của pháp luật. Đây phải thật sự là việc cần thiết, sự cầu thị của Đảng, Nhà nước với nhân dân. Ngày 10 – 10 – 1954, trong Lời kêu gọi nhân dân Thủ đô giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nguyện vọng của Chính phủ là rất mong được nhân dân giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình, là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến quyền của công dân trong việc tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới được thành lập và trong bối cảnh kháng chiến toàn quốc cam go, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thẳng thắn nêu rõ vấn đề người dân có quyền giám sát cán bộ để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Ngày 10 – 1 – 1946, phát biểu trước nông dân và điền chủ tỉnh Hưng Yên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nước ta thời Pháp thuộc, thực dân Pháp lấy tiền quỹ để đắp đê, nhưng chúng chỉ bỏ vào việc đắp đê rất ít, còn bỏ vào túi chúng. Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân. Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới”. Khi bàn về vấn đề Cần kiệm liêm chính, vào khoảng tháng 6 – 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không liêm cũng phải hóa ra LIÊM. Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên yêu cầu, động viên nhân dân cần phải thực hiện tốt quyền của mình đối với Đảng, Nhà nước. Người nhắc nhở nhân dân phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả mối quan hệ hữu cơ giữa quyền và nghĩa vụ, quyền phải đi liền với nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Trong bài báo Đạo đức công dân đăng trên Báo Nhân Dân ngày 15 – 1 – 1954, Người viết: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”. Người chỉ rõ: công dân phải tuân theo pháp luật Nhà nước, kỷ luật lao động, giữ gìn trật tự chung; phải đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số để xây dựng lợi ích chung. Đồng thời công dân phải hăng hái tham gia công việc chung, bảo vệ tài sản công cộng và bảo vệ Tổ quốc.
Những tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị quán triệt, triển khai thực hiện tích cực, hiệu quả trên thực tế lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Qua đó, Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như cán bộ, đảng viên đã ngày càng phấn đấu rèn luyện để xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Trong khi đó thì thật là vô lý khi các thế lực thù địch, thế lực xấu trắng trợn chống phá mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và nhân dân với Đảng của mình. Chúng xuyên tạc rằng Đảng độc tài, bóp nghẹt mọi quyền lợi của người dân; Đảng chỉ lo lợi ích của Đảng, bỏ mặc nhân dân đói khổ; nhân dân bất bình, mất hết niềm tin vào Đảng. Tháng 3 – 2023 vừa qua, một đối tượng xấu lu loa rằng sở dĩ ở Việt Nam chưa đoàn kết được là: “vì những quyết định tự tung tự hứng” của Đảng “mà tình trạng chia rẽ, mất đoàn kết giữa dân và Đảng mở rộng…” và “càng sống lâu, Đảng càng chia rẽ dân tộc và gây ra đổ vỡ, tụt hậu cho đất nước”…
Sự chống phá trên của các thế lực thù địch, thế lực xấu không đánh lừa được ai và chỉ làm cho dư luận hiểu rõ thêm bản chất xấu độc của những thông tin chúng đưa ra, đồng thời củng cố, tăng cường quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chúng mà thôi.
Trong tình hình mới của cách mạng nước ta hiện nay, quyền của nhân dân càng được Đảng, Nhà nước quan tâm. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Nghị quyết Trung ương năm, khóa XIII, đề ra nội dung rất cụ thể: “Xây dựng mối quan hệ mật thiết giữa tổ chức cơ sở đảng, đảng viên với nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên”.
Thực tế cách mạng Việt Nam thời gian qua cho thấy: những nội dung quan trọng liên quan đến quyền, nghĩa vụ của nhân dân đã luôn được tiến hành tích cực, có hiệu quả từ hai phía, nhân dân tự nguyện, tự giác và Đảng, Nhà nước tạo thuận lợi để nhân dân thực hành tốt quyền và nghĩa vụ của mình. Mỗi người chúng ta hãy tin tưởng, chờ đợi và tích cực cùng “Người đầy tớ trung thành của nhân dân” thực hiện tốt nhất phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'Q አተድቢ XÂY DỰNG ĐẢNG TA THẬT SỰ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH "LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH"'

MẤY YÊU CẦU ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TÁC GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

 Trong những năm tới, công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đi vào chiều

sâu, với những diễn biến khó khăn hơn, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan, bên trong và bên ngoài,... đan xen một cách phức tạp. Đặc biệt là sự gia

tăng những âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch

đối với cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tình hình đó đặt ra

những yêu cầu cơ bản, cấp thiết đối với cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên

tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta trong giai đoạn

cách mạng hiện nay.

Cần phải tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của hệ thống chính trị đối với

sự nguy hại của những luận điệu sai trái, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa đổi mới

kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Vì sự nghiệp đổi mới càng được

đẩy mạnh, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trở thành mối quan

hệ lớn phải được nhận thức và xử lý đúng đắn hơn để tạo động lực trực tiếp cho sự

phát triển đất nước. Đảng ta chỉ rõ: “Đổi mới càng đi vào chiều sâu, trên quy mô rộng

lớn, việc nhận thức đúng và xử lý tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị càng trở nên quan trọng và bức thiết. Giai đoạn tới, cần đặt đúng vị trí vấn đề đổi

mới chính trị và đổi mới kinh tế phải đồng bộ, phù hợp, có bước đi thích hợp để thúc

đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững”.

Trong khi đó, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh phản bác

những quan điểm xuyên tạc mối quan hệ này nói riêng là một hoạt động khó khăn, rất

nhạy cảm, do đó, cần được lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ trên cơ sở

nhận thức đầy đủ, sâu sắc của mọi tổ chức, lực lượng. Chỉ có trên cơ sở tạo sự chuyển

biến sâu sắc về nhận thức mới làm cho các tổ chức, các lực lượng xã hội có thái độ

đúng, ủng hộ, đồng thuận với Đảng, không bị kẻ xấu lôi kéo, thao túng và phát huy

đầy đủ trách nhiệm trong tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác, từ đó mới bảo đảm

cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có chất lượng và mang


lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tránh không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác; nhưng

không tuyệt đối hóa, chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao

trình độ và năng lực của lực lượng chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung,

phản bác các luận điệu xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị ở Việt Nam nói riêng.

Tiếp tục có những đột phá mới trong tư duy lý luận của Đảng về giải quyết mối

quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo

đó, vấn đề đặt lên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng Cộng sản Việt

Nam phải tích cực nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên tổng kết thực tiễn công

cuộc đổi mới; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khu

vực; bám sát sự vận động, biến đổi của tình hình trong nước, quốc tế để từng bước

nhận thức đầy đủ, sáng tỏ. Tức là, những vấn đề trên đây đã, đang đòi hỏi ở Đảng ta

một tư duy lý luận không chỉ mang tính sáng tạo, độc đáo mà còn có khả năng đột phá

và mang lại hiệu quả cao hơn nữa trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa

đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là phương thức hữu hiệu nhất để

đấu tranh phê phán, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực

thù địch chung quanh mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước

ta, mà còn trở thành tiền đề trực tiếp, cơ sở khoa học, kim chỉ nam dẫn dắt cho thành

công của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

ở nước ta nói riêng trong thời gian tới và những năm tiếp theo.

Đảng cần tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ và năng lực của lực lượng

chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, phản bác các luận điệu xuyên tạc mối

quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng. Tham gia vào

cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, chứ không chỉ là

công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Tuy nhiên, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời,

nâng cao chất lượng và hiệu quả đấu tranh đòi hỏi phải xây dựng một lực lượng chuyên

trách giữ vai trò nòng cốt, xung kích. Trong điều kiện hiện nay, cần tích cực bồi dưỡng

nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ mọi mặt của lực lượng này. Bởi thực tiễn đã cho

thấy, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào đều không

thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái, các luận điệu

xuyên tạc mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam với một bản

lĩnh chính trị non yếu và trên một nền tảng lý luận nghèo nàn; một hệ thống tri thức

không đầy đủ, xa rời những vấn đề thực tiễn đang diễn ra trong cuộc sống.

Chính vì vậy, chúng ta cần đặt ra một số vấn đề vừa có tính cấp thiết, vừa cơ

bản lâu dài là cần tiếp tục hơn nữa bồi dưỡng lực lượng chuyên trách đấu tranh tư

tưởng, lý luận một cách toàn diện, trước tiên phải bồi dưỡng họ trở thành những

người có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tư duy lý luận sâu sắc, có phương

pháp đấu tranh nhạy bén, sắc sảo; thậm chí là những chuyên gia giỏi cả về lý luận lẫn

chuyên môn, nghiệp vụ, những cây bút chiến sắc bén, để tham gia tích cực vào cuộc

đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ thành quả

của cách mạng trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

BẢN CHẤT GIỮA DÂN CHỦ VỚI NHÂN QUYỀN CẦN TỈNH TÁO VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CỦA KẺ ĐỊCH

 Nói đến dân chủ và nhân quyền, đây là hai chế định gắn bó chặt chẽ với nhau.

Nhân quyền vừa là nền tảng, vừa là lý tưởng của dân chủ; ngược lại dân chủ là điều

kiện để thực thi nhân quyền, là thể chế chính trị bảo đảm và thực thi quyền con người.

Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh tiến bộ về quyền con người, dân chủ phát triển

càng cao thì quyền con người càng được khẳng định. Nhân quyền là một phạm trù

chính trị, lịch sử, pháp lý, xã hội và là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nên luôn có các

cách hiểu khác nhau, từ khái niệm, nội hàm đến cách thức thực hiện. Với việc thông

qua Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, lần đầu tiên

trong lịch sử nhân loại, quyền con người được thừa nhận và bảo vệ một cách rộng rãi.

Theo Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thì: “Quyền con

người là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm

chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự

được phép và tự do cơ bản của con người”. Luật Nhân quyền quốc tế cũng chỉ ra

nghĩa vụ của quốc gia và các chủ thể nghĩa vụ khác phải có trách nhiệm thực thi việc

bảo đảm và ngăn ngừa sự vi phạm. Như vậy, Liên hợp quốc chủ yếu đề cập đến khía

cạnh pháp lý của quyền con người, đó là những bảo đảm về pháp lý trong bảo vệ các

quyền tự do cơ bản của con người. Các quan điểm theo lập trường tư sản thì nhấn

mạnh thái quá khía cạnh quyền con người là quyền tự nhiên, “bẩm sinh”, nghĩa là con

người sinh ra đã có các quyền; quyền con người là những nhu cầu cơ bản của con

người, xuất phát từ phẩm giá vốn có của mỗi người; con người sở dĩ có các quyền và

tự do đơn giản chỉ vì họ có những phẩm chất tự nhiên của con người. Như vậy, quan

điểm tư sản cho rằng quyền con người là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân mà

không dựa trên bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn

giáo, chính kiến, dân tộc, xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác. Với quan

điểm như vậy, các nước phương Tây đã tuyệt đối hóa tính phổ biến của nhân quyền,

coi nhân quyền là cao nhất, là không có thời gian, không gian, biên giới. Cho nên, ở

đâu họ cho là có vi phạm nhân quyền thì ở đó họ sẽ tiến hành các hoạt động can thiệp.

Xét theo quan điểm của học thuyết Mác - Lê-nin thì quyền con người là quyền

của tất cả mọi người, xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người được pháp luật

ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực pháp luật, quyền con người được phân thành 2

nhóm chính, đó là nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, xã

hội, văn hóa. Nhân quyền được hình thành từ hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội.

Quyền con người mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên, nhưng không phải tự nhiên

mà có, mà đó là thành quả của các cuộc đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội, lịch sử

phát triển loài người. Nhân quyền có các đặc trưng: là sản phẩm của sự phát triển lịch

sử; là những giá trị gắn với con người với tư cách cá nhân, đồng thời với tư cách là

thành viên của cộng đồng, xã hội; được ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống


pháp luật quốc gia và quốc tế; là tổng thể các quyền mặc nhiên cơ bản của con người,

thể hiện nhu cầu, năng lực, tự do, nhân phẩm của con người.

Còn Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ tất cả các quyền cơ bản,

phổ biến của con người được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948

và các công ước quốc tế khác của Liên hợp quốc về quyền con người. Nhà nước Việt

Nam luôn xác định, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây

dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệ

quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi

sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ

quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con

người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công

dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”.

Việt Nam quan niệm quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát

vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có

tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng. Trong một thế giới ngày càng đa dạng,

khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực,

nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính

trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của

mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị,

kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác. Các quyền và tự do của mỗi cá

nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung

của dân tộc và cộng đồng; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ. Việc chỉ ưu tiên hoặc

tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan

tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của cả cộng

đồng là cách đề cập phiến diện, thiếu khách quan. Vì sự khác biệt về hoàn cảnh lịch

sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, nên mỗi quốc gia

có cách tiếp cận khác nhau về quyền con người. Không nước nào có quyền sử dụng,

lợi dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các

quốc gia khác, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm

điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nước khác.

Trong bối cảnh tồn tại giai cấp đối kháng hiện nay, nhân quyền luôn bị các thế

lực thù địch lợi dụng, chính trị hóa để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước

khác, trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch sử dụng chính sách “ngoại giao

nhân quyền” để áp đặt tiêu chuẩn, “xuất khẩu” nhân quyền phương Tây trên phạm vi

toàn cầu thông qua luận điểm về “giá trị phổ quát” của nhân quyền. Họ thường áp đặt

các giá trị dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cho các nước khác trên tất cả các

lĩnh vực, như xây dựng, thực thi pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển “xã

hội dân sự” nhằm tạo đối trọng với chính phủ.

Các thế lực phản động luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá

Việt Nam; là một trong những hoạt động nguy hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa

bình” của chúng; với chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “an ninh con người

cao hơn an ninh quốc gia”, “nhân quyền không có biên giới quốc gia”, “tam quyền


phân lập”, “xã hội dân sự”. Do đó, dân chủ, nhân quyền đang là “cái cớ”, “vỏ bọc”

cho các hành động can thiệp, gây sức ép thúc đẩy sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt

Nam của chúng; đồng thời là một khẩu hiệu, ngọn cờ để tuyên truyền, xuyên tạc, kích

động, tạo ra các khuynh hướng dân chủ cực đoan, tập hợp lực lượng chống đối, biểu

tình, tiến tới các hoạt động khủng bố, bạo loạn, lật đổ. Thực tế diễn biến chính trị ở

một số nước trên thế giới trong những năm qua cho thấy, phần lớn sự mất ổn định

chính trị, xã hội đều xuất phát từ nhận thức lệch lạc về dân chủ, nhân quyền và âm

mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền. Vì vậy, hiểu đúng về dân chủ, nhân

quyền và bản chất của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền, sẽ giúp chúng ta nâng cao

cảnh giác cách mạng, đồng thời có cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để đấu tranh

không khoan nhượng với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên

lĩnh vực dân chủ, nhân quyền./.

NHỮNG CÁI NHÌN SAI LỆCH VỀ NGÀY 30-4-1975


Cách đây 48 năm, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày 30-4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam, được đặt tên là Ngày Chiến thắng, hoặc Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Gần nửa thế kỷ qua, ngày 30-4 đã trở thành ngày hội thống nhất non sông gấm vóc, ngày tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng với các thế lực thù địch và một số đối tượng cơ hội chính trị thì ngày 30-4 lại là ngày “hằn học”, ngày “bực tức”, ngày “thù hận”. Đã thành thông lệ từ nhiều năm nay, cứ gần đến ngày lễ Chiến thắng, một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, xuyên tạc lịch sử về ngày 30-4-1975. Họ gọi cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30-4-1975 là “Ngày quốc hận” và tháng 4-1975 là “Tháng tư đen”…
Năm nay, vẫn “trung thành” với các âm mưu thâm độc, nhưng các thế lực thù địch và một số phần tử cơ hội chính trị có vẻ “đổi mới” hơn về phương thức chống phá, chúng lợi dụng mạng xã hội, mạng Internet để đưa những thông tin sai lệnh, xuyên tạc sự thật lịch sử, “vẽ” ra viễn cảnh “nếu không có ngày 30-4-1975”… Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn xúi giục những người trẻ tuổi ở Việt Nam đấu tranh “đòi tự do dân chủ” theo viễn tưởng phương Tây, từ đó làm giảm niềm tin vào chế độ, đòi “đa nguyên, đa đảng”…
Có lẽ chúng không biết hoặc cố tính không muốn biết sự thật lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX. Sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genevơ. Theo nội dung Hiệp định, vĩ tuyến 17 được coi là ranh giới tạm thời chia đôi đất nước ta. Ranh giới ấy lẽ ra đã được xóa bỏ, hai miền Nam-Bắc ruột thịt có thể đã được thống nhất chỉ sau hai năm bằng một cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu vào tháng 7-1956. Thế nhưng đế quốc Mỹ với âm mưu muốn thế chân thực dân Pháp ở miền Nam đã phá đi cơ hội thống nhất non sông lúc ấy. Chính quyền Ngô Đình Diệm-tay sai của đế quốc Mỹ biết không thể có cơ hội chiến thắng một cách đàng hoàng, hợp pháp qua cuộc Tổng tuyển cử trên cả nước trước Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được lòng dân. Vì thế, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm đã giành quyền thống trị miền Nam bằng vũ lực, súng đạn, máy chém, sát hại dã man hàng vạn đồng bào, tạo ra những cuộc bắt bớ, giết hại tín đồ Phật giáo, gây mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo. Với việc dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ đã thi hành ở Việt Nam chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Khi nhận thấy Ngô Đình Diệm không còn phù hợp với chính sách của mình, Mỹ lập tức dàn xếp một cuộc đảo chính, tiêu diệt cả hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, dựng lên tại miền Nam Việt Nam một chính thể khác phục vụ trung thành hơn cho lợi ích của Mỹ tại Việt Nam.
Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam. Kể cả khi Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến, hay sau khi quân Mỹ phải rút phần lớn lực lượng khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris vào năm 1973 thì bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không thay đổi. Tại Việt Nam từ năm 1954 đến 1975, thực chất chỉ có một Nhà nước chính danh của dân tộc Việt Nam tồn tại, đó là Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được khai sinh ngày 2-9-1945 sau cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Bộ máy quản lý Nhà nước đó đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu chọn. Các đại biểu Quốc hội khóa I được cử tri cả nước tín nhiệm bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử vào ngày 6-1-1946. Còn cái gọi là “Chính phủ Việt Nam cộng hòa” không phải là một chính quyền hợp pháp, hợp đạo lý, hợp lòng dân mà chỉ là tay sai cho đế quốc Mỹ.
Đến đầu năm 1973, sau khi thua đau trên chiến trường, chịu sức ép của dư luận trong nước và quốc tế bởi đang thực hiện một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đế quốc Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi nước ta. Nhưng Mỹ vẫn để lại một đội ngũ cố vấn hùng hậu, vẫn viện trợ quân sự để tiếp tục biến chính quyền “Việt Nam cộng hòa” thành con rối trong tay Mỹ. Như thế, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta không phải là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Mà đó là cuộc kháng chiến chính nghĩa của toàn thể dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trước sự xâm lược của đế quốc Mỹ và đánh đổ bè lũ tay sai của Mỹ, kết thúc thắng lợi bằng Chiến thắng 30-4-1975.
Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc. Nếu không có Chiến thắng 30-4-1975, chúng ta không thể có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 50 năm qua./.
st
Có thể là hình ảnh về 8 người, mọi người đang đứng và ngoài trời

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG TA

 Trên thực tế, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã diễn ra trên tất cả các lĩnh

vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại,...

trong một tổng thể thống nhất. Mặc dù, bước đi của đổi mới là vấn đề vô cùng nhạy

cảm và hệ trọng. Theo đó, quan điểm của Đảng ta là đổi mới toàn diện, nhưng đặt

trọng tâm vào đâu, lĩnh vực nào đi trước, lĩnh vực nào đi sau,... để bảo đảm cho đổi

mới vận hành đúng hướng, giành thắng lợi, đòi hỏi một tư duy lý luận sâu sắc và nghệ

thuật lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng ta đã cân nhắc cẩn trọng, lựa chọn và ưu tiên tập trung giải

quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảm bảo, xuyên suốt

quá trình đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính

trị là một “nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của

Đảng ta từ khi đổi mới đến nay”.

Trên phương diện tổng thể, “Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về

tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại.

Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác”. Mặt khác, Đảng cũng

nhấn mạnh: “Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, chính

là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho công cuộc đổi mới nói chung đi tới

thắng lợi”. Đó còn là ban hành Hiến pháp mới (năm 1992 và năm 2013), hàng trăm

đạo luật, pháp lệnh bảo đảm cho đổi mới kinh tế; đổi mới tổ chức và hoạt động của

Nhà nước, cả về lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy tốt hơn vai trò của nhân

dân, thực hành dân chủ về chính trị, huy động nhân dân vào công tác quản lý nhà

nước, giám sát và phản biện xã hội. Những đổi mới đó chính là đổi mới chính trị.

Không có những đổi mới chính trị đồng bộ đó thì không thể có thành tựu đổi mới kinh

tế như ngày nay. Song, đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị

xã hội chủ nghĩa, đúng như Đảng ta đã xác định rõ: “Đổi mới tổ chức và phương thức

hoạt động của hệ thống chính trị không phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó,

mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước,

phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng

định trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương

Đảng khóa XI (tháng 1-2015): Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ

chính trị, thay đổi bản chất của Đảng ta, Nhà nước ta mà là đổi mới cơ chế, chính

sách, tổ chức bộ máy, kiện toàn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đổi mới phương

thức công tác, lề lối làm việc, cải cách hành chính, chống tệ quan liêu, lãng phí, tham

nhũng gây phiền hà cho dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan trong hệ

thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng,

an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc.

Suy cho cùng, thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy nhận thức lý

luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đổi mới

cơ chế, chính sách mà hạt nhân cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích;

đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ


xã hội chủ nghĩa ngày càng tươi đẹp, thực hiện tốt nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm

phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, công cuộc đổi mới ở Việt Nam

vừa có đổi mới kinh tế, vừa kết hợp đổi mới chính trị.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã minh chứng, xét về mặt kinh tế, không hề có cơ

sở để nảy sinh chế độ chính trị đa nguyên. Vì, trong các thành phần kinh tế ở nước ta,

kinh tế tư bản (nhất là kinh tế tư bản tư nhân) chưa bao giờ giữ được vị trí thống trị.

Chế độ phong kiến ở Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm cũng không tạo ra được thành

phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng nó. Kinh tế tư bản chủ nghĩa kiểu thực dân ở

nước ta được du nhập cùng với chế độ thuộc địa trước đây. Do đó, những nhà tư sản

đầu tiên là tư sản Pháp, sau đó dần dần mới xuất hiện các nhà tư sản người Việt. Tuy

nhiên, giai cấp tư sản này ngay khi mới hình thành đã bị tư sản Pháp chèn ép, cùng

với đó là hoàn cảnh của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nên giai cấp tư sản Việt

Nam bị phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc.

Sau hơn 35 năm đổi mới, gắn với nền kinh tế nhiều thành phần, ở Việt Nam đã

và đang định hình khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh, được Đảng và Nhà

nước tôn trọng, khuyến khích phát triển, đem lại nhiều kết quả ích nước, lợi nhà, nhưng

phần lớn vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Đội ngũ doanh nhân ngày

càng đông đảo, có vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta cần thấy

rằng, trong điều kiện có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, chính quyền của nhân

dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì mối quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp (kể cả quan

hệ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp tư nhân) không

giống như trong chế độ do giai cấp bóc lột nắm chính quyền. Bằng hàng loạt các công

cụ trong tay của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ hệ thống pháp luật, chính

sách (quy hoạch, thuế, tín dụng, thương mại, đầu tư...), kinh tế nhà nước gắn với nguồn

lực nhà nước (đất đai, đầu tư công, vốn trong doanh nghiệp nhà nước) đến các biện

pháp hành chính, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân,... bảo đảm phát huy mặt

tích cực, giảm thiểu mặt tiêu cực của kinh tế tư nhân, giữ vững định hướng đóng vai trò

quyết định bảo đảm cho sự thắng thế của yếu tố xã hội chủ nghĩa đối với yếu tố phi xã

hội chủ nghĩa, trong đó có yếu tố tư bản chủ nghĩa, vốn vẫn tồn tại trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh rất khó khăn, phức tạp.

Một lần nữa, cần khẳng định rằng, chúng ta thực hiện đổi mới nhưng kiên trì

mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực. Đổi mới để có chủ nghĩa xã hội nhiều

hơn chứ không phải quay lại chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tự do, nhà nước

pháp quyền (tư sản) và đa nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản

hiện đại. Chúng ta không đi theo hướng đó vì nó không phù hợp và không đáp ứng

nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam. Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt

Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn

với cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”... Với những cơ sở

lý luận và thực tiễn sinh động, đầy thuyết phục, có thể nhất quán khẳng định rằng,


chúng ta thực hiện kinh tế đa thành phần nhưng vẫn bảo đảm nhất nguyên về chính

trị, giữ vững vai trò và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn

toàn hợp lý và là bước đi đúng đắn.

Hơn một phần 3 thế kỷ, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng “Chúng ta đã đạt

được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so

với những năm trước đổi mới. Như lời đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã

từng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế

như ngày nay”. Thành tựu đó là kết quả của nhiều nguyên nhân, nhiều nhân tố, nhưng

giữ vai trò chủ đạo, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của

Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự sáng tạo và độc đáo của Đảng về

giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhất định trong quá trình nhận thức và giải

quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta, song nếu chỉ nhìn

phiến diện một chiều vào những khiếm khuyết (mặt thứ yếu, không cơ bản) của vấn đề

này mà lại vội vàng quy chụp cho rằng, ở Việt Nam chỉ có đổi mới kinh tế, không có đổi

mới chính trị; hoặc đổi mới chính trị “lệch pha” so với đổi mới kinh tế,... thì quả là một

sự “quy chụp” lố bịch; một sự xuyên tạc, bóp méo trắng trợn, thô thiển thiếu khách quan

của các thế lực thù địch. Bởi vì, sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đổi mới kinh tế

với đổi mới chính trị, sự thống nhất biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

là nét “độc đáo” riêng có của Việt Nam, hoàn toàn khác với Liên Xô, với các nước xã

hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, và Trung Quốc hiện nay.

Ngay trong bước đầu của cải tổ, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phạm phải những

sai lầm, đi vào cải tổ chính trị vô nguyên tắc, nêu ra “dân chủ hóa”, “công khai hóa”,

thúc đẩy vô chính phủ, làm xuất hiện các lực lượng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của

Đảng Cộng sản, tách Đảng khỏi Nhà nước, tách Nhà nước ra khỏi Đảng. Xét đến

cùng, đây là sự vô hiệu hóa Đảng, nên đã dẫn đến tan vỡ Đảng, sụp đổ chế độ xã hội

chủ nghĩa và sự tan rã của Liên bang Xô-viết. 

Còn đối với chúng ta, ngay từ khi đề ra đường lối đổi mới cũng như trong quá

trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta xác định: “Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải

từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị”; “Kết hợp

chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị”; “Đổi mới chính trị phải đồng

bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp”... Điều đó có nghĩa, ở Việt Nam, đổi mới

kinh tế không phải là đổi mới một cách tùy tiện, vô nguyên tắc mà theo một định hướng

chính trị nhất định, một cơ sở khoa học đầy đủ. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vừa

là cơ sở của nhau, vừa là điều kiện để triển khai sâu rộng và vững chắc công cuộc đổi

mới trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đối ngoại, quốc phòng - an ninh,... Đổi mới, phát

triển kinh tế tạo ra môi trường và điều kiện để củng cố cơ sở kinh tế cho đổi mới chính

trị, là nhân tố suy đến cùng quyết định sự ổn định chính trị - xã hội. Ngược lại, đổi mới

chính trị tạo ra cơ sở chính trị - pháp lý cho sự phát triển kinh tế; đồng thời, tạo động lực

và gia tăng sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế.

Bằng những luận cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên đã minh chứng một

cách rõ ràng rằng, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam luôn song hành, hỗ


trợ, bổ sung cho nhau; làm cơ sở, tiền đề, điều kiện của nhau; giữa hai mặt luôn có

mối quan hệ biện chứng và thống nhất hữu cơ với nhau, không như các luận điệu

xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 07/4


"Phải coi nhân tố con người là vấn đề số một"
Ngày 7 tháng 4 năm 1965, với bút danh Lê Nông, Bác Hồ viết bài “Chúng ta có thể đạt hơn 5 tấn thóc cả năm/một hec ta” đăng trên Báo Nhân Dân, để biểu dương một số hợp tác xã đã đạt chỉ tiêu này. Bác cũng khẳng định có thể đạt năng suất cao hơn nữa, nếu quan tâm đến việc cải tiến khoa học, kỹ thuật, thực hành cần, kiệm trong xây dựng và tự lực cánh sinh; chi bộ lãnh đạo chặt chẽ, đảng viên gương mẫu xung phong, xã viên đoàn kết nhất trí.
Tôn trọng và phát huy sức mạnh của nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử luôn là bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta. Bác luôn coi trọng việc giáo dục về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là nguồn sức mạnh tinh thần, vật chất to lớn để giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng quân sự của Bác với triết lý “người trước, súng sau” đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt quan, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bên cạnh việc đầu tư mới vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu việc xây dựng nhân tố con người, coi đây là khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
Tất cả cảm xúc:
14

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

SỢ SAI KHÔNG DÁM LÀM LÀ MỘT KIỂU "TỰ DIỄN BIẾN"

     Theo nhiều chuyên gia tâm lý, sợ sai không dám làm là một kiểu “tự diễn biến” mới trong quan niệm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Tư tưởng này không những làm chậm trễ, đình trệ hoạt động công vụ, gây bức xúc trong nhân dân mà còn cản trở động lực phát triển. Vì vậy, bên cạnh việc sớm thể chế hóa chủ trương về bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, quan trọng hơn, mỗi cán bộ, nhất là cán bộ quản lý phải nâng cao trách nhiệm, trình độ, bản lĩnh chính trị trong công tác với ý thức phục vụ nhân dân cao nhất.