Thứ Ba, 8 tháng 8, 2023

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn trên địa bàn biên giới trong tình hình mới


Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn các tỉnh biên giới, trong đó bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt. Để thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của địch.

Trong các cuộc kháng chiến, miền núi, biên giới là những khu căn cứ địa vững chắc của cách mạng, cung cấp sức người, sức của, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Thế nhưng, ngày nay tại những vùng đất chiến lược này, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để tác động, chia rẽ, lôi kéo, kích động tư tưởng ly khai, tự trị... Chúng thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” thâm độc, gây bạo loạn để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, quân đội, công an với nhân dân, chia rẽ giữa đồng bào miền xuôi với miền ngược, giữa người Kinh với đồng bào dân tộc thiểu số. Lợi dụng địa hình và địa bàn cư trú phức tạp, chúng tiến hành truyền đạo trái pháp luật, tuyên truyền thành lập các tổ chức phản động. Lợi dụng đời sống khó khăn của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng biên giới, sự thoái hoá, biến chất, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, phủ nhận CNXH trên đất nước ta.

    Mục tiêu, ý đồ thâm độc của địch là chuyển hoá Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, xác lập vai trò thống trị của chúng ở Việt Nam. Phương thức tiến hành vẫn là tập trung thực hiện “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn chính trị, đồng thời răn đe về quân sự. Biện pháp chiến lược của chúng là: tổng hợp, toàn diện trên các lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, ngoại giao, quân sự, an ninh, gián điệp - tình báo..., nhưng then chốt là tăng cường chống phá về tư tưởng, văn hoá - xã hội, nền tảng tư tưởng, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, dựng ngọn cờ “dân chủ”, “tự do”, “nhân quyền”, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tiến hành thâm nhập chính trị, tư tưởng, văn hoá, đề cao các giá trị phương Tây, cổ vũ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực hiện nền kinh tế thị trường tự do TBCN, tạo điều kiện cho cải cách “dân chủ hoá”.

    Thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã diễn ra phổ biến trên các địa bàn dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, biên giới, nhất là các tỉnh Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Bắc Trung bộ và Tây Bắc... với những thủ đoạn tinh vi và hành động điên cuồng. Những vụ việc xảy ra hồi đầu năm 2001, tháng 10-2004 tại các tỉnh Tây Nguyên và đầu năm 2011 tại Mường Nhé, tỉnh Điện Biên... đã chứng minh điều đó. Lợi dụng sự mê tín dị đoan của một số người, bọn phản động bên ngoài cùng với bọn xấu tại địa phương đã ngầm cấu kết chặt chẽ với nhau để lừa bịp, mê hoặc quần chúng, hình thành các tổ chức phản động, từng bước phát triển lực lượng, tuyên truyền ảnh hưởng, kích động chia rẽ dòng họ, dòng tộc, khống chế và vô hiệu hoá cấp uỷ, chính quyền địa phương để khi có thời cơ, điều kiện thực hiện ý đồ chính trị của chúng.

    Một số thủ đoạn hoạt động chính của địch là: tung tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc; xây dựng nhân cốt, tạo dựng ngọn cờ; tuyển chọn người vào tổ chức phản động; chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết bằng các thủ đoạn lừa gạt, chiếm đoạt, kết hợp mê hoặc với cưỡng chế, kết hợp giữa thuyết phục với tung tin để răn đe; tuyên truyền kích động, lôi kéo từng gia đình, dòng họ; khi bị lộ, sẵn sàng chống lại chính quyền, đồng thời thủ tiêu, tàn sát, thanh trừng lẫn nhau để bịt đầu mối và trấn áp quần chúng. Những năm qua, ở một số nơi trên biên giới Tây Nam, Tây Bắc nước ta đã diễn ra các hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tranh chấp đất đai, lợi dụng những yếu kém, sơ hở của chính quyền địa phương, xuyên tạc sự thật, kích động, chia rẽ nhân dân, chống đối chính quyền, làm mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống hoà bình, làm ăn sinh sống của đồng bào.

    Đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn chính trị là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của các lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn các tỉnh biên giới, trong đó bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt. Để thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của địch, từ kinh nghiệm thực tiễn những năm qua, theo chúng tôi cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

    Trước hết, xây dựng và thống nhất giữa các lực lượng đứng chân trên địa bàn về phương án xử trí các tình huống khi có gây rối, bạo loạn. Đồng thời, thống nhất việc quản lý chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, chống xâm nhập biên giới trái phép. Tổ chức các hội nghị hiệp đồng giữa quân đội với công an và bộ đội biên phòng với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ đứng chân trên địa bàn, củng cố cơ sở chính trị ở địa phương tạo sự đoàn kết, thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau, phát huy sức mạnh tổng hợp cùng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự, quốc phòng - an ninh. Phát huy sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, phục vụ cho công cuộc đổi mới xây dựng đất nước trong tình hình mới.

    Hai là, các lực lượng đứng chân trên địa bàn cùng phối hợp nắm vững tình hình, thông báo cho nhau, cùng nhau nghiên cứu phương án xử lý các tình huống nảy sinh. Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan chức năng làm tham mưu, trong đó quân đội, công an làm nòng cốt, chỉ huy thống nhất các lực lượng thuộc quyền. Duy trì chặt chẽ các chế độ giao ban định kỳ hàng tuần, tháng và đột xuất, phân tích, đánh giá tình hình có liên quan đến an ninh, quốc phòng, do bí thư hoặc chủ tịch xã, phường chủ trì. Những sự kiện đột biến, quan trọng cần chủ động thông báo để cùng các lực lượng đứng chân trên địa bàn phối hợp hành động kịp thời. Các đơn vị bộ đội biên phòng và công an cần thông báo cho nhau những tin tức có liên quan đến an ninh biên giới và những tin tức nắm được có liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn,...

    Ba là, tuyên truyền vận động đồng bào thực hiện tốt đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, kiên trì thuyết phục, tuyệt đối không gò ép, mệnh lệnh. Gặp trường hợp đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo bị các thế lực chống đối khống chế, kích động, có thái độ và hành động quá khích, thậm chí chống đối, phải bình tĩnh, kịp thời có biện pháp tự vệ, nhưng vẫn phải kiên trì tuyên truyền, vận động, thuyết phục; manh động, tùy tiện sẽ mắc vào bẫy của các thế lực chống đối, có thể dẫn đến những hậu quả khó lường.

    Bốn là, bộ đội biên phòng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương chỉ đạo và có kế hoạch củng cố phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nhất là những địa bàn phức tạp. Hướng vào việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tuyên truyền làm cho đồng bào theo đạo hiểu và thực hiện đúng các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, không để phần tử xấu tuyên truyền xuyên tạc, lợi dụng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”. Đối với các xã, làng bản biên giới có đông tín đồ tôn giáo, đặc biệt là số xã, bản bị ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền lập “Vương quốc Mông,...”, cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền có kế hoạch củng cố toàn diện về mọi mặt, đồng thời tiếp tục tăng cường lực lượng xuống địa bàn nằm vùng, bảo đảm quản lý được địa bàn, đối tượng, làm chỗ dựa cho cấp ủy, chính quyền cơ sở. Ở những nơi có hoạt động tôn giáo trái pháp luật (đưa người nơi khác đến truyền đạo, xây dựng nhà thờ, nhà nguyện... không theo các quy định hiện hành), cần phải kiên trì cảm hóa giáo dục, răn đe. Nếu thái độ ngoan cố, tiếp tục có hoạt động vi phạm, cần đưa ra kiểm điểm trước quần chúng và thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ pháp lý để xử lý công khai trước pháp luật khi có yêu cầu.

    Năm là, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số.Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng;thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh của Đảng, Chính phủ như: Chương trình 135, Chương trình xoá đói, giảm nghèo, Chương trình quân, dân y kết hợp,... Tập trung huy động nguồn nhân lực, vật lực cho đầu tư phát triển kinh tế các tỉnh biên giới, nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc; ưu tiên đầu tư cho chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở những vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; huy động mọi nguồn lực xã hội cùng Nhà nước, và chính quyền các địa phương chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giải quyết những khó khăn, bức xúc của đồng bào. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng biên giới với những chương trình cụ thể như: tập trung giải quyết đất sản xuất cho nhân dân, giúp thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao thu nhập; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hỗ trợ nhà ở, phát triển y tế, giáo dục; có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, tạo nguồn nhân lực trí thức, để phát triển lâu dài; xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở mạnh, thật sự có phẩm chất, năng lực, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc. Đồng thời phải củng cố, xây dựng lực lượng bộ đội biên phòng, dân quân, tự vệ, an ninh nhân dân ở các bản, làng vững mạnh, làm nòng cốt giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

    Để làm tốt các biện pháp trên, cơ quan quân sự địa phương, mà thường xuyên và trực tiếp là cấp huyện trên tuyến biên giới phải thực sự làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền xây dựng kế hoạch, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở thực sự vững mạnh toàn diện. Cần thường xuyên quán triệt những quan điểm tư tưởng chỉ đạo, yêu cầu, đặc điểm nhiệm vụ của địa phương để chủ động, nhạy bén nắm chắc tình hình. Xây dựng tổ chức đảng, chính quyền địa phương vững mạnh, củng cố và xây dựng các tổ chức quần chúng, như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh... đồng thời tranh thủ các già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, làm nòng cốt xây dựng “thế trận lòng dân” đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, việc gì có lợi cho dân thì kiên quyết làm, việc gì có ảnh hưởng đến dân phải gợi mở để nhân dân tự bàn cách tháo gỡ, không được áp đặt, buộc dân phải chấp nhận, dễ dẫn đến sự bất bình của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tạo kẽ hở cho kẻ địch lợi dụng. Phải luôn chú trọng giải quyết những vướng mắc giữa nhân dân với cơ quan Đảng, Nhà nước. Tiếp nhận những đơn, thư khiếu tố và ghi nhận những nguyện vọng chính đáng của quần chúng, đề nghị lên cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời. Chú trọng phát hiện những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, dựa vào các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong quần chúng, làm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, giải quyết có lý, có tình, đúng pháp luật, không để địch lợi dụng, kích động, biến mâu thuẫn nội bộ thành mâu thuẫn đối kháng. Đồng thời, cần tiếp tục nâng cao dân trí, phát triển giáo dục, y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Đây vừa là một yêu cầu bức thiết của việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa là việc làm thiết thực để đấu tranh phòng chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Thầy giáo Biên phòng và hành trình giữ chữ nơi biên cương

Họ là những những người lính biên phòng, có nhiệm vụ gìn giữ biên cương tổ quốc, nhưng họ cũng làm nhiệm vụ dạy học, xóa mù chữ cho trẻ em người dân tộc thiểu số nơi đóng quân.

Những người thầy "áo xanh" giúp trẻ không quên chữ

Lớp học ở thôn Thò Me, xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, Lai Châu, khá đặc biệt. Lớp gồm 9 học sinh người La Hủ, và 2 thầy giáo là cán bộ, sĩ quan đồn Biên phòng Pa Vệ Sử đang vang tiếng ê a học bài. Khi xong buổi học, trung tá Lò Thế Văn, công tác tại đồn Biên phòng Pa Vệ Sử, chia sẻ với chúng tôi: "Mặc dù vào thời gian nghỉ hè nhưng chúng tôi vẫn phải duy trì một số buổi học, để cho các con không quên chữ. Mấy cháu nhỏ này mải chơi trong thời gian hè là dễ quên chữ lắm".

Công cuộc dạy chữ xóa mù đối với trung tá Lò Thế Văn đã diễn ra từ nhiều năm nay, từ khi về công tác tại đồn Biên phòng Pa Vệ Sử, anh lại tiếp tục hành trình dạy học ở khắp các thôn trong xã này.

Ban đầu đi dạy học thì tôi còn bỡ ngỡ, vì mình không có nghiệp vụ sư phạm chuyên nghiệp. Nên cứ phải vừa dạy vừa mày mò nghiên cứu giáo trình, để dạy làm sao cho các con dễ hiểu, dễ nhớ nhất. Sau này tôi mới được đi tập huấn, rồi làm lâu cũng thành quen. Hiện nay dạy cùng tôi còn có đại úy Vũ Quốc Đạt nữa, nên cứ hỗ trợ nhau, vừa đi vận động, vừa dạy, ông Văn cho biết thêm. 

Đại úy Vũ Quốc Đạt kể từ khi về công tác ở đồn Pa Vệ Sử, đến nay cũng gần mười năm. Suốt thời gian đó, anh luôn đồng hành cùng trung tá Văn dạy học. 

Chia sẻ với phóng viên, anh Đạt nói: "Mới đầu được phân công đi dạy xóa mù, tôi áp lực lắm. Vì từ xưa đến lúc đi công tác, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc có ngày mình lại đi dạy học như thế này. Nhưng mình vừa làm vừa tự sửa cách dạy, dần dần rồi cũng quen. Cái khó ở đây là nhiều thôn ở địa bàn khó khăn, có lúc phải đi bộ lên, chứ xe không thể lên tới nơi vì đường xấu quá. Lớp học thì không cố định, có khi là hơn mười em một lớp, có khi chỉ vài ba em". 

Thầy đi tìm trò…

Điều đặc biệt ở lớp học của những thầy giáo bộ đội Biên phòng, là thầy luôn phải đi tìm trò, mời trò đến lớp học. Nếu như ở các lớp học của nhà trường, thì học sinh thường đầy đủ. Nhưng ở lớp của các thầy bộ đội Biên phòng, thì thầy thường phải chủ động đi đến các hộ gia đình vận động học trò tham gia học để biết đọc, biết viết, xóa đi nạn mù chữ hoặc tái mù chữ ở cộng đồng làng bản. 

Ông Vàng Chừ Xá, cán bộ công tác mặt trận thôn Thò Ma, chia sẻ: "Mỗi khi thấy các thầy giáo biên phòng đi đến thôn bản, người dân lại bảo với nhau là thầy giáo đi tìm học trò. Họ đến từng nhà thăm hỏi tình hình học hành, biết chữ hay chưa biết, rồi vận động ra học lớp của các thầy. Ở thôn thì cán bộ cũng phối hợp với thầy giáo mở lớp để dạy thôi. Ở đây người dân rất nghe lời các thầy giáo biên phòng khi họ vận động đi học xóa mù chữ".

Chị Vàng Khừ Lớ, thôn Thò Ma, cho hay: Bộ đội đi dạy học rất nhiệt tình, người dân thấy họ đến thì cũng rất vui thôi. Họ dạy cho biết đọc biết viết, là tốt cho dân. Bản thân tôi cũng từng tham gia học lớp của thầy giáo Văn nhiều lần rồi. Bây giờ nghỉ hè, nhiều cháu bé mải chơi quên cả chữ, nên các bố mẹ thấy thầy giáo Văn, thầy giáo Đạt đi tìm học sinh là cho các cháu đi học luôn. Sách bút cũng được các thầy cấp cho mà".

Đại úy Vũ Quốc Đạt chia sẻ: "Để mở một lớp thì chúng tôi phải đi xuống thôn khảo sát xem có bao nhiêu trường hợp cần phải đến lớp, sau đó đến từng nhà để vận động họ đến lớp. Trước kia người dân cũng không mặn mà cho lắm, nhưng đến nay nhận thức của họ tốt hơn, họ sẵn sàng tham gia hoặc nói con cái tham gia rất nhiệt tình. Điều quan trọng là mình thu xếp lớp học vào những khoảng thời gian hợp lý với công việc lao động sản xuất của họ, tránh vào lúc họ quá bận rộn".

Gập ghềnh con chữ nẻo biên cương

Lớp học của các thầy giáo biên phòng thường không cố định, này ở bản này, mai lại ở bản kia. Cứ thế, các thầy thường phải di chuyển để mở lớp ở khắp các bản. Có những cung đường thuận lợi thì không sao, nhưng có những đoạn đường khó đi, các thầy giáo áo xanh chẳng cách nào khác là cuốc bộ, trèo đèo, lội suối tới vã mồ hôi. 

Trung tá Trần Đình Thọ, Chính trị viên Đồn Pa Vệ Sử, cho hay: "Cán bộ chiến sĩ chúng tôi ngoài nhiệm vụ canh giữ bảo vệ biên cương tổ quốc, thì còn làm những nhiệm vụ khác để hỗ trợ người dân địa phương. Dạy học xóa mù là một trong những nhiệm vụ đó. Nên anh em được giao phó nhiệm vụ như anh Văn, anh Đạt đều rất tận tình thực hiện. Dù ở vùng biên giới thì cũng còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đường sá đi lại tổ chức mở lớp dạy học rất gập ghềnh gian khổ, có lúc phải đi bộ leo dốc bất kể ngày nắng hay ngày mưa. Nhưng anh em vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ".

Mới đây, trung tá Lò Thế Văn và đại úy Vũ Quốc Đạt được cử về thành phố Hải Phòng tham dự lớp tập huấn xóa mù chữ ở vùng người dân tộc thiểu số, do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức. 

Trung tá Văn chia sẻ: "Đi tham dự lớp tập huấn như thế, anh em cũng rất phấn khởi, vì mình được trang bị thêm kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm, đặc biệt là việc cập nhật thông tin phương pháp mới, như thế mình mới có thể làm tốt hơn nữa".

Phát huy vai trò của bộ đội biên phòng trong công tác dân vận

     

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân". Thực tế cho thấy, nâng cao uy tín và hoàn thiện các khả năng tuyên truyền, thuyết phục là yêu cầu để mỗi cán bộ, chiến sĩ Biên phòng làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng một cách có hiệu quả thiết thực. Uy tín cao, đây là phẩm chất hàng đầu của cán bộ, chiến sĩ BĐBP làm CTDV. Bởi, để được quần chúng hiểu, tin tưởng và làm theo thì người làm CTDV phải có uy tín. Muốn có được phẩm chất này đòi hỏi người cán bộ làm CTDV phải rèn luyện, "nói đi đôi với làm", đặt lợi ích nhân dân cao hơn lợi ích cá nhân.

Ngày nay, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm CTDV giỏi, nòng cốt là cán bộ, đảng viên. Nếu họ không có đủ uy tín thì không thể vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bởi vậy, cấp ủy Đảng các cấp trong BĐBP cần nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn của từng địa phương, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới, tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Kiên quyết không bố trí những người không đủ năng lực, trình độ và không có uy tín làm CTDV trên những địa bàn trọng điểm. Uy tín của người làm CTDV, nhất là cán bộ, chiến sĩ BĐBP lại càng quan trọng, họ phải thực sự "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân" thì mới tiến hành thuyết phục, giáo dục, vận động nhân dân... có hiệu quả.

Trong quá trình tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất thiết mỗi cán bộ, chiến sĩ phải sử dụng những luận cứ, luận chứng khoa học bằng những dữ liệu, sự kiện, tài liệu, thực tế và nghiệp vụ công tác biên phòng để minh chứng cho vấn đề muốn truyền đạt là đúng đắn, có cơ sở. Bên cạnh đó, phải bằng những lập luận khoa học để bác bỏ những nhận thức, quan điểm, hành vi sai trái hình thành và củng cố những nhận thức, quan điểm, niềm tin đúng trong nhân dân. Ở kỹ năng này, cần thuyết phục bằng cả lời nói và việc làm, phải thống nhất trong nhận thức và hành động.

Thực tế, khi tiến hành công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhất thiết phải đi sâu vào đời sống của nhân dân, phải hiểu được ngôn ngữ, phong tục, tập quán của từng địa phương, từng dân tộc mới có thể thuyết phục hiệu quả. "Khéo" tuyên truyền là một trong những kỹ năng quan trọng của người cán bộ dân vận. Đảng ta yêu cầu: Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm CTDV phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân. Giải quyết kịp thời có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, khiếu tố của công dân.

Sinh thời, Bác Hồ dạy: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm". Bác đòi hỏi mỗi cán bộ phải thực sự hiểu dân: "Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền. Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội". Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để đạt hiệu quả tuyên truyền, cán bộ dân vận cần nắm vững đối tượng và phân loại đối tượng, phải nâng cao khả năng dùng ngôn ngữ phù hợp với địa phương, vùng miền, dân tộc; hiểu được ít nhiều ngôn ngữ địa phương mới có thể vận động quần chúng có hiệu quả.

Người chỉ rõ: "Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu" và "bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn". “Do đó, mỗi cán bộ làm công tác dân vận phải không ngừng nâng cao kỹ năng tuyên truyền, mà cụ thể là phải nói được và làm được".

Dân vận "khéo" việc gì cũng xong, như vậy, làm CTDV phải vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Mỗi cán bộ, chiến sĩ BĐBP làm CTDV phải thực sự có phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", cần thiết nhất là uy tín để thu hút quần chúng, đồng thời phải không ngừng hoàn thiện các kỹ năng, phải giỏi thuyết phục, khéo léo khi tuyên truyền, biết vận dụng trong từng hoàn cảnh khác nhau, đối tượng khác nhau, từng địa phương khác nhau. Quá trình này phải được bồi dưỡng, rèn luyện và được trưởng thành trong hoạt động thực tiễn tuyên truyền, vận động quần chúng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức là cái gốc dẫn đến tham nhũng.

     Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…

Ngày 10/9, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị cho ý kiến về đề án “Sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng”.

Sau khi nghe đại diện lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương, cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trình bày nội dung Tờ trình của Đề án, Bộ Chính trị đã thảo luận và thống nhất cao về những nội dung trong Đề án.

Kết luận cuộc họp, nhấn mạnh về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những biểu hiện tiêu cực.

Tham nhũng nói riêng và tiêu cực nói chung đều làm mất đi sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Công tác phòng, chống tham nhũng phải gắn liền, đồng bộ với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hai lĩnh vực này có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tham nhũng, đây là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mặc dù đã được lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, có chuyển biến rõ nét, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp.

Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân cơ bản là do công tác phòng, chống tiêu cực tuy đã được quan tâm chỉ đạo nhưng còn phân tán, thiếu tính tập trung; chưa gắn kết chặt chẽ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Việc sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo để chỉ đạo phòng, chống cả tham nhũng và tiêu cực là hết sức cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Về tên gọi của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Bộ Chính trị thống nhất với tên gọi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (có bổ sung từ “tiêu cực”) để bao quát được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

Về đối tượng chỉ đạo phòng, chống tiêu cực, Bộ Chính trị xác định là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị, để bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm trong chỉ đạo phòng, chống tiêu cực.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc và hành vi tiêu cực khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ (gọi chung là vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm).

Việc Bộ Chính trị quyết định sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi và sự tin tưởng của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Bộ Chính trị giao Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng tiếp thu ý kiến để hoàn thiện, trình Tổng Bí thư ký ban hành Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thay thế Quy định số 211-QĐ/TW, ngày 25/12/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII).

CẦN XEM LẠI CÁCH NHÌN, QUAN NIỆM VỀ TỰ DO TÔN GIÁO

 

Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo.

Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc.

Tính đến tháng 4/2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 4 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31/12/2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch COVID-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương... nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân. 

Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

HAIVAN

NHỮNG ĐÒI HỎI VÔ LÝ, QUÁ TRỚN TRONG “BỘ CÁNH TỰ DO TÔN GIÁO”

 

Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

HAIVAN

Cảnh giác, đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai

 

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.

Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.

Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản.

Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản.

Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.

Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).

Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.

Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình.

Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

HAIVAN

KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI NÀO “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ” HAY “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”

 

Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn.

Từ góc độ lý luận, trước hết, cần bắt đầu từ luận điểm “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, mà quân đội xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh (tiến công hoặc phòng ngự). Đây là luận điểm được Clau-dơ-vit (1780-1831) - nhà lý luận quân sự tư sản nổi tiếng của nước Phổ đã khái quát. Luận điểm này được thừa nhận rộng rãi trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn khoa học quân sự vô sản, nên không thể bác bỏ. Chính V.I.Lênin cũng đánh giá cao luận điểm này. Một khi đã thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, thì tất yếu phải thừa nhận: không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hoặc “không dính đến chính trị”, bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu chính trị, phản ảnh lập trường chính trị của các bên tham chiến; và quân đội của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục để thực hiện mục tiêu chính trị đó của cuộc chiến tranh.

Thứ hai, quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó; bởi quân đội là một thành phần của nhà nước, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực. 

Lịch sử xuất hiện quân đội gắn liền với sự ra đời của nhà nước; mà nhà nước là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ nhà nước nào cũng có tính chất giai cấp. Ngày nay, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản, với chế độ đa đảng, mặc dù có hiện tượng các đảng phái thay nhau cầm quyền, nhưng thực chất họ vẫn duy trì sự nhất nguyên về chính trị. Đó là thứ chính trị của giai cấp tư sản, bởi đảng chính trị nào cầm quyền cũng chỉ là sự đại diện cho các nhóm và tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản; nên chính phủ do các đảng chính trị cầm quyền chi phối vẫn đều phục tùng quyền lợi và bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản là chủ yếu, mặc dù vẫn phải thực thi chức năng công quyền - một trong hai chức năng cơ bản (chức năng giai cấp và chức năng công quyền) của bất cứ nhà nước nào. Theo đó, với tư cách là các cơ quan chức năng của nhà nước, quân đội được lập ra để bảo vệ thể chế chính trị của giai cấp cầm quyền, không thể không mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức, quản lý và nuôi dưỡng nó. Những người cổ súy cho quan điểm “quân đội phải trung lập về chính trị” đã không hiểu, hay cố tình không hiểu rằng: nói đến “chính trị” của một tổ chức, một lực lượng, là nói đến tính giai cấp mà tổ chức, lực lượng đó quán triệt và thực hiện trong thực tiễn xây dựng về mặt tư tưởng, tổ chức và thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. 

Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ xã hội nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách. Do vậy, ngay từ khi xuất hiện, quân đội đã “thấm đẫm” thứ chính trị của nhà nước và giai cấp nắm giữ quyền lực trong xã hội; không có và không thể có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hay “đứng ngoài chính trị” như giai cấp tư sản thường tuyên truyền, nhằm che giấu bản chất giai cấp của quân đội các nước tư bản. 

Phê phán sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội tư sản. V.I.Lênin đã thẳng thừng vạch rõ: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”. Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông” và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”.

Từ góc độ thực tiễn của thế giới cũng cho thấy, từ trước đến nay không có quân đội của quốc gia nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”; bởi đây là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ thể chế chính trị của lực lượng chính trị thắng thế cầm quyền duy trì. Không khó để nhận thấy sự tham chính của quân đội nhiều nước, khi người ta vẫn chứng kiến các vụ đảo chính quân sự ở nước này, nước khác, nhất là ở châu Á, châu Phi trong những năm gần đây. Ở các nước Mỹ, Anh, Pháp... quân đội không chỉ được dùng vào nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, mà còn được dùng vào các hoạt động xâm lược, lật đổ, can thiệp quân sự vào các quốc gia có chủ quyền khác, nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở đây các chính phủ thân phương Tây; thực chất là để phục vụ đường lối đối nội và đối ngoại của các đảng chính trị cầm quyền, mà suy cho cùng là phục vụ lợi ích của các thế lực tư bản độc quyền đứng đằng sau các chính phủ đương nhiệm. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh, như: ở vùng Vịnh Pec-xích năm 1991, Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003, Li Bi năm 2011, v.v. 

Nhìn vào thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại ách nô dịch của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ cũng thấy rất rõ quân đội các nước này không bao giờ “trung lập về chính trị”, nhất là khi các quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh” đến Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn khu vực Đông Nam Á” (!).

Cũng cần thấy rằng, ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, bất cứ đảng chính trị nào khi cầm quyền cũng tìm mọi cách để nắm quân đội; bởi khi nắm được quân đội, thì việc duy trì quyền lực của đảng đó sẽ thuận lợi hơn. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thì thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội trung lập về chính trị”, nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội. 

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam cũng chứng minh: Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 

78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ một thực tiễn lịch sử: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “quân đội phải trung lập về chính trị”, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chăm lo xây dựng Quân đội vững về chính trị. Người căn dặn: “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch” và “Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện Chính trị) ngày 25/10/1951, Người nhắc nhở các học viên: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng.

Nhờ chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, mà trước hết là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương (năm 1964) của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là sự nỗ lực của bản thân cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta.

HAIVAN