Từ năm 2015 tới nay, tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã đẩy mạnh khuếch trương phạm vi ảnh hưởng, tích cực kết nạp thành viên và thực hiện hàng loạt hoạt động ở trong nước. Các thành viên của tổ chức này ở Lâm Đồng đã bị lực lượng Công an đấu tranh, bóc gỡ, nhiều đối tượng cốt cán bị khởi tố và xét xử.
Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023
ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CỦA TỔ CHỨC "CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI" TẠI LÂM ĐỒNG: NHỮNG ẢO VỌNG NGÔNG CUỒNG
CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được hình thành, vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, giữ nước với nhiều giá trị đặc sắc. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển văn hóa, trong đó có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
NHỮNG TRẬN ĐÁNH, TRẬN THẮNG NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, quân dân ta đã làm nên nhiều chiến công hiển hách. Mỗi chiến công đã để lại một mốc son chói lọi và làm rạng rỡ nền văn hóa quân sự độc đáo Việt Nam. Xin giới thiệu các trận thắng tiêu biểu nhất từ thế kỷ X đến thế kỷ XX
TRẬN BẠCH ĐẰNG GIANG - 938
Đức vương Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng Giêng năm Mậu Tuất (tức ngày 6 tháng 2 năm 898), tại làng Mông Phụ, Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội ngày nay. Sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực, cha là Ngô Mân làm chức châu mục Đường Lâm, ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra là người có trí dũng song toàn, được dạy bắn cung nỏ, sử dụng giáo gươm, bí mật binh pháp. Ngô Quyền lớn lên trong lúc đất nước mới dành được quyền tự chủ, ông nối chí cha tập hợp lực lượng và trở thành một hào trưởng hùng mạnh trong vùng. Ông được Dương Đình Nghệ, (vốn là một bộ tướng của Khúc Thừa Mỹ, sau tự xưng là Tiết độ sứ) tin yêu, mời về làm Nha Tướng và gả con gái cho. Sau lại được Dương Đình Nghệ giao cho trấn giữ Châu Ái - vùng đất phên dậu của quê hương họ Dương. Năm 937, Dương Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại để cướp ngôi Tiết độ sứ, gây nên sự căm phẫn trong các vị hào trưởng và nhân dân. Ngô Quyền bèn tập hợp lực lượng để tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Quá hoảng sợ, Kiều Công Tiễn đã vội vã cầu cứu Nam Hán, vua Nam Hán là Lưu Cung nhân cơ hội đó đã phong con trai là Lưu Hoàng Tháo thống lĩnh thủy quân vượt biển sang xâm lược nước ta.
Đất nước lâm nguy, Ngô Quyền một mặt tiêu diệt Kiều Công Tiễn trừ mối hoạ, mặt khác huy động nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến. Tại vùng cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã huy động hàng ngàn binh sĩ và nhân dân địa phương xây dựng trận địa cọc để đón đánh quân xâm lược. Hơn ba nghìn cây gỗ được vót nhọn, bịt sắt rồi đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm, khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến. Vào một ngày cuối đông năm 938, đoàn binh thuyền do Hoàng Tháo chỉ huy rầm rộ vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng. Đúng lúc nước triều đang dâng cao, Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến, nhử địch đuổi theo vượt qua bãi cọc lọt vào trận địa mai phục của ta. Khi đoàn thuyền của Hoàng Tháo vượt qua vùng cửa biển, nước triều rút mạnh, quân ta quay lại phản công quyết liệt. Trận địa cọc nhô lên chặn đứng đoàn thuyền giặc, nhiều chiếc bị cọc gỗ đâm thủng, va vào nhau rồi chìm xuống dòng sông. Chủ tướng Hoàng Tháo bỏ mạng cùng quá nửa quân sĩ. Vua Nam Hán cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Lưu Cung kinh hoàng, đành thu nhặt số quân còn lại mà rút lui. Từ đó, nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược nước ta. Sau chiến thắng lẫy lừng, năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (tức Đông Anh, Hà Nội ngày nay).
Đại thắng Bạch Đằng năm 938 được ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta như một chiến công chói lọi, chấm dứt nền thống trị hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc lập và lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã trở thành vị vua có "công tái tạo, vua của các vua”, xứng đáng là "vị tổ trung hưng" của dân tộc.
MUỐN ĂN QUẢ TỐT, PHẢI TRỒNG CÂY TO
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập”, Bác viết ngày 19.8.1950.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, dân chủ, Đảng ta từ một Đảng bất hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhất là trước dã tâm quay lại cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút về căn cứ địa Việt Bắc để bảo toàn và phát triển lực lượng, chỉ đạo cả nước trường kỳ kháng chiến và quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 (Chiến dịch Lê Hồng Phong 2) nhằm phá thế bị cô lập ở căn cứ địa Việt Bắc, khai thông biên giới Việt - Trung để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ; mở rộng căn cứ địa và tiêu diệt một phần sinh lực quân đồn trú của Pháp, thử nghiệm các chiến thuật cho quân đội ta, khi đó vẫn chủ yếu thực hiện cách đánh du kích, còn thiếu kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn.
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo trường kỳ kháng chiến của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng, kề vai sát cánh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, thắng không kiêu, bại không nản, tiến hành cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, với tinh thần: “Dù bom đạn xương tan thịt nát/Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…” đã làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh đổ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã trở thành động lực to lớn cổ vũ toàn quân đoàn kết, phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, vươn lên xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc. Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
CHẶNG ĐƯỜNG NGẮN, BƯỚC TIẾN DÀI
Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII vừa qua khẳng định phương châm, cuộc chiến này: “không bao giờ chùng xuống”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”, "xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực, xử lý một người để cứu muôn người".
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra chủ trương về phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí, đài truyền hình, các doanh nghiệp và Nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong Văn kiện: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân”; “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, Nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.
Bên cạnh đó, có nhiều điểm mới về vấn đề động viên, khuyến khích, khen thưởng những tổ chức, cá nhân dám tố cáo hành vi tham nhũng, cơ chế bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng tránh sự trả thù hoặc trù dập, đồng thời chỉ ra một số biện pháp về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát để phòng, chống tham nhũng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện nêu rõ: “Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát thanh tra, kiểm tra, làm tốt chức năng hỗ trợ thúc đẩy phát triển”…
Mặt khác, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018… đã đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phòng, chống tham nhũng và góp phần rất to lớn vào công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta.
Do đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đạt được nhiều kết quả nổi bật, trở thành xu thế không thể đảo ngược. Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc.
Tính riêng từ tháng 1 đến tháng 5/2023, cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 100 tổ chức đảng, hơn 3.600 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý kỷ luật 12 tổ chức đảng, 26 cán bộ cấp Giám đốc Sở và tương đương trở lên, trong đó có 1 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 3 Chủ tịch, nguyên Chủ tịch UBND cấp tỉnh, 2 sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.
Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.099 vụ, 2.411 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố mới 242 vụ án, 864 bị can về tội tham nhũng (tăng gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2022).
Đáng chú ý, việc các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, mở rộng điều tra, khởi tố mới nhiều bị can trong nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, phức tạp, có tính hệ thống, có tổ chức, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước đã tạo được niềm tin trong Nhân dân đối với công tác này. Điển hình như vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và các Trung tâm Đăng kiểm một số địa phương; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và một số đơn vị liên quan; vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các đơn vị, địa phương liên quan; các vụ án liên quan đến Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát; các vụ án, vụ việc liên quan đến Công ty AIC và các đơn vị liên quan….
Từ những vụ án này, nhiều bị cáo nguyên là cán bộ cấp cao đã phải đứng trước tòa vì suy thoái về đạo đức, lối sống, gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội. Công lý được thực thi, việc khắc phục hậu quả cũng được thu hồi một cách quyết liệt.
Đặc biệt, một trong những dấu mốc quan trọng trong việc đưa nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống đó là việc trong năm 2022, 63 Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập và đi vào hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố.
Tại Hội nghị sơ kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã khẩn trương, tích cực triển khai thực hiện ngay nhiệm vụ được giao, nhất là đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; tạo chuyển biến mới trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở; bước đầu khắc phục tình trạng "trên nóng, dưới lạnh".
Theo đó, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã trực tiếp tiến hành gần 150 cuộc kiểm tra, giám sát về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện nhiều sai phạm; kiến nghị xử lý nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tính từ khi thành lập đến nay, các địa phương trong cả nước đã khởi tố 530 vụ án, 1.858 bị can về tội tham nhũng, tăng gấp 1,5 lần về số vụ án và tăng hơn 800 bị can so với năm 2021.
Nhiều địa phương như Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng… đã khởi tố cả cán bộ là Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc, Phó Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND cấp quận, huyện…
Theo Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học, công cuộc “chống giặc nội xâm” đã có nhiều bước tiến vượt bậc. Từ các vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp, chúng ta càng nhận thức sâu sắc và đầy đủ về tham nhũng, tiêu cực với đầy đủ mức độ tinh vi, phức tạp và tác hại nghiêm trọng.
Bước tiến vượt bậc đó còn thể hiện ở việc đi sâu, làm rõ bản chất của tham nhũng, tiêu cực và kiên quyết xử lý nghiêm minh, đến nơi đến chốn các hành vi vi phạm, dù đối tượng có bỏ trốn ra nước ngoài vẫn xét xử vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật...
Bước tiến khác trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực còn thể hiện ở cách làm ngày càng bài bản, lớp lang hơn, chắc chắn hơn và thuyết phục hơn của các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; theo nguyên tắc kỷ luật Đảng đi trước, kỷ luật hành chính, rồi mới xử lý hình sự...
Có thể nói, thời gian nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII là một chặng đường ngắn so với hành trình dài trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhiều năm qua nhưng kết quả của nó thật sự là một “bước tiến dài”. Và không phải bàn cãi gì thêm nữa, chính thành quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng là nền móng vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng; đồng thời là nền tảng cho cuộc chiến chống “giặc nội xâm” trong tương lai đi đến thắng lợi to lớn hơn. Kết quả này được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục phát triển theo các mục tiêu đã được xác định tại Đại hội XIII của Đảng.
Tuy nhiên, hiện nay, trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân có quan điểm cho rằng, “nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển của đất nước”. Đây thật sự là biểu hiện của nhận thức nông cạn, thiếu suy nghĩ chín chắn, thậm chí là cực đoan. Bởi lẽ, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực không làm “nản lòng”, “chùn bước”, sợ sai của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm. “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy… Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được”, “Ai nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”.
Thực tế đã chứng minh, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã thực sự trở thành cao trào cách mạng với những bước tiến dài vững chắc, tạo nền tảng cho toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và toàn dân tiến lên từng bước quét sạch “giặc nội xâm”. Đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ là một “cao trào”, càng không thể “chững lại”. Bởi đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, đầy chông gai, khắc nghiệt, cắt bỏ những “ung nhọt” trong nội bộ mình, rất đau xót nhưng vẫn phải tiếp tục làm, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ và phải làm rất bài bản, chắc chắn, vì sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì ý nguyện và hạnh phúc của Nhân dân”.
Vì vậy, phát biểu chỉ đạo tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương hồi tháng 5 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Ban Chỉ đạo, các cơ quan chức năng cần phát huy kết quả đạt được, thực hiện “4 hơn” và “3 không”. Trong đó, “4 hơn” là: Làm tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và hiệu quả hơn nữa; “3 không” là: Không đùn đẩy, không né tránh và không đổ lỗi khách quan trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Cùng với đó, vừa đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng vừa tăng cường công tác phòng chống tiêu cực mà trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chỉ đạo rà soát, chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, xử lý từ sớm, từ xa./.
THÀNH QUẢ NỬA NHIỆM KỲ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG: MỘT VIỆT NAM TÍCH CỰC, TRÁCH NHIỆM TẠI CÁC CƠ CHẾ, DIỄN ĐÀN ĐA PHƯƠNG
Những thành tựu nổi bật mà Việt Nam đạt được khi tham gia và đóng góp vào các cơ chế, diễn đàn đa phương vài năm trở lại đây đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế của đất nước trên trường quốc tế, đồng thời là minh chứng cho nỗ lực triển khai chủ trương, đường lối đối ngoại do Đại hội XIII của Đảng đề ra.
Những gì đã và đang diễn ra cho thấy, kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Việt Nam đã chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của mình trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị-kinh tế quốc tế, nhất là đối với những vấn đề, cơ chế quan trọng, có tầm chiến lược với lợi ích quốc gia, phù hợp khả năng và điều kiện cụ thể của đất nước. Bằng chứng là Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2020-2021 và được bầu vào một số cơ chế quan trọng của LHQ như Phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ khóa 77, Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC), Ủy ban Luật thương mại Quốc tế, Hội đồng Thống đốc của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)... đặc biệt là trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiếp tục thể hiện sự tích cực, chủ động tham gia xử lý nhiều vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu tại các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong khuôn khổ LHQ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC).
Thông qua việc tham gia và trực tiếp đóng góp trí tuệ, tiếng nói tại các cơ chế, diễn đàn này đã góp phần củng cố, nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong quan hệ với các nước và các tổ chức, diễn đàn quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tái khẳng định Việt Nam là một thành viên tích cực, tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; đồng thời chung tay cùng thế giới giải quyết các thách thức chung hiện nay như an ninh biển, biến đổi khí hậu, lương thực, nguồn nước... Một trong những dấu ấn nổi bật là thành công của Việt Nam khi tham gia xử lý các vấn đề này đã kết hợp được quan điểm, lập trường của mình với luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ và tình hình thực tế mối quan hệ với các nước.
Bên cạnh đó, thông qua tham gia vào nhiều cơ chế hợp tác, liên kết kinh tế đa phương ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu cũng như các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích trong các liên kết kinh tế quan trọng, ngày càng gắn kết sâu rộng hơn với thế giới để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Sự tham gia chủ động, tích cực tại các tổ chức, cơ chế và diễn đàn đa phương trong những năm qua cũng góp phần quan trọng vào thành công của Việt Nam khi cùng cộng đồng quốc tế triển khai các hoạt động đa phương trên thực địa, điển hình là trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình LHQ. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục tham gia tích cực vào hoạt động này bằng cách cử lực lượng với quy mô, thành phần và nhiệm vụ lớn hơn tới các phái bộ gìn giữ hòa bình của LHQ. Gần đây nhất, vào tháng 2-2023, năng lực, uy tín và tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong các hoạt động mang tính đa phương cũng được khẳng định khi Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng sang Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ nước bạn triển khai công tác cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả động đất.
Sẽ là chưa đủ nếu không nhắc tới những dấu ấn của đối ngoại trên kênh Đảng. Kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tham gia, đóng góp tích cực tại nhiều cơ chế đa phương với sự tham gia của các chính đảng trên thế giới, trong đó có Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP) tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; Cuộc gặp quốc tế các Đảng Cộng sản và công nhân (IMCWP) lần thứ 22 tại La Habana, Cuba; Diễn đàn Sao Paulo lần thứ 26 tại Brasilia, Brazil. Ngoài ra, Việt Nam còn là nước chủ nhà của Đại hội lần thứ 22 Hội đồng Hòa bình thế giới diễn ra vào tháng 11-2022.
Cũng có thể nói rằng, những thành tựu to lớn về mọi mặt mà Việt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là kể từ sau Đại hội XIII đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, từ đó ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào các cơ chế, diễn đàn đa phương quốc tế và tổ chức các sự kiện liên quan.
Những năm tới, đối ngoại đa phương được dự báo tiếp tục là xu thế nổi bật trong quan hệ quốc tế và đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi nước cũng như thế giới. Với riêng Việt Nam, việc tham gia vào các cơ chế, diễn đàn đa phương vẫn sẽ là kênh quan trọng nhằm góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình và ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đóng góp tiếng nói vào việc giải quyết những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống có liên quan tới đất nước, khu vực và toàn cầu; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội...
Điều đó đòi hỏi những năm tới cần tiếp tục triển khai thành công các phương hướng, nhiệm vụ đối ngoại nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, trong đó có việc tiếp tục chủ động, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương và tham gia tích cực vào các tổ chức trực thuộc LHQ. Trước mắt là tập trung đảm nhiệm tốt trọng trách tại các tổ chức, cơ quan quốc tế mà Việt Nam đang đóng vai trò là thành viên; phát huy vai trò tại các diễn đàn đa phương lớn; đồng thời đề xuất, thúc đẩy các sáng kiến hợp tác liên quan tới những lĩnh vực "nóng" hiện nay như: Chuyển đổi năng lượng, an ninh nguồn nước và lương thực, chuyển đổi số...
Nhiệm vụ thúc đẩy đối ngoại, hợp tác đa phương từ nay đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ khi phát biểu tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ra vào giữa tháng 5-2023, đó là: “Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết...”
Những kết quả nói trên không chỉ thể hiện hình ảnh một Việt Nam luôn chủ động, tích cực và trách nhiệm trên các cơ chế, diễn đàn đa phương mà còn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.
Xôn xao tháng Bảy...
Nghệ sĩ Ưu tú Nhật Thuận với "Quê hương và người lính"
Bí quyết luyện giỏi ở đơn vị "chân đồng, vai sắt"
Tọa đàm, khảo sát xây dựng Luật Phòng không nhân dân
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 1948!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỸ & PHƯƠNG TÂY EM NGẠI VÀ VỘI THỨC TỈNH TRUỚC SỨC MẠNH MỚI CỦA NGA!
HỌC BÁC THƯỜNG XUYÊN, THỰC CHẤT
Một số nhận thức về hệ giá trị văn hoá
1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.
Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn...
Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra.

