Thời gian qua các tổ chức và cá nhân phản động thường tung thông tin xuyên
tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản
động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; một số chính phủ, tổ chức phi
chính phủ phương Tây, chính trị gia, nhà tài phiệt có tư tưởng cực hữu chính trị,
chống cộng, đi đầu trong âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; những phần tử cơ hội, cực
đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,
suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt
“phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt
lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội
của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con
đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ
đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù
địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng,
củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai
trò đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà
tư tưởng. Để thực hiện âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, “hạ bệ thần
tượng”, các thế lực thù địch và các phần tử phản động, cơ hội chính trị dùng nhiều
chiêu trò, cách thức khác nhau. Họ xuất phát từ quan niệm học thuật phương Tây,
cường điệu hóa, tán dương những nhà tư tưởng, triết học tư sản, từ đó cho rằng “Hồ
Chí Minh không phải là nhà tư tưởng”.
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của
Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý
nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh
thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận
và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí
Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân
tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là
một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy
vật biện chứng nhất quán, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình
thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện
thực.
Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm
sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã
hội. Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập
trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên
không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ
Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách
mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh
xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý
tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa
thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Hồ Chí Minh cho cách mạng
Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn
duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức
phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã
hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải
phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách
mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho
kỳ được độc lập dân tộc. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự
do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Muốn có độc lập, tự do thực sự thì phải xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Người chỉ rõ: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa
nghiên cứu lý luận Mác - Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng
chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Về lý luận xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong di sản Hồ Chí Minh, Giáo sư Shingo Shibata viết: “Một trong
những cống hiến quan trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là
đã đề ra lý luận về chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân
dân. Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng
mác xít trên thế giới áp dụng lý luận này”.
Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn
vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất.
Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ
Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa
được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế
thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ
và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.
Sự thực là, Quyển 1 của Nghị quyết trong Tập biên bản của Đại hội đồng
UNESCO Khóa họp 24 tại Pari, ngày 20-10 - 20-11-1987 có đầy đủ nội dung liên
quan đến việc tổ chức kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tôn vinh
Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Quyển 1
Nghị quyết được xuất bản bằng 6 thứ tiếng, có kích thước khổ giấy A4 (20cm x
30cm), bìa màu xanh lá cây đậm, dày 220 trang. Năm 2010, liên quan đến sự kiện
Nghị quyết của UNESCO, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO đã
phát biểu tại lễ mít-tinh tại Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp: “Năm 2010 là dịp kỷ niệm
lần thứ 120 Ngày sinh của Người, và đây cũng là dịp để chúng ta ôn lại sự kiện cách
đây hơn 20 năm, vào năm 1987, tổ chức UNESCO đã quyết định kỷ niệm 100 năm
Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 1990) như một trong những nhân vật quan
trọng và kiệt xuất của lịch sử”.
Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi
thời”, không còn phù hợp.
Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường,
hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những
quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”,
“khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại...
Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức
sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính
những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước
thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt
Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong
toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trải qua hơn 91 năm từ ngày thành lập
đến nay, Đảng ta luôn “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh;... là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép
ai được ngả nghiêng, dao động”.
Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng
sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp
của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của
nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới
về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc.
Bạn bè năm châu khâm phục và coi Người là biểu tượng cao đẹp của những giá trị về
tư tưởng, lương tri và phẩm giá làm người, hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Giá
trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp
hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển
của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung,
trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân
loại.
Đảng ta khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh
thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta đi đến thắng lợi; hơn thế còn dẫn đường cho nhân loại đi đến hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình
thế giới, ông Romesh Chandra viết: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó
có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa
bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ
đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí
Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao” (18) .
Để đưa dân tộc ta vững bước tới tương lai, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra là
phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng
thời kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tất cả sức mạnh của vũ khí phê phán, làm
cho học thuyết khoa học và cách mạng của chúng ta luôn tỏa sáng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét