Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

 

CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

VỚI CUỘC ĐẤU TRANH LÝ LUẬN HIỆN NAY


TCCSĐT - Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận là quy luật hình thành phát triển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mối quan hệ giữa nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận

Đấu tranh lý luận là động lực thúc đẩy nghiên cứu lý luận phát triển

Lịch sử đã ghi nhận, trong toàn bộ quá trình hình thành, phát triển hệ thống quan điểm lý luận của mình, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã phải thường xuyên liên tục, lúc quyết liệt, công khai, lúc bí mật, lặng lẽ đấu tranh với rất nhiều lý luận phản diện, trên nhiều mặt từ triết học, kinh tế chính trị đến chủ nghĩa xã hội khoa học, từ những người trong phái Hê-ghen trẻ, như hai anh em nhà Bau-ơ (Bau-ơ Bru-nô và Bau-ơ Ét-ga), đến Pru-đông, Ba-cu-nin,… Để bảo vệ, phát triển thắng lợi chủ nghĩa C. Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh với đủ loại lý luận phản động từ phái dân túy đến phái Ma-khơ, từ chủ nghĩa xã hội dân chủ đến chủ nghĩa xã hội vô chính phủ, từ Plê-kha-nốp đến Cau-xky,…

Đấu tranh lý luận của Đảng ta hiện nay có thể xem là tổng thể các hoạt động nhằm vô hiệu hóa các hoạt động tuyên truyền chống phá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Đấu tranh lý luận là bộ phận của đấu tranh giai cấp, gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc vào cuộc đấu tranh giai cấp. Song đấu tranh lý luận có tính độc lập tương đối, có quy luật vận động phát triển và nội dung, hình thức rất phong phú. Chính hoạt động phong phú, đa dạng chống lại âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực lý luận đã tạo động lực to lớn thúc đẩy nghiên cứu lý luận phát triển.

Xuyên tạc, phá hoại chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, nhưng ở mỗi thời điểm, nội dung, phương thức chống phá lại khác nhau và thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Xuyên tạc, trích dẫn cắt xén, nửa vời tư tưởng các nhà kinh điển để hạ bệ, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cách các thế lực thù địch đã sử dụng từ rất sớm và hiện nay vẫn tiếp tục sử dụng. Hiện nay, cách chúng thường dùng hơn là đối lập C. Mác, Ph. Ăng-ghen với V.I. Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Nhân danh chống chủ nghĩa giáo điều phủ nhận giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt chúng đối lập thực tiễn đổi mới ở nước ta với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cho rằng chúng ta đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin,...

Để phản bác những quan điểm phản động đã được các trung tâm nghiên cứu lý luận của các thế lực thù địch chuẩn bị bài bản, với những đường đi nước bước được tính toán kỹ càng, chúng ta không đơn thuần chỉ tuyên bố phủ nhận là đủ, mà cần nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ, toàn diện hơn bản chất cách mạng khoa học, và sự kế thừa phát triển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các giai đoạn lịch sử, từ đó bổ sung, phát triển, hoàn thiện các quan niệm, khái niệm, phạm trù nguyên lý quy luật của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cả về triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Đương nhiên ngoài động lực quan trọng do cuộc đấu tranh lý luận mang lại, nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam là động lực cơ bản quyết định sự phát triển của nghiên cứu lý luận ở nước ta hiện nay.

Nghiên cứu lý luận là cơ sở, nền tảng của đấu tranh lý luận

Ở nước ta hiện nay có thể coi công tác nghiên cứu lý luận là tổng thể các hoạt động nhằm nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc hơn và  tích cực, chủ động phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng, đồng thời xem xét, đề xuất những nội dung, hình thức, con đường, biện pháp mới bảo vệ, truyền bá, vận dụng thắng lợi chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Nghiên cứu lý luận có nội dung, hình thức rất phong phú. Tùy mục đích, phương pháp tiếp cận có thể chia nghiên cứu lý luận theo những lát cắt khác nhau. Phân chia theo chức năng nhiệm vụ, có thể chia thành: Nghiên cứu lý luận nhằm nhận thức đúng đắn, toàn diện sâu sắc đầy đủ hơn chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng; nghiên cứu lý luận nhằm phát triển kịp thời các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật, quan điểm, luận điểm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới của cách mạng nước ta; nghiên cứu lý luận nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả truyền bá, bảo vệ, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng,… Và cũng có thể hiểu nghiên cứu lý luận trên hai lĩnh vực: nghiên cứu lý luận để bảo vệ, phát triển lý luận của ta và nghiên cứu lý luận của các thế lực đối lập, thù địch.

Đấu tranh lý luận hay đấu tranh trên mặt trận lý luận thực sự là cuộc đọ sức quyết liệt. Ở đó nghiên cứu để nhận thức, phát triển lý luận của ta chính là việc tăng cường sức mạnh, nội lực, giúp thế và lực về lý luận của ta ngày càng mạnh lên, đủ sức đề kháng và miễn dịch được bất cứ sự tấn công, xâm nhập nào của các chủng “vi-rút” lý luận độc hại, làm cho vũ khí lý luận của chúng ta sắc bén hơn. Đây chính là điều kiện tiên quyết, cơ bản nhất quyết định thành công của cuộc đấu tranh lý luận, đồng thời là phương cách tốt nhất, chủ động nhất, tích cực nhất để chuẩn bị đấu tranh lý luận mà không phải tiến hành đấu tranh, ngược lại nếu lĩnh vực này hoạt động yếu kém, hoặc nghiên cứu lý luận không phát triển kịp với đòi hỏi của tình hình, thì kể cả những thứ lý luận thù địch già cỗi, lạc hậu nhất cũng có thể tấn công, phá hoại chúng ta.

Nghiên cứu lý luận và đấu tranh lý luận quan hệ chặt chẽ, tác động ràng buộc, quy định, chuyển hóa lẫn nhau

Nghiên cứu lý luận và đấu tranh lý luận tuy là hai lĩnh vực hoạt động có nội dung, hình thức, biện pháp và quy luật vận động không giống nhau, nhưng đều có chung mục đích là bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là mục tiêu, phương hướng quy định nội dung, hình thức phương pháp hoạt động của toàn bộ công tác nghiên cứu lý luận, đấu tranh lý luận nói chung, và mỗi cơ quan tổ chức, cá nhân hoạt động trên mặt trận lý luận nói riêng. Coi nhẹ, xa rời, phủ nhận mục tiêu này sẽ làm cho các hoạt động nghiên cứu lý luận, đấu tranh lý luận mất phương hướng, mất đi vũ khí sắc bén, chỗ dựa vững chắc.

Đấu tranh lý luận phải kết hợp chặt chẽ với nghiên cứu lý luận mới có cơ sở nền tảng vững chắc, nhưng kết quả đấu tranh lý luận không chỉ là động lực quan trọng thúc đẩy nghiên cứu lý luận, mà còn là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ nghiên cứu lý luận. Nghiên cứu lý luận có kết hợp chặt chẽ với đấu tranh lý luận mới nhìn thấy rõ hơn điểm mạnh, điểm yếu, mới bổ sung kịp thời những nội dung, hình thức, phương pháp nghiên cứu tiếp cận phù hợp, mới trực tiếp thể hiện được uy tín, sức mạnh trong cuộc đấu giai cấp, đấu tranh dân tộc, từ đó hoàn thiện hơn về mục tiêu, phương hướng, biên chế tổ chức và lực lượng nghiên cứu lý luận.

Những vấn đề đặt ra với công tác nghiên cứu lý luận trong cuộc đấu tranh lý luận hiện nay

Để bảo vệ và vận dụng thắng lợi chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì đấu tranh không khoan nhượng với đủ loại lý luận từ lý luận mang màu sắc tư sản của Quốc dân Đảng đến lý luận của Trốt-kít và lý luận các loại của chủ nghĩa cơ hội xét lại trong phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế du nhập vào Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng thế giới còn chứng minh, ở đâu, lúc nào không kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và đấu tranh lý luận, tuyệt đối hóa, hoặc coi nhẹ bất cứ hoạt động nào đều làm cho cách mạng gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia dân tộc do yêu cầu của của nhiệm vụ cách mạng, nội dung, hình thức, phương pháp nghiên cứu lý luận và đấu tranh lý luận không giống nhau, nhưng chúng luôn quan hệ chặt chẽ với nhau làm tiền đề, điều kiện cho nhau phát triển, đồng thời luôn tác động, quy định, ràng buộc, chuyển hóa lẫn nhau.

Hiện nay, công tác nghiên cứu để nhận thức và phát triển lý luận của ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít những khó khăn. Những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là minh chứng hùng hồn khẳng định tính đúng đắn sáng tạo của đường lối, quan điểm của Đảng, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nền tảng vững chắc cho công tác nghiên cứu bảo vệ phát triển lý luận của ta. Mặt khác, chưa bao giờ chúng ta có một hệ thống các cơ quan, viện nghiên cứu từ Trung ương đến cơ sở với một đội ngũ cán bộ cùng các cơ sở vật chất phương tiện bảo đảm cho công tác nghiên cứu, bảo vệ, phát triển lý luận của ta lớn như hiện nay. Song, cũng chưa bao giờ công tác bảo vệ, phát triển lý luận của ta lại gặp những khó khăn, thách thức lớn như hiện nay.

Khó khăn, thách thức lớn nhất bắt nguồn từ chính thực tiễn mới mẻ, phức tạp của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập, trong khi phong trào cách mạng cộng sản quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã. Công tác nghiên cứu lý luận phải tìm ra lời giải đúng đắn cho những mâu thuẫn, bất cập trong sự đan xen phức tạp giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa xu hướng tích cực, chủ động giữ vững, tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng thoái hóa biến chất đưa đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, đang nảy sinh hằng ngày, hằng giờ trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa tư tưởng của đất nước trong thời kỳ quá độ; chỉ ra đúng bản chất quy luật và những định hướng, phương cách thích hợp giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc với hợp tác quốc tế, giữa ổn định và phát triển… Tìm ra đúng, kịp thời những lời giải đó ở tầm bản chất, quy luật, mang tính hệ thống là vạch ra cơ sở lý luận khoa học để hiện thực hóa những nguyên lý, quy luật, đặc trưng bản chất cốt lõi về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho lý luận của ta lớn mạnh phát triển không ngừng, trở thành mệnh lệnh không lời buộc các lý luận gia tư sản phản động phải “câm miệng”.

Khó khăn, thách thức thứ hai đối với hoạt động nghiên cứu lý luận là sự thắng thế tạm thời của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng, cùng sự bùng nổ các phương tiện thông tin và các mạng xã hội. Hoạt động lý luận phải tìm ra bản chất, quy luật của những nội dung, hình thức tuyên truyền giáo dục mới có hiệu quả, thật sự hấp dẫn, lôi cuốn, về tính đúng đắn sáng tạo của đường lối quan điểm của Đảng, bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và về những sai lầm chủ quan duy tâm duy ý chí của không ít các đảng cộng sản trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng quy luật xã hội dẫn đến sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, việc giai cấp tư sản lợi dụng các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại điều chỉnh các quan hệ sở hữu, phân phối,… nhằm kéo dài sự tồn tại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dù nó đã lỗi thời lạc hậu.

Trong mối quan hệ với đấu tranh lý luận, nghiên cứu về lý luận của các thế lực đối lập, thù địch cần nhận rõ bản chất, nguồn gốc lý luận, nội dung, hình thức biểu hiện của các quan điểm, luận điểm lý luận đó; chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, các thủ đoạn lừa bịp, các mánh khóe ngụy biện, giả danh, từ đó khẳng định những sai lầm về lý luận, phản động về chính trị, là cơ sở trực tiếp giúp hoạt động đấu tranh lý luận đạt hiệu quả cao. Nghiên cứu lý luận cần giúp cho mục tiêu, nội dung, hình thức, lực lượng, phương pháp đấu tranh lý luận phù hợp; kịp thời đưa ra những đòn tiến công, phản công hiệu quả, đánh trúng, đánh đúng những nơi sơ hở, yếu kém, là bản chất của quan điểm lý luận đối lập, thù địch, buộc chúng phải chấp nhận thất bại trong trạng thái, tâm phục, khẩu phục; thậm chí còn có khả năng thức tỉnh lương tri khoa học. Làm không tốt các hoạt động nghiên cứu này, như trong tác chiến không làm tốt công tác nắm địch, chắc chắn đấu tranh không hiệu quả, hiệu suất đấu tranh thấp, đấu tranh không đúng, không trúng; thậm chí có thể còn làm bản chất cách mạng khoa học của các quan điểm lý luận của ta bị tổn thương. Do vậy, nghiên cứu về lý luận của các thế lực thù địch là một việc làm cấp thiết hiện nay.

 Tuy nhiên, để nghiên cứu về lý luận của các thế lực đối lập, thù địch đạt chất lượng hiệu quả như mong muốn cần có những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan nhất định. Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ các nhà khoa học, các nhà lý luận có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Ðảng, sử dụng thành thạo nhiều ngoại ngữ, còn cần một cơ chế chính sách về đào tạo bồi dưỡng, về tài chính,…

Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận và đấu tranh lý luận ở mọi cấp độ trong mọi khâu, mọi bước từ Trung ương đến cơ sở, từ xây dựng kế hoạch đến triển khai tổ chức thực hiện,… là phương hướng, con đường biện pháp đúng đắn để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lý luận ở nước ta hiện nay./.   


 

BÀN THÊM VỀ MỘT SỐ THỦ ĐOẠN “GIEO GIÓ”, “TẠO BÃO”

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Hiện nay, lợi dụng quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam cùng sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin, truyền thông, mạng xã hội, các thế lực phản động, thù địch, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam với những chủ trương mới, nội dung mới, biện pháp mới, lực lượng mới và các trang thiết bị, phương tiện, công cụ mới.

Một là, thay đổi nội dung và biện pháp chống phá mang tính chiến lược.

Nếu những năm trước đây, các thế lực thù địch thường sử dụng biện pháp cứng rắn và mang tính truyền thống, quen thuộc để chống phá Việt Nam thì gần đây chúng đã có sự điều chỉnh và thay đổi tương đối lớn về nội dung, biện pháp, lực lượng và phương tiện mang tính chiến lược, chuyển từ “cứng rắn” sang “mềm dẻo, linh hoạt”, vừa đẩy nhanh quá trình quan hệ, hợp tác song phương và đa phương, hợp tác chính phủ và thông qua các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo, mua chuộc, ép buộc, giàng buộc, chi phối vừa kết hợp với răn đe quân sự, gây sức ép từ bên ngoài để chống phá Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng như thúc đẩy “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang, đặc biệt là quân đội.

Hai là, lợi dụng công nghệ thông tin, báo chí, truyền thông, internet, mạng xã hội để chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa.

Xâm nhập, tác động, hướng lái thông tin, truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” rất tinh vi, thâm độc theo dạng “mưa dầm thầm lâu”, “hư hư, thực thực”; sử dụng mạng xã hội như Facebook, zalo, blog, web,… để chống phá ta, lôi kéo, mua chuộc, tập hợp lực lượng và cổ vũ các phần tử trong và ngoài nước cùng chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Ba là, thực hiện phương châm kết hợp giữa “ngoại giao thân thiện”, “chi phối đầu tư” và “hỗ trợ nhân đạo”.

Chúng đã và đang tìm cách đưa người Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau để xúc tiến việc tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối, lôi kéo, hỗ trợ các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gây mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc, các tôn giáo, các địa phương, các lực lượng, các tầng lớp nhân dân, tạo môi trường thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Bốn là, đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo và văn hóa.

Thực hiện mục tiêu này, chúng chủ trương thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, mở chiến dịch xuyên tạc, phủ nhận kết quả nền giáo dục - đào tạo Việt Nam. Mặt khác, chúng ra sức quảng bá, đề cao nền giáo dục phương Tây, coi đó là điểm đến của giới trẻ Việt Nam. Tăng cường truyền bá văn hóa phương Tây, văn hóa xấu độc vào Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ để thúc đẩy “tự chuyển hóa” về mục tiêu, lý tưởng, về quan niệm giá trị đạo đức dân tộc ta, đi theo các chuẩn mực và giá trị văn hóa phương Tây, thực hiện ý đồ “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam./.


 

NHẬN DIỆN MỘT SỐ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY


Các thế lực thù địch thường lợi dụng vấn đề “tôn giáo” cùng với các vấn đề về “dân tộc”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”,… để chống phá cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Trọng tâm là tuyên truyền, cổ súy tư tưởng ly khai, chống đối, ủng hộ tài chính, tài liệu, công cụ,... hỗ trợ cho các phần tử bất mãn, quá khích ở trong nước nhằm kích động biểu tình, gây bạo loạn cục bộ, tạo cớ để các tổ chức nước ngoài, các thế lực thù địch can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, kể cả can thiệp vũ trang. Do vậy, nghiên cứu kỹ và nhận thức đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của kẻ thù, nhất là lợi dụng vấn đề “tôn giáo” chống phá cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp thiết từ đó để các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, mỗi cá nhân có chủ trương, biện pháp xử lý và đối phó kịp thời, có hiệu quả.

Ngay từ khi Mỹ bắt đầu rút quân khỏi Sài Gòn, Polga - Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã nói đại ý rằng: Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì lực lượng đấu tranh với Cộng sản, chủ yếu là tôn giáo. Trong suốt nhiều năm sau ngày đất nước ta hoàn toàn được giải phóng, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức phức tạp. Gần đây, chúng lại ra sức tung tin xuyên tạc, bịa đặt về tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Đặc biệt, ngày 09/02/2017, Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ (USCIRF) Thomas Reese trong buổi “Phổ biến tài liệu tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam”, tiếp tục xuyên tạc và yêu cầu Mỹ và các tổ chức nhân quyền, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ,... có tiếng nói và hành động kiên quyết hơn để: “Việt Nam cần bị đưa lại vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt nếu không thực thi những cải cách về tự do tôn giáo đúng với tiêu chuẩn quốc tế”.

Các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay tiếp tục được “tôn giáo hoá”, “quần chúng hoá” và “quốc tế hoá”; đồng thời, chuyển hướng mạnh về hoạt động ở các tỉnh duyên hải miền Trung, các tỉnh Bắc Tây Nguyên, miền núi Trung du phía Bắc và Tây Bắc, nội dung trọng tâm của chúng là lôi kéo, tập hợp lực lượng từ thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên vào các hoạt động chính trị trái pháp luật, đặc biệt là tôn giáo. Do đó, công tác đấu tranh của các cơ quan, các lực lượng chức năng cũng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Cụ thể, chúng đang tập trung vào một số âm mưu, thủ đoạn chính như sau:

Một là, tiếp tục dương cao chiêu bài đấu tranh đòi “tự do tôn giáo”, “tự do báo chí”, “tự do lập hội” để phụ hoạ với các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch nước ngoài chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết dân tộc và sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, lợi dụng các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm như: ô nhiễm môi trường ở các tỉnh ven biển miền Trung năm 2018, 2019; chính sách giáo dục, tiêu cực trong thi trung học phổ thông năm 2018; thu phí BOT; Quốc hội khóa XIV thông qua Luật An ninh mạng và có hiệu lực từ năm 2019 để xuyên tạc, kích động biểu tình, bạo loạn, tuần hành; tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, tâm lý nghi ngờ, hoang mang dao động, nhất là gây nên sự bất mãn trong chức sắc, chức việc, quần chúng tín đồ và các tổ chức tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước cũng như các cấp chính quyền ở địa phương.

Hai là, đẩy mạnh các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, uy hiếp, lấn lướt, cản trở các hoạt động của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng công khai phản đối, từng bước “vô hiệu hoá” hoạt động của chính quyền cơ sở, nhất là hoạt động quản lý Nhà nước đối với tôn giáo. Khi bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý thì chúng kích động quần chúng tín đồ ra đối đầu với cán bộ, cơ quan công quyền, các lực lượng thực thi pháp luật ở cơ sở và sử dụng các trang mạng xã hội, phương tiện truyền thông xã hội, tờ rơi, đơn, thư tố cáo, khiếu nại,... để tán phát tài liệu, hình ảnh vu khống cơ quan chức năng, kêu gọi và tập hợp lực lượng, sự hỗ trợ, can thiệp của các tổ chức phản động, các thế lực thù địch từ bên ngoài.

 Ba là, tăng cường các hoạt động từ thiện, xã hội để phát triển lực lượng, bành trướng thế lực của giáo hội. Đồng thời, khống chế, nắm giữ quần chúng tín đồ và tách họ khỏi ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước, chính quyền cơ sở. Điển hình nhất là các hoạt động của một số linh mục và giáo dân ở các tỉnh miền Trung, nhất là Nghệ An và Hà Tĩnh trong thời gian qua.

Bốn là, kích động quần chúng tín đồ tiến hành tụ tập đông người, tuần hành, gây rối, bạo động chính trị, bạo động vũ trang nhằm chống đối chính quyền, ủng hộ những nhân vật đối lập trong các cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu, ủng hộ các đối tượng mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”, đang bị chính quyền bắt giam, xử lý theo quy định của pháp luật để quấy nhiễu, gây mất ổn định chính trị, trật tự xã hội trong nước, làm giảm uy tín chính trị và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, lợi dụng quan hệ tôn giáo để móc nối với các thế lực thù địch ở nước ngoài. Qua đó, tìm kiếm sự viện trợ về kinh tế, hậu thuẫn về tinh thần, thống nhất đường hướng và “quốc tế hoá” các hoạt động chống đối của chúng./.

 

 

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG “LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC” CHỐNG PHÁ VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


1. Vài nét cơ bản về vấn đề dân tộc

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Trong 54 dân tộc, có tới 53 dân tộc thiểu số, với tổng dân số gần 11 triệu người chiếm khoảng 13% dân số cả nước. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng và phong phú về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Các dân tộc ở Việt Nam được chia thành 08 nhóm ngôn ngữ, là:

- Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Kinh, Chút, Mường, Thổ.

- Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chạy, Tày, Thái.

- Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cờ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M’nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng.

- Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pa Thẻn.

- Nhóm Kadai có 4 dân tộc là: Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo.

- Nhóm Nam Đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai.

- Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán Dìu.

- Nhóm Tạng có 6 dân tộc: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La.

Các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Các dân tộc thiểu số ở vùng đồng bằng Nam bộ với địa hình đất đai khá màu mỡ, khí hậu, thời tiết ổn định, canh tác thuận lợi, đời sống kinh tế xã hội phát triển, ổn định hơn các vùng khác. Vùng Tây Bắc, Đông Bắc, miền Trung, với địa hình chia cắt, phức tạp, đất đai khô cằn, nhiều đồi dốc, núi đá, khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra thiên tai, canh tác rất khó khăn) đời sống các dân tộc thiểu số khó khăn hơn, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn, kinh tế chậm phát triển hơn. Về cơ bản, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn khó khăn, trình độ dân trí thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung, nhiều hủ tục, tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại.

Các dân tộc thiểu số có những sinh hoạt, di sản văn hoá đa dạng, bản sắc riêng, trong đó có những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rất độc đáo, mang tầm quốc gia, quốc tế. Đa số các dân tộc thiểu số đều có ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) riêng.

Về mặt tín ngưỡng: Các dân tộc thiểu số phần lớn có tín ngưỡng đa thần, thờ cúng tổ tiên và thần linh. Trong lịch sử, các tôn giáo không tồn tại và phát triển tại vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, ngoại trừ đạo Phật trong cộng đồng người Khmer, Hoa; đạo Hồi, Bà La Môn trong người Chăm. Từ khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ, đạo Công giáo được chính quyền thực dân bảo hộ và khuyến khích đã phát triển lên các vùng dân tộc thiểu số, ở các địa bàn trọng điểm, trung tâm của vùng nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cho bọn quan lại thực dân, đồng thời phát triển tín đồ trong đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa, điển hình như ở: Kon Tum, Đà Lạt, Trạm Tấu (Yên Bái), Sa Pa,... Từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái phép (Chủ yếu là đạo Tin lành) trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số với sự hậu thuẫn của các thế lực phản động và thù địch từ bên ngoài đã làm thay đổi mạnh mẽ đời sống tâm linh, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hiện nay đạo Tin Lành và một số tà đạo khác như: “Tin lành Đê ga”, “Đạo Vàng Chứ”, “Đạo Dương Văn Mình”, “Đạo Hà Mòn”... đã có mặt ở hầu hết các địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó tập trung ở Tây Nguyên, Tây Bắc. Sự xuất hiện và phát triển của tôn giáo trong đồng bào các dân tộc thiểu số đã gây ra những vân đề phức tạp về an ninh chính trị và TTATXH trên địa bàn sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời, cấu thành cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đại bộ phận các dân tộc thiểu số đều có nguồn gốc từ các cộng đồng bản địa, gắn bó với Tổ quốc Việt Nam, một số ít dân tộc thiểu số có nguồn gốc ngoại lai, xuất hiện ở Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau, như dân tộc Mông, Hoa, Ngái, Sán Rìu (có nguồn gốc từ Trung Quốc) và có lịch sử tồn tại, phát triển gắn liền với lãnh thổ Việt Nam và đã trở thành thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phần lớn các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ các bộ lạc, cộng đồng thiểu số không có chính quyền riêng mà được đặt dưới sự cai trị của nhà nước phong kiến Việt Nam, trừ 02 dân tộc là Chăm và Khơme, vốn thuộc các quốc gia phong kiến độc lập, trong tiến trình lịch sử đã trở thành cộng đồng thiểu số trong quốc gia Việt Nam.

2. Âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch

2.1. Chủ trương, ý đồ của các thế lực thù địch

Lợi dụng những đặc điểm của đồng bào các dân tộc thiểu số, phần lớn cư trú tại các địa bàn trọng điểm, có ý nghĩa chiến lược về an ninh, quốc phòng, đa số đồng bào thiểu số có đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp, lạc hậu song lại nhân hậu, cả tin. Từ những đặc điểm đó, từ khi chủ nghĩa thực dân và đế quốc đặt chân đến xâm lược nước ta, chúng đã triệt để lợi dụng đồng bào dân tộc thiểu số, sử dụng họ làm tay sai trong việc đánh phá các cơ sở cách mạng Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Pháp, thực dân Pháp đã sử dụng các lực lượng biệt kích Hoa - Nùng, các đơn vị lính người Thái, Tày phục vụ cho các hoạt động tác chiến ở địa bàn vùng núi phía Bắc. Sau khi miền Bắc được giải phóng, các cơ quan đặc biệt nước ngoài (đặc vụ Tưởng Giới Thạch và tình báo Pháp) đã móc nối, kích động một số đối tượng người dân tộc Mông ở Đồng Văn (Hà Giang) gây ra vụ bạo loạn Đồng Văn cuối năm 1959. Ngoài ra chúng còn đào tạo và tung về Việt Nam các toán phỉ hoạt động phá hoại ở địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc, gây ra những phức tạp về an ninh, trật tự, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Ở Tây nguyên, Mỹ và tay sai nuôi dưỡng lực lượng Fulro nhằm ngăn chặn tuyến đường Trường Sơn đi qua địa bàn Tây Nguyên...

Từ sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm cách lợi dụng đồng bào các dân tộc thiểu số để tiến hành các hoạt động chống phá ta mà điển hình là vụ án KC50 trong đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ (1984) và hoạt động của Fulro ở Tây Nguyên kéo dài từ 1975 cho đến 1992.

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam hiện nay, các dân tộc thiểu số vẫn là một trong những trọng tâm bị thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá ta, âm mưu của chúng là: nhằm gây mất ổn định chính trị tại các địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động thái độ chống đối trong đồng bào thiểu số; kích động tư tưởng ly khai và hậu thuẫn cho việc hình thành các quốc gia hoặc khu vực tự trị tại các địa bàn chiến lược của ta (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ).

2.2. Một số thủ đoạn và hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam của Mỹ và phương Tây

Một là, Mỹ tiếp tục hậu thuẫn, hỗ trợ cho việc thành lập các tổ chức phản động lưu vong, hội nhóm cực đoan trong các dân tộc thiểu số để chống phá Việt Nam

Lợi dụng đồng bào dân tộc thiểu số để chống phá Việt Nam là một trong những thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch hà hơi, tiếp sức, hậu thuẫn cho việc thành lập các tổ chức phản động lưu vong của người thiểu số. Mục đích là để thông qua các tổ chức này chỉ đạo và cung cấp tài chính, phương tiện cho các hoạt động chống phá ở trong nước.

Tại địa bàn Tây Bắc, qua công tác đấu tranh ta đã phát hiện hàng loạt tổ chức phản động lưu vong của người Mông đã móc nối, liên lạc, chỉ đạo và cung cấp tài trợ cho các đối tượng trong nước. Tại Mỹ, được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch với Việt Nam trong chính giới và một số cơ quan đặc biệt Mỹ, các tổ chức phản động lưu vong của người Mông đã được thành lập để tập hợp lực lượng từ nước ngoài, tiến hành các hoạt động tuyên truyền, móc nối vào trong nước như “Hội trí thức Mông”, “Hội người Mông thế giới”, “Hội cựu chiến binh Mông”, “Hội văn hóa nghệ thuật Mông”... Trong đó nổi lên là “Hội cựu chiến binh Mông” tập trung số đối tượng tay chân của Vàng Pao, chủ trương “đấu tranh bằng con đường bạo động vũ trang”. Đối lập với nó là “Hội trí thức Mông”, do Giàng Đao cầm đầu, có chủ trương “đấu tranh bằng con đường hòa bình”. Ngoài ra, còn một số tổ chức phi chính phủ ở Mỹ cũng tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai trong người Mông, mà nổi lên là “Trung tâm phân tích chính sách công” (CPPA) có trụ sở ở Oasinhtơn.

Tại các khu vực giáp biên giới với Việt Nam, các thế lực thù địch cũng hậu thuẫn cho việc hình thành các tổ chức phản động để trực tiếp chỉ đạo, tổ chức huấn luyện, cung cấp trang bị và xâm nhập tiến hành hoạt động chống phá ta. Điển hình là “Đảng chấp chính Lào” (sau này đổi tên thành “Đảng Cộng sản Mông”) ở Mianma hoặc “Bộ đội Mông” ở Lào. Đây là các tổ chức trực tiếp tác động, lôi kéo vào người Mông trong nội địa Việt Nam, vừa tuyên truyền kích động tư tưởng ly khai, vừa tuồn tài trợ, tài liệu vào trong nước và tổ chức huấn luyện ở ngoại biên. Trong đó, đáng chú ý là hoạt động của “Đảng Cộng sản Mông”: Tổ chức này được thành lập vào khoảng năm 2006 ở Đông Bắc Mianma, với chủ trương thành lập “Vương quốc Mông” ở khu vực giáp biên giới các nước Trung Quốc, Lào, Việt Nam và Mianma. Các cơ quan chức năng của ta đã phát hiện các hoạt động tuyên truyền, móc nối của tổ chức này vào địa bàn Tây Bắc Việt Nam.

Tại địa bàn Tây Nguyên, các hoạt động của số đối tượng lợi dụng dân tộc thiểu số thường xuyên nhận được chỉ đạo và tài trợ của đồng bọn đang sống lưu vong tại Mỹ mà nổi lên là các tổ chức được thành lập ở Bắc Carolina/Mỹ, đó là “Nhà nước Đê ga tự trị”, “Quỹ người Thượng”, “Hội người miền núi”... Trong các vụ bạo loạn, gây rối ở địa bàn Tây Nguyên các năm 2001, 2004, 2006 và ở Mường Nhé, Điện Biên năm 2011... đều có sự chỉ đạo của các tổ chức này. Hiện nay, các đối tượng lợi dụng đồng bào thiểu số trên địa bàn thường xuyên liên lạc, nhận chỉ đạo của các tổ chức phản động lưu vong thông qua điện thoại quốc tế và Intemet, các hoạt động của số đối tượng này đều được chỉ đạo thống nhất từ bên ngoài.

Đối với các đối tượng lợi dụng đồng bào Khmer có đôi chút khác biệt so với các đối tượng ở địa bàn Tây Bắc và Tây Nguyên, do đặc điểm dân tộc Khmer có quan hệ chặt chẽ với cộng đồng người Khmer ở nước ngoài mà chủ yếu là ở Cămpuchia, do đó để chỉ đạo và hậu thuẫn cho hoạt động của số đối tượng trong nước. Bên cạnh tổ chức phản động của người Khmer Việt Nam lưu vong là “Hiệp hội Khmer Krôm” (có trụ sở tại Mỹ và đã mở văn phòng đại diện tại CPC, nay đã đổi tên thành “Mặt trận Khmer Krôm thành lập Nhà nước Khmer tự trị tại Việt Nam”); “Hội nhân quyền Khmer Krôm”, do Chăndra đứng đầu, tập hợp các đối tượng bất mãn với chế độ ta ở Sóc Trăng, Trà Vinh chạy sang Cămpuchia sau năm 1979; “Hội các nhà sư Khmer Krôm”... và còn có hàng loạt các tổ chức của người Khmer ở nước ngoài, như: “Khmer Cămpuchia Krôm”, “Liên đoàn Khmer CPC Krôm” của Thạch Ngọc Thạch ở Mỹ, “Cộng đồng Khmer CPC Krôm” của Thạch Sê Tha ở CPC và “Liên đoàn Phật giáo Khmer CPC Krôm thế giới” của Liêu Phu ở Úc… Hầu hết các tổ chức này đều có cơ sở hoặc chi nhánh ở Cămpuchia, từ đó tiến hành các hoạt động móc nối vào trong nước để chỉ đạo hoạt động, chuyển tài liệu, tài chính vào trong nước và lôi kéo người Khmer ở các tỉnh Tây Nam bộ sang Cămpuchia để đào tạo, huấn luyện sau đó đưa về nước hoạt động.

Ngoài các tổ chức phản động trong người Mông, người thiểu số Tây Nguyên và người Khmer, các thế lực thù địch còn hậu thuẫn cho việc thành lập các tổ chức của một số dân tộc thiểu số khác nhằm lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá ta, điển hình là “Hội bảo tồn văn hóa Chăm”.

Ngoài các hoạt động chống phá ta từ bên ngoài, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc tiến hành các hoạt động ngay tại các địa bàn sinh sống của người thiểu số. Để thực hiện được việc này, chúng đẩy mạnh việc phát triển lực lượng trong người thiểu số, đồng thời xây dựng số “nòng cốt”, cầm đầu để cấu kết, thực hiện các chủ trương, chỉ đạo từ bên ngoài tiến hành các hoạt động chống phá trên địa bàn. Mặt khác tìm cách thành lập các tổ chức ở trong nước để thông qua đó trực tiếp chỉ đạo và tiến hành các hoạt động. Điển hình là “Hiệp hội thông công Tin lành các dân tộc Việt Nam”, thành lập năm 2007, do Nguyễn Công Chính cầm đầu, nhằm thực hiện các hoạt động lợi dụng dân tộc thiểu số để chống phá ta dưới vỏ bọc là các hoạt động tôn giáo. Ngoài tổ chức này, các hoạt động lợi dụng dân tộc thiểu số trên các địa bàn đều được thực hiện thông qua các đối tượng cầm đầu, cốt cán là các “thừa tác viên”. các “khung chính quyền ngầm”, các đối tượng đội lốt người tu hành...

Hai là, lợi dụng các vấn đề lịch sử; kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, ly khai, tiến hành các cuộc biểu tình, bạo loạn, đòi thành lập “Nhà nước” hoặc “khu tự trị riêng”, thông qua đó gây mất ổn định chính trị tại các địa bàn trọng điểm, nhằm tạo cớ can thiệp vào nội bộ ta.

Tại địa bàn Tây Bắc, lợi dụng tập quán du canh, du cư và tâm lý sùng bái vua chúa của đồng bào Mông, các thế lực thù địch thông qua hoạt động tôn giáo trái phép, tuyên truyền, kích động lôi kéo đồng bào Mông di cư về khu vực ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào để “xưng vua, đón vua” và thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông”. Khác với hoạt động di cư tự do một cách tự nhiên (do tập quán du canh du cư) trước năm 1986, hoạt động di cư tự do của người Mông từ năm 1986 trở lại đây gắn liền, hay nói cách khác là hệ quả của hoạt động truyền đạo trái phép, hoặc do sự kích động, lôi kéo của các đối tượng. Cũng vào thời điểm này, tư tưởng thành lập một nhà nước Mông tự trị lại tái xuất hiện, do các thế lực phản động lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số từ nước ngoài tìm cách tuyên truyền, tác động vào cộng đồng người Mông trong nước thông qua nhiều con đường, như: các đài phát thanh tiếng Mông (đài “Công lý Á châu - Veritas”, “Đài phát thanh viễn đông” - FEBC...), tuồn tài liệu, băng đĩa... vào trong nước. Khai thác những đặc điểm về lịch sử, tập quán, tín ngưỡng của người Mông, các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, đòi thành lập “Vương quốc” của người Mông ở vùng Tây Bắc Việt Nam giáp với Lào và Trung Quốc. Trong thời gian từ 1986 đến nay đã ghi nhận hàng loạt cuộc di cư tự do của người Mông từ các tỉnh bên trong nội địa ra khu vực này, góp phần làm tăng dân số người Mông tại hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu2 (trước đây vốn rất ít người sinh sống, dân cư thưa thớt). Các hoạt động trên đã diễn ra trong suốt một thời gian dài, từng bước một đã tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm của đồng bào cũng như gây ra những hậu quả về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội mà đỉnh điểm là vụ việc xảy ra tại Mường Nhé/Điện Biên cuối tháng 4, đầu tháng 5 năm 2011.

Hiện nay, tình hình an ninh chính trị và TTATXH ở các tỉnh Tây Bắc về cơ bản đã ổn định. Tuy nhiên, các đối tượng lợi dụng đồng bào dân tộc Mông vẫn tiếp tục lén lút tuyên truyền kích động, lôi kéo đồng bào di cư về khu vực ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào, đồng thời tổ chức huấn luyện vũ trang, mua sắm vũ khí nhằm thực hiện ý đồ thành lập “Vương quốc Mông”. Hoạt động của các đối tượng ở trong nước có sự liên kết chặt chẽ với số đối tượng ở bên ngoài, mà cụ thể là số đã trốn sang Lào, Trung Quốc, Mianma, từ đó nhận sự chỉ đạo và chi viện của các thế lực thù địch từ bên ngoài, đồng thời cấu kết với các nhóm phản động Lào hoạt động ở các địa bàn giáp biên giới với Việt Nam để tiến hành các hoạt động chống phá ta. Do đó, tình hình ở địa bàn Tây Bắc vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây ra mất ổn định về chính trị.

Tại Tây Nguyên, cũng với chiêu bài tương tự, các thế lực thù địch ở nước ngoài cấu kết và chỉ đạo cho số đối tượng lợi dụng dân tộc thiểu số trên địa bàn tuyên truyền cho cái gọi là “Nhà nước Đê ga tự trị”, thông qua các hoạt động tôn giáo trái phép tuyên truyền, kích động đồng bào thiểu số đấu tranh “đòi lại đất đai của tổ tiên”, đòi thành lập “Nhà nước Đê ga của người Thượng Ở Tây Nguyên”. Song song với các hoạt động tuyên truyền, kích động, các đối tượng này còn ráo riết phát triển lực lượng, hình thành các “khung chính quyền” ngầm tại các thôn bản nhằm phối hợp hoạt động, khống chế quần chúng, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở, khi có thời cơ kích động gây biểu tình, bạo loạn: Điển hình như các vụ bạo loạn, gây rối năm 2001, 2004.

Tại địa bàn các tỉnh miền Tây Nam Bộ, từ sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, bọn phản động lợi dụng dân tộc Khmer đã lập ra hàng chục phe nhóm, tổ chức nhằm lợi dụng đồng bào Khmer, tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam. Trong đó có tổ chức phát triển mạnh, hình thành hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cơ sở. Với mục tiêu bạo loạn cướp chính quyền, đấu tranh đòi độc lập, giành quyền tự trị cho người Khmer. Từ năm 1976  đến 1984 chúng đã tổ chức hàng chục vụ bạo loạn, lôi kéo hàng ngàn người Khmer tham gia, trong đó có không ít sư sãi và cán bộ là người Khmer tham gia, mà điển hình là vụ án KC50.

Sau khi Hiệp định Pari về CPC được ký kết (1991), lực lượng ƯNTAC do Mỹ thao túng triển khai lực lượng ở CPC. Bọn phản động lợi dụng người Khmer từ các nước đã quay về CPC hoạt động. Tại đây, chúng đã liên kết thành lập nhiều tổ chức phản động nhằm chống phá Việt Nam đòi “độc lập và quyền tự trị” cho người Khmer Nam Bộ. Trong đó không ít tổ chức, đối tượng cầm đầu là những tên đã từng tham gia tổ chức phản động Khmer Nam Bộ trốn sang CPC. Song song với các hoạt động tập hợp lực lượng phát triển tổ chức, chúng mở rộng các hoạt động tuyên truyền, tuồn các tài liệu về cái gọi là “Lịch sử Khmer Krôm”, “bản đồ nhà nước Khmer Krôm”, “quốc huy, quốc kỳ nhà nước Khmer Krôm” vào Việt Nam tuyên truyền lấy ngày 4/6 hàng năm là “ngày mất đất Khmer Krôm”. Đồng thời đưa người về các vùng đồng bào dân tộc Khmer để kích động, móc nối, mua chuộc, lôi kéo phát triển lực lượng ở trong nước. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch và các tổ chức Khmer cực đoan đang triệt để tận dụng các cơ hội để tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam, với mục tiêu cao nhất là công khai hoá, quốc tế hoá vấn đề Khmer Krôm ở Việt Nam để thành lập cho được cái gọi là “Nhà nước Khmer độc lập”.

Trong những năm vừa qua, các đối tượng phản động lợi dụng người Khmer đã tiến hành hàng trăm vụ tuyên truyền kích động chống đối trong đồng bào dân tộc, nhất là vào các thời điểm lễ, tết cổ truyền. Đặc biệt, chúng đã lợi dụng các hoạt động khiếu kiện của đồng bào dân tộc Khmer vì mục tiêu dân sinh, kinh tế đơn thuần thành các hoạt động mang màu sắc chính trị./.

 

VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ MỘT SỐ

TỔ CHỨC TRUYỀN THÔNG BBC, RFA, RFI

- Những cái tên như BBCRFARFI… dường như đã quá quen thuộc với nhiều người. Song không phải ai cũng tường tận về sự ra đời của những đài này và sứ mệnh của họ…Có thể sẽ khiến nhiều người giật mình và vỡ lẽ về sự thật.

Đài BBC (British Broadcasting Corporation) là thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. BBC được thành lập năm 1922 do một nhóm các công ty viễn thông cho tới các dịch vụ tin tức phát thanh truyền hình. Buổi phát thanh truyền tin tức đầu tiên vào 14 tháng 11 năm 1922. Công ty, với John Reith là tổng quản lý, trở thành BBC năm 1927 khi nó được thừa nhận sự hợp nhất. BBC bắt đầu truyền tin bằng hình năm 1932 và trở thành dịch vụ phổ biến năm 1936. Truyền tin bằng hình ảnh bị dừng lại từ 1-9-1939 tới 7-6-1946 do Thế chiến thứ hai.

Mặc dù nguồn tài chính của BBC dựa vào các nguồn thu từ truyền thông, quảng cáo, nhưng thực chất bên trong họ nhận được nhiều nguồn gián tiếp tài trợ của cơ quan ngoại giao và tình báo MI6 của Vương quốc Anh. Nên BBC đành phải “cắn răng” mà chấp nhận tuân thủ “cuộc chơi” này.

BBC là một tập đoàn truyền thông lớn, họ có nhiều chuyên trang tin tức và bằng nhiều thứ tiếng. BBC Tiếng Trung và BBC Tiếng Việt là hai trang bản ngữ lớn nhất của họ. Không hiểu hai quốc gia này có phải là một thị trường tiềm năng của BBC hay không mà họ cũng rất chịu chi cho hai trang này?

BBC vẫn luôn tự nhận mình là một cơ quan báo chí, truyền thông, và luôn thực hiện đúng tôn chỉ của truyền thông là đưa tin trung thực, khách quan?… Thế nhưng, trong tất cả bài viết của đội ngũ cộng tác viên thuộc nhà đài này, ở câu kết bài BBC đều đưa ra một luận điểm: “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả…”. Thật không hiểu cái cách mà người Anh định nghĩa về truyền thông là thế nào? Nếu họ đồng ý nguyên tắc số 1 của truyền thông là đưa tin trung thực và khách quan thì cớ sao lại đưa ra luận điểm trên. Liệu có phải là sự thoái thác trắng trợn trách nhiệm của ban biên tập tờ báo này đối với những thông tin mà họ đăng tải hay không? Chỉ một câu nói, tưởng như là khách quan, trung thực nhưng thực ra lại uẩn khúc một điều không hề trung thực, khách quan!



Dễ thấy, BBC Tiếng Việt đang cố tình che đậy hết tất cả những điều tốt đẹp, những điểm sáng kinh tế của Việt Nam, mà chỉ chăm chăm giật các tít bài “xoi mói” đời sống chính trị Việt Nam? Nếu là khách quan thì bên cạnh tin tức tiêu cực (nếu đúng) sao không có bất cứ một thông tin nào là tích cực về đời sống chính trị Việt Nam? Phải chăng nền chính trị Việt Nam chỉ có cái gọi là đấu tranh vì “dân chủ”, “tự do tôn giáo”, “bất đồng chính kiến”, “tham nhũng”…? Có lẽ người đài BBC nên học lại bài học đầu tiên về tư cách người làm báo! Tiếc thay, hiện có khá nhiều người Việt Nam vì tò mò bởi những tin tức “độc, hot” nên đã vội tin vào những thông tin từ phía nhà đài BBC.

Đài RFA (Á châu tự do-Radio Free Asia) được thành lập trong thời gian Chiến tranh lạnh (1950), dưới sự quản lý của CIA, với mục tiêu chính là tuyên truyền đường lối của Mỹ bằng tiếng địa phương đến các quốc gia Mỹ xem là kẻ thù, tức các nước xã hội chủ nghĩa thời đó. Năm 1971 CIA chuyển quyền điều hành đài RFA sang cơ quan có tên là Board of International Broadcasting (BIB) do tổng thống Mỹ bổ nhiệm và chỉ đạo. Đến năm 1994, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật truyền thông quốc tế, và RFA chính thức trở thành một công ty tư nhân. Tuy trên danh nghĩa là một công ty tư nhân, nhưng ngân sách của RFA lại được Quốc hội Mỹ tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay, RFA phát thanh 9 thứ tiếng qua làn sóng ngắn và internet đến các nước Trung Quốc, Tây Tạng, Miến Điện, Lào, Campuchia, Việt Nam, và CHDCND Triều Tiên.


Sứ mệnh của RFA: truyền bá những thông tin và ý tưởng nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu trong chính sách ngoại giao của Mỹ...

Sứ mệnh chính thức của BBG là “tiếp tục chương trình truyền thông quốc tế của Mỹ, thiết lập một dịch vụ truyền thông đến người Trung Quốc và các nước Á châu khác. Qua đó truyền bá những thông tin và ý tưởng nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu trong chính sách ngoại giao của Mỹ… Đối tượng chủ yếu mà RFA nhắm đến là Trung Quốc. Như vậy, tuy mang danh nghĩa là một công tuy tư nhân, nhưng RFA không dấu diếm rằng nó là một công cụ của chính quyền Mỹ, nhằm phục vụ lợi ích và mục tiêu của chính quyền Mỹ. Thật ra, có thể nói không ngoa rằng những người Việt làm việc và điều hành chương trình Việt ngữ của RFA là những người Mỹ con. Cũng không có gì quá đáng khi nói như thế vì họ là công dân Mỹ cho dù có mang dòng máu Việt Nam. Vì là Mỹ con nên chúng ta phải “thông cảm” là họ phải làm có lợi cho Mỹ, đất nước đang dung dưỡng và nuôi nấng họ.

So với các đài Việt ngữ ở nước ngoài do các nhóm người Việt ở Mỹ điều hành, đài RFA tỏ ra thông minh và “có nghề” hơn. Không như các đài Việt ngữ cực đoan chuyên hành nghề chửi bới và xuyên tạc tình hình Việt Nam một cách ngu xuẩn, đài RFA cố gắng tỏ ra có nghiệp vụ hơn: có phóng viên đến Việt Nam thu thập tin tức, phỏng vấn các quan chức trong chính phủ Việt Nam. Để tỏ ra mình là cơ quan ngôn luận nghiêm túc, RFA gọi các quan chức trong chính phủ Việt Nam bằng chức danh rõ ràng. Họ tránh tối đa sử dụng các ngôn từ cảm tính như “Cộng sản Việt Nam”. RFA cũng tránh cách nói xách mé hay xấc láo của các đài Việt ngữ khác hay dùng. Nói chung có lẽ vì do người Mỹ quản lý cho nên RFA thông minh, tinh vi, và tuyên truyền có bài bản.

Với lối làm truyền thông theo kiểu Chiến tranh lạnh, không ngạc nhiên khi phần lớn các chương trình phát thanh của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho Việt Nam. Những chiêu bài mà RFA đặc biệt quan tâm khai thác tối đa là tự do, dân chủ, và tôn giáo. Họ rất thích chơi bẩn Việt Nam bằng cách tung tấm hình Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng khi la hét trước tòa, nhưng lại ém nhẹm tấm hình những tù nhân trần truồng ở nhà tù Guantanamo bị chó berger dọa cắn, những bức hình mà tù nhân bị tra tấn dã man. Thậm chí, họ cũng không ngại dựng chuyện, biến từ chuyện không có thật thành những chuyện như thật. Họ không xấu hổ khi sẵn sàng nói sai sự thật. Khách quan của RFA là như thế đó?!.

3. Đài RFI (Radio France internationale) là một đài phát thanh trong hệ thống phát thanh của Nhà nước Pháp, phủ sóng phát thanh tại Paris và toàn thế giới. Với 45 triệu thính giả vào năm 2006, RFI là đài phát thanh quốc tế được đón nghe nhiều thứ 3 trên thế giới, sau BBC và Đài tiếng nói Hoa Kì (VOA), ngang với đài phát thanh Deutsche Welle của Đức.

Đài RFI được thành lập ngày 6-1-1975 theo một đạo luật ban hành vào tháng 8-1974 trên cơ sở các chương trình phát thanh hướng ra ngoài nước Pháp đang có sẵn, và thuộc Radio France. Theo một luật được bỏ phiếu vào ngày 30-9-1986 và được áp dụng vào ngày 1-1-1987, RFI tách khỏi Radio France và trở thành đài phát thanh độc lập, được tài trợ trực tiếp bởi Bộ ngoại giao Pháp. Mục tiêu lúc này không chỉ tập trung vào khối Francophonie mà mở rộng sang Châu Á, thế giới Ả Rập và Iran.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjE8XFG3QIFIbSLDhL9gNaiDJqyFmgvxn_iv_JVg43nJ4_4Qn0LqRehvKOjvFTrYflzfixo36_UIq2RbzfEp6aSw_MSXpSdX_jGPiuzg5FYine1gqY9nxWyqQczn3UBL3FU2S65I-V16Vqv/s640/rfi-vn-051013.png

Nói đến RFI là chúng ta nghĩ ngay đến sự thù hận đối với một số nước, trong đó có Việt Nam, đài này tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa.

Đài RFI phát sóng chương trình tiếng Việt từ tháng 6-1990. Ban Việt ngữ được chính thức thành lập vào ngày 9-7-1990. Từ tháng 6-2008 trang web tiếng Việt đã được phát triển, mang nhiều thông tin so với trước đó chỉ là thông tin vắn tắt về lịch phát và nghe trực tuyến hoặc tải chương trình phát thanh. Hiện tại RFI phát thanh bằng tiếng Việt 2 giờ mỗi ngày, với chương trình 1 giờ và phát lại 1 giờ.

Nói đến RFI là chúng ta nghĩ ngay đến sự thù hận đối với một số nước, trong đó có Việt Nam, đài này tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa. Gần đây là bài viết xuyên tạc làm xấu đi quan hệ của ba nước Việt Nam–Lào–Campuchia. Đây là một loại đài phát thanh mà đội ngũ biên tập viên chỉ dựa vào chủ yếu những nguồn tin lá cải để biên tập tin tức. Thậm chí không cần biết nguồn gốc cũng như mức độ tin cậy chính xác của nguồn tin đến đâu. Nói cách khác RFI chẳng khác gì “cái loa phường đặt bịa tạc của Châu Á”. Nói theo kiểu “tự do thả phanh”thiếu đi tính chân thực. Bao nhiêu năm ra đời cũng là bao nhiêu năm đưa tin sai sự thật, có nhiều tin tức bị định hướng chính trị của tư bản cũng như bị bơm lên để lừa bịp… Trong đó có việc RFI thường xuyên đưa tin xuyên tạc về tình hình dân chủ nhân quyền tại Việt Nam và một số nước khác nhưng không ai làm gì được. Vì thế nên cần nhìn nhận lại tất cả các bản tin mà RFI phát đi trên thế giới.

Tóm lại, đứng sau đài BBC là cơ quan Ngoại Giao và cơ quan tình báo MI6 của Vương quốc Anh; Ngân sách của RFA được Quốc hội Mỹ tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG; và RFI được tài trợ trực tiếp bởi Bộ ngoại giao Pháp. Tuy nhiên, sứ mệnh chung của cả ba đài BBC, RFA, RFI, là gây xáo trộn xã hội để kích động quấy rối an ninh Việt Nam. Ngay cả những bản tin có vẻ như là “khách quan”, nhưng kỳ thực là được phát thanh cùng với những bản tin ngụy biện và xuyên tạc khác nhằm cho người nghe thấy Việt Nam đang rất lạc hậu và sự lạc hậu là do chế độ. Cái thông điệp mà các nhà đài này hướng đến vẫn là muốn thay đổi chế độ. Thay bằng ai? Bằng những “nhà dân chủ” kiểu Lê Chiêu Thống tân thời mà Mỹ, Pháp, Anh đang cố gắng hà hơi tiếp sức nuôi dưỡng.

Bài viết này muốn nhắc nhở đến những người nào còn lầm tưởng BBC, RFA, RFI đang đấu tranh cho quyền lợi của người Việt?. Rằng BBC, RFA, RFI là những tổ chức phục vụ cho quyền lợi của Anh, Mỹ, Pháp, và có một nhóm người Việt lưu vong làm việc tại đây góp sức làm suy yếu sự đoàn kết dân tộc của Việt Nam và gây bất ổn chính trị xã hội ở Việt Nam để người nước ngoài có cơ hội “thừa nước đục thả câu”. Những người ở trong nước đã và đang cộng tác với họ hoặc do bị lừa gạt hoặc tự nguyện cần ý thức được rằng BBC, RFA, RFI -vì sứ mệnh chính trị của họ-chưa bao giờ khách quan, chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó, cộng tác với họ cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những người chống lại quyền lợi của Việt Nam.                            

                         

                                                                                 

 


 

Một số giải pháp đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hiện nay

 

Xác định đúng vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa, những năm qua Đảng, Nhà nước ta luôn xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, mục tiêu và nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”1. Để đấu tranh có hiệu quả với sự “xâm lăng văn hóa” hiện nay, thiết nghĩ, cần có sự nghiên cứu tổng hợp, giải pháp đồng bộ; dưới đây xin nêu mấy vấn đề cơ bản:

Thứ nhấttiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Đây là giải pháp quan trọng nhất để giành thắng lợi trong “trận chiến văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng bảo đảm để văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, bảo đảm quyền tự do, dân chủ, phát huy khả năng sáng tạo ra những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, làm hạn chế sự sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa. Theo đó, các cấp, các ngành cần tập trung đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, bảo đảm phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Tăng cường xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa thật sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, đủ khả năng làm tham mưu cho các cấp có thẩm quyền thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về văn hóa. Đồng thời, khuyến khích đầu tư phát triển các loại hình hoạt động văn hóa lành mạnh, tốt đẹp và có chế tài nghiêm khắc với các đối tượng vi phạm quy chế hoạt động văn hóa, lợi dụng hoạt động văn hóa để chống phá Đảng và Nhà nước ta, tạo hành lang pháp lý ngăn cản sự thâm nhập của văn hóa xấu độc và hạn chế thấp nhất các kẽ hở, không để các thế lực thù địch lợi dụng.

Thứ haixây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Một trong những vấn đề nền tảng trong cuộc chiến chống “xâm lăng văn hóa” là chúng ta cần tạo ra sức đề kháng, đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh ở ngay mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị và mỗi gia đình. Đây cũng là phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhân tố quyết định, “chống” là quan trọng. Quán triệt tinh thần đó, các cấp, các ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị và các địa phương cần cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng, tiến hành đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn để hướng dẫn, động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia có hiệu quả vào xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên phạm vi cả nước. Trong đó, đặc biệt quan tâm xây dựng các trường học, trung tâm văn hóa giáo dục, xây dựng con người, nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh. Cần đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và “Môi trường văn hóa phong phú, tốt đẹp, lành mạnh” trong Quân đội gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho lòng yêu nước, các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc ngày càng nhân lên, chuyển hóa thành hành động cách mạng trong thực tiễn. Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội; đồng thời, phát huy tốt các thiết chế văn hóa ở cơ sở và các giá trị, nhân tố tích cực của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng trong xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng tâm hiệp lực của các tổ chức chính trị, xã hội và quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng con người về nhân cách, đạo đức, lối sống, hướng tới những giá trị cao đẹp, “chân, thiện, mỹ”, vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; nói không với những gì trái với đạo lý, truyền thống văn hiến của dân tộc.

Thứ batăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa giữ nước, nâng cao niềm tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm cho mọi công dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong thực hiện, các cấp, các ngành cần quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn”2. Trên cơ sở đó, cần phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân; trong đó, cơ quan chủ trì công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng ở các cấp là nòng cốt; các lĩnh vực báo chí, truyền thông, văn học, nghệ thuật,… là lực lượng tiên phong; mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và tổ chức trong xã hội là nền tảng, bảo đảm những giá trị văn hóa nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng được giáo dục, tuyên truyền ngay từ mỗi gia đình, dòng tộc, đến nhà trường và xã hội. Từ đó, làm cho tinh thần yêu nước, nhân nghĩa, thủy chung, gắn bó cộng đồng, ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, tinh thần anh dũng, sáng tạo,… luôn thấm sâu vào toàn bộ đời sống, hoạt động của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội, chuyển hóa thành hành động thực tiễn, chung sức, đồng lòng tạo bức tường vững chắc bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước mưu đồ “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Cùng với đó, cần gắn giáo dục tình yêu gia đình, quê hương, đất nước với chủ nghĩa xã hội; phát huy dân chủ, bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân; đề cao tinh thần dân tộc, giá trị văn hóa truyền thống của mỗi người Việt Nam. Đồng thời, tiếp thu giá trị văn hóa tiến bộ, làm phong phú bản sắc văn hóa và văn hóa giữ nước của dân tộc. Thông qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; biết phân tích, nhận rõ đúng, sai trước những sự kiện phức tạp, nhạy cảm, thông tin trái chiều,… kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nêu cao cảnh giác, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền, cổ súy cho những hành vi phản văn hóa, suy thoái về đạo đức, lối sống, trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, v.v.

Thứ tưchủ động hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để đặt ách đô hộ đối với Việt Nam, các thế lực xâm lược luôn tìm mọi cách để đồng hóa dân tộc ta, trước hết về văn hóa. Song, lịch sử cũng chứng minh rằng, không có một thế lực nào thực hiện được dã tâm đó, bởi nền văn hóa đặc sắc đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã trở thành cốt cách, nền tảng của dân tộc ta. Để văn hóa thực sự là công cụ bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa, chống lại sự “xâm lăng văn hóa” của kẻ thù, chúng ta phải quán triệt, thực hiện tốt quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Giải quyết hài hòa mối quan hệ, lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung và tôn trọng những giá trị văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc không trái với lợi ích quốc gia, dân tộc, tạo động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, chủ động phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh: giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái đặc thù và cái phổ biến,... trong hội nhập văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi phát huy nguồn cảm hứng của mọi cá nhân, cộng đồng trong sáng tạo những giá trị hiện thực của văn hóa dân tộc theo định hướng của Đảng. Đồng thời, kế thừa giá trị văn hóa truyền thống đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước; tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại, sáng tạo giá trị văn hóa mới, nhằm phát huy cao độ giá trị văn hóa dân tộc và ngăn chặn hiệu quả sự “xâm lăng văn hóa” phản tiến bộ len lỏi vào đời sống tinh thần nhân dân.

Trong một thế giới đầy biến động ngày nay, nhiều tổ chức, nhà đầu tư, du khách quốc tế tìm đến Việt Nam vì sự ổn định về chính trị và cũng vì một Việt Nam lôi cuốn, hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc, độc đáo đó. Song, các thế lực thù địch không muốn Việt Nam phát triển theo đường lối độc lập, tự chủ. Cái họ muốn là đất nước Việt Nam từ bỏ quá khứ, từ bỏ bản sắc của mình để “hòa nhập”, “phát triển” theo ý đồ của họ, mà thực chất là “hòa tan” vào văn hóa phương Tây. Điều đó lý giải vì sao chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam. Vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” không chỉ là một yêu cầu quan trọng, cấp bách trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa hiện nay mà còn góp phần thiết thực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực làm tha hóa con người Việt Nam. Đó chính là yếu tố bảo đảm cho Việt Nam trường tồn và phát triển.

                                                                                         

 

 

Cảnh giác với hoạt động tuyên truyền của tà đạo Pháp Luân Công

Ngoài việc tuyên truyền trên mạng xã hội, tổ chức Pháp Luân Công còn tổ chức ca nhạc miễn phí nhằm xóa bỏ văn hóa dân tộc, phát tờ rơi quảng cáo (núp bóng dưới dạng bài tập chữa bệnh), tặng quà miễn phí như dây đeo, bút (chứa thông điệp quảng cáo)…

Đây là một tổ chức phản động đội lốt khí công, dưỡng sinh, chuyên đi săn học viên tại các công viên, trường học… nhằm lôi kéo sinh viên, học sinh, người cao tuổi, người bệnh đến với tổ chức này.

Do nhận được nguồn kinh phí từ nước ngoài, nên hoạt động của tổ chức này không khác gì Việt Tân, cố tình gây ảnh hưởng để lôi kéo sự quan tâm của dư luận quốc tế hòng can thiệp vào nội bộ Việt Nam

Ban đầu quảng cáo với vẻ ngoài hướng thiện, cải thiện sức khỏe nhưng nội dung hoàn toàn chống lại xã hội như tiêu diệt tà linh Đảng Cộng sản, bài xích các tôn giáo khác, lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để gây rối an ninh quốc gia…

Khi thấy tà đạo này mọi người cần cảnh giác và báo ngay cho cơ quan công an gần nhất.