Thứ Hai, 14 tháng 8, 2023

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CỦA TỔ CHỨC "CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM LÂM THỜI" TẠI LÂM ĐỒNG: NHỮNG ẢO VỌNG NGÔNG CUỒNG

     Từ năm 2015 tới nay, tổ chức khủng bố “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã đẩy mạnh khuếch trương phạm vi ảnh hưởng, tích cực kết nạp thành viên và thực hiện hàng loạt hoạt động ở trong nước. Các thành viên của tổ chức này ở Lâm Đồng đã bị lực lượng Công an đấu tranh, bóc gỡ, nhiều đối tượng cốt cán bị khởi tố và xét xử.

    Tổ chức lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” được thành lập ngày 16/2/1991 tại Mỹ, do Đào Minh Quân (nguyên trung úy VNCH, SN 1952 tại Thừa Thiên – Huế, quốc tịch Hoa Kỳ) cầm đầu. Tôn chỉ, mục đích của tổ chức phản động này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng phương pháp bạo động vũ trang, dựng “nền đệ tam Việt Nam cộng hòa”.
    Năm 1995, Tổng cục An ninh đã xác lập chuyên án đấu tranh, bóc gỡ, xử lý, vô hiệu hóa hàng trăm cơ sở nội địa và số đối tượng xâm nhập của tổ chức này. Tuy nhiên, từ năm 2015 tới nay, Đào Minh Quân và số đối tượng cầm đầu ở nước ngoài tiếp tục phục hồi tổ chức, tiến hành các hoạt động chống phá ngày càng manh động, nguy hiểm hơn.
Phương thức, thủ đoạn của tổ chức này là vận động quốc tế, tranh thủ hậu thuẫn của một số nước phương Tây, hoạt động khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, hoạt động tuyên truyền nhằm phá hoại hệ tư tưởng, rải truyền đơn, kích động biểu tình, kết hợp chủ trương tập hợp người Việt trong và ngoài nước, các tầng lớp xã hội tham gia tổ chức, sử dụng phương pháp đấu tranh bất bạo động và bạo động vũ trang. Năm 2018, Bộ Công an đã ra thông báo xác định “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố. Trước đó, tháng 8/2017, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”.
Năm 2017, Nguyễn Đoàn Quang Viên (SN 1982, ngụ tại thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà) đang ở TP Hồ Chí Minh, đã sử dụng tài khoản Facebook “Donald Trump” kết bạn với một số người trong tổ chức này. Sau khi gia nhập “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, Viên cùng Trần Công Khải (ngụ tại TP Hồ Chí Minh) và một số đối tượng khác lập nhóm “Anh em nhà ku tí” để bàn bạc, lên kế hoạch phá hoại Hội nghị APEC 2017 được tổ chức tại Việt Nam. Tháng 11/2017, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh đã khởi tố Trần Công Khải về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Từ thời điểm này, Viên luôn được lực lượng Công an quan tâm, động viên tránh xa, từ bỏ tổ chức để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Nguyễn Đoàn Quang Viên đã thề thốt từ bỏ, nhưng chỉ được thời gian ngắn. Tháng 6/2018, đối tượng này tái hoạt động trở lại cho “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Sau khi củng cố chứng cứ, ngày 6/7/2021, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định khởi vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Đoàn Quang Viên về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Viên khai nhận: được Nguyễn Hữu Trí, thành viên của “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” sống ở Mỹ lôi kéo nên đã tiếp tục tham gia tổ chức này. Trí tung tin, khi nào đạt được 5 triệu phiếu “trưng cầu dân ý”, bầu Đào Minh Quân làm tổng thống thì sẽ đủ tư cách về Việt Nam tái thiết đất nước. Khi ấy, các thành viên của tổ chức này sẽ được ban phát nhiều chế độ đãi ngộ, bổ nhiệm giữ những vị trí, chức vụ trọng yếu trong bộ máy nhà nước. Tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đã phong Nguyễn Đoàn Quang Viên cấp hàm “Thiếu tá”, chức vụ “Cục trưởng Cục tâm lý chiến, Tổng cục chiến tranh chính trị”. Nhiệm vụ của “Cục trưởng” là tuyên truyền về tổ chức, đề ra ý tưởng và kêu gọi người dân tham gia “trưng cầu dân ý” thông qua hình thức quét Qrcode.
Đặc biệt, Nguyễn Đoàn Quang Viên còn lôi kéo được Y Phinh Du (SN 1984), Phó Chỉ hủy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã Bông Krang, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 23/2/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra quyết định khởi tố Y Phinh Du về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Y Phinh Du khai nhận, được Nguyễn Đoàn Quang Viên lôi kéo, đối tượng đã viết đơn xin tham gia tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, trở thành người hoạt động tích cực cho tổ chức này ở Đắk Lắk.
Y Phinh Du lấy thông tin của 861 trường hợp thông qua danh sách tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2018 và danh sách những người tham gia bảo hiểm y tế tại xã Bông Krang cùng nhiều tài liệu liên quan tới lĩnh vực quốc phòng gửi cho Nguyễn Đoàn Quang Viên để thực hiện “trưng cầu dân ý”. Công an tỉnh Lâm Đồng đã ủy thác cho Cơ quan An ninh điều tra Quân khu 5 (Bộ Quốc phòng), tiến hành xác minh các tài liệu do Y Phinh Du gửi cho “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Kết quả xác minh những tài liệu này là mật, thuộc lĩnh vực quốc phòng. Do đó, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố bổ sung Y Phing Du tội “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”.
Do đối tượng này thực hiện tội phạm xâm phạm khách thể là bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quốc phòng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tách, chuyển phần vụ án liên quan tới Y Phinh Du cho Cơ quan An ninh điều tra Quân khu 5 thụ lý, điều tra.
“Nếu không kịp thời ngăn chặn, khởi tố bắt giữ, xử lý đối tượng sẽ hết sức nguy hiểm, có nguy cơ đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Xử lý Nguyễn Đoàn Quang Viên là đòn đánh mạnh vào cơ sở nội địa, đối tượng cốt cán, “ngọn cờ” của tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” ở trong nước, thức tỉnh đối với nhiều người còn hoang mang, giao động, tin vào những luận điệu tuyên truyền bịp bợm của tổ chức này!..”, Thượng tá Lê Văn Trúc, Trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết./.

CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

     Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam được hình thành, vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, giữ nước với nhiều giá trị đặc sắc. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển văn hóa, trong đó có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Với quan điểm nhất quán, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định văn hóa nói chung, văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng là một bộ phận quan trọng, là động lực của sự phát triển bởi: “Văn hóa... là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn”(1). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định quan điểm xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Nghị quyết cũng nhấn mạnh nhiệm vụ giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc.
    Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm phát triển: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”(2), “Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số... Quan tâm, tạo điều kiện phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu số”(3).
Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, thời gian qua, Nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, tập trung vào một số lĩnh vực cơ bản sau:
    Một là, chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác giáo dục ngôn ngữ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số(4)... Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, 27/53 dân tộc thiểu số có bộ chữ viết riêng của dân tộc mình, như Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Mông, Gia-rai, Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Chăm, Cơ-ho, Mnông... được bảo tồn. Một số ngôn ngữ được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình địa phương, và được sử dụng để in các tác phẩm văn nghệ truyền thống, các sáng tác mới... Bên cạnh đó, việc tổ chức dạy, học ngôn ngữ dân tộc thiểu số cũng được triển khai ở các trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước. Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia-rai, Ba-na, Ê-đê, Mông, Mnông, Thái) và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Gia-rai, Ba-na, Ê-đê, Mông). Nhiều địa phương đã khảo sát, thống kê, sưu tầm tiếng nói, chữ viết, thư tịch cổ của các dân tộc; biên soạn, xuất bản sách tiếng dân tộc thiểu số.
    Hai là, chính sách bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg, ngày 27-7-2011, “Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”” nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội phát triển văn hóa dân tộc, góp phần để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, hướng tới bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế...; Quyết định số 2493/QĐ-TTg, ngày 22-12-2016, “Phê duyệt Đề án Kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020”, hướng tới mục tiêu huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc; tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ý thức bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của toàn xã hội, các chủ thể văn hóa và tổ chức, cá nhân có liên quan. Quyết định số 936/QĐ-TTg, ngày 30-6-2017, “Phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó có mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc; phát triển các công trình văn hóa hiện đại, có ý nghĩa biểu tượng quốc gia, ý nghĩa chính trị, lịch sử, truyền thống đặc sắc hướng tới mục tiêu chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc...
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4686/QĐ-BVHTTDL, ngày 31-12-2013, “Phê duyệt Đề án tổ chức định kỳ “Ngày hội, giao lưu văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào các dân tộc thiểu số” theo khu vực và toàn quốc giai đoạn 2013 - 2020”; Quyết định số 3965/QĐ-BVHTTDL, ngày 16-11-2015, “Về việc phê duyệt Dự án “Chương trình hoạt động, lễ hội và biểu diễn văn hóa nghệ thuật các dân tộc cấp tỉnh, vùng và quốc gia giai đoạn 2015 - 2020” (thuộc Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ)”... Qua đó, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa được diễn ra trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng địa phương, từng dân tộc, như Giao lưu văn hóa các dân tộc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam hằng năm; ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, miền Trung và miền Đông Nam Bộ, ngày hội văn hóa dân tộc Mông, Chăm, Khmer, Mường, Dao, Hoa, Thái...; liên hoan nghệ thuật hát then, đàn tính các dân tộc Tày, Nùng, Thái.... Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam được nâng cao. Các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng được lập hồ sơ khoa học, xếp hạng cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt. Việt Nam đã có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (năm 2008); Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (năm 2019); Nghệ thuật Xòe Thái (năm 2022)...
    Ngoài ra, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL, ngày 18-1-2019, về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” với mục tiêu bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống của các dân tộc thiểu số, khơi dậy lòng tự hào đối với văn hóa và trang phục truyền thống các dân tộc, hình thành ý thức, động lực để chính các chủ thể văn hóa, các cấp chính quyền địa phương có ý thức bảo tồn, phát huy và sử dụng trang phục truyền thống phổ biến hơn trong cuộc sống.
    Cùng với việc ban hành các văn bản trên, xác định những người có uy tín, già làng, trưởng bản, các nghệ nhân có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn, trao truyền, phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của các dân tộc thiểu số, hằng năm, Đảng và Nhà nước tổ chức gặp mặt già làng, trưởng bản, những người có uy tín là người dân tộc thiểu số, trao tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú cho các nghệ nhân đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong gìn giữ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, như nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; tri thức dân gian; ngữ văn dân gian; tiếng nói, chữ viết; lễ hội truyền thống...
    Ba là, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch.
    Thời gian qua, nhiều địa phương trên cả nước đã khai thác các giá trị văn hóa địa phương, tạo nên những sản phẩm du lịch khá hấp dẫn. Một số mô hình phát triển du lịch đã hình thành và hoạt động khá hiệu quả, như du lịch cộng đồng người Thái ở Bản Mển (xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) và Bản Áng (xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La); du lịch cộng đồng người Dao ở bản Nậm Đăm (xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang), du lịch cộng đồng của người Lự ở bản Thẳm (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu)... Vấn đề liên kết vùng, hợp tác giữa các đơn vị, tổ chức và việc ứng dụng khoa học - công nghệ, truyền thông trong hoạt động du lịch ngày càng được chú trọng trong các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, trong đó phải kể đến tuyến du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc”; “Con đường di sản miền Trung”, “Con đường xanh Tây Nguyên”; “Không gian cồng chiêng Tây Nguyên”; “Du lịch cội nguồn”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắc màu vùng cao”; “Du lịch vòng cung Tây Bắc”... Việc triển khai chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch khá hiệu quả, góp phần vừa phục hồi, bảo tồn, phát huy nhiều giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của các vùng, miền trên cả nước, vừa tạo thêm việc làm, tăng thu nhập; qua đó, thúc đẩy quá trình xóa đói, giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
    Bốn là, chính sách truyền thông đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Một số chính sách liên quan đến công tác truyền thông đã được ban hành, góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung và chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc thiểu số nói riêng đến với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, như các quyết định của Thủ tướng Chính phủ(5). Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanh, truyền hình địa phương, các cơ quan báo chí và truyền thông trên cả nước cũng tích cực phủ sóng và nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác dân tộc trên khắp mọi miền Tổ quốc.
    Năm là, chính sách về công tác thông tin, thư viện nhằm lưu trữ các văn bản cổ, về hoạt động nghe nhìn, sáng tác văn học, nghệ thuật về chủ đề dân tộc thiểu số.
    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1558/QĐ-TTg, ngày 5-8-2016, “Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam””. Đề án đã khảo sát, điều tra, nghiên cứu, sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu, sáng tạo, xuất bản, phát hành, quảng bá các công trình văn học, nghệ thuật về các dân tộc thiểu số Việt Nam dưới dạng sách in, sách điện tử (Ebook), sách 3D, các phim tài liệu, phim chuyên đề và hệ thống thư viện số.
    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hệ thống chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số còn ít và chưa đồng bộ, chưa phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội. Việc tổ chức thực hiện chính sách còn chậm, chưa thực sự đi vào cuộc sống... Nguồn lực đầu tư hỗ trợ bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số còn hạn chế, sử dụng thiếu hiệu quả. Nhận thức một bộ phận không nhỏ các ngành, các cấp về văn hóa dân tộc thiểu số còn hạn chế. Chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng nên chưa phát huy được hiệu quả tài năng, tâm huyết của đội ngũ trí thức, nghệ nhân dân gian dân tộc thiểu số. Chính sách bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc theo các lĩnh vực cụ thể, chính sách tái tạo môi trường, khôi phục cảnh quan, không gian sinh tồn của đồng bào dân tộc thiểu số chưa được quan tâm định hướng và thể hiện một cách rõ ràng.
    Thời gian tới, để tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức trong công tác hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số phải gắn với chính sách phát triển quốc gia - dân tộc, chính sách phát triển của vùng, chú ý đến tính toàn diện, tính đặc thù. Quá trình hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, từ tiềm năng, lợi thế, tính đặc thù của từng vùng, từng địa phương, từng tộc người và phải đặt trong tổng thể sự phát triển quốc gia, dân tộc. Cần có thái độ tôn trọng đối với di sản văn hóa các dân tộc thiểu số. Tăng cường các hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu, đặc trưng và phù hợp với điều kiện mới; bảo đảm hài hòa giữa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, bảo tồn và phát triển, nhất là phát triển bền vững về văn hóa, đặt trong mối quan hệ với kinh tế - xã hội. Cụ thể hóa các nội dung chính sách bảo tồn khẩn cấp văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 10.000 người), các dân tộc thiểu số tại các khu vực tái định cư dự án thủy điện liên thông, tại vùng biên giới, kết nối toàn diện với các chương trình, dự án có liên quan.
Hai là, đổi mới công tác tuyên truyền.
    Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cùng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, công tác quản lý nhà nước về văn hóa phải có sự thay đổi trong tư duy và hành động. Bên cạnh việc tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số, cần tiếp tục đầu tư xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý văn hóa. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn văn hóa, về công tác quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đối với thế hệ trẻ, củng cố niềm tự hào, ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân trong gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần xác định công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động bảo tồn văn hóa và quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng đối với cơ sở. Nhiệm vụ tuyên truyền có thể được lồng ghép với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hóa mới, bài trừ những tập tục cổ hủ; chống âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm gây chia rẽ dân tộc, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Ba là, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc và quản lý văn hóa dân tộc thiểu số, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số.
    Chú trọng công tác tuyển dụng công chức, viên chức được đào tạo đúng chuyên môn, nghiệp vụ; thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức trong tình hình mới đối với đội ngũ làm công tác dân tộc và quản lý văn hóa dân tộc thiểu số. Có cơ chế phát huy vai trò của các nghệ nhân, già làng, trưởng bản trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, ngăn chặn nguy cơ làm mai một, sai lệch hoặc thất truyền. Tiếp thu thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong quản lý văn hóa, như số hóa những dữ liệu cốt lõi gắn với bản sắc văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số; từ đó, có thể lựa chọn đăng tải trên các phương tiện thông tin và truyền thông để đông đảo người dân có điều kiện tiếp cận, tương tác, tìm hiểu thuận lợi hơn.
    Gắn kết công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và hoạt động du lịch với sự tham gia của các bên liên quan, trong đó vai trò nòng cốt thuộc về các chủ thể văn hóa... để vừa tạo ra sinh kế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, vừa tạo ý thức cho chính cộng đồng trong việc lựa chọn, phát huy, trao truyền và thực hành các giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu trong đời sống. Đó cũng là cơ sở để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển bền vững. Bên cạnh đó, cần gắn kết giữa xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với sản phẩm và dịch vụ văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số.
    Bốn là, nhân rộng các mô hình bảo tồn văn hóa; xây dựng các mô hình mới về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp với thực tiễn của các địa phương.
    Xác định làng, bản, buôn, sóc, ấp... là địa bàn cơ sở để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng đời sống văn hóa mới, trong đó chú trọng phát huy vai trò người dân - chủ thể sáng tạo và hưởng thụ văn hóa - những người có khả năng nuôi dưỡng và phát huy tốt nhất các giá trị văn hóa truyền thống với nòng cốt là các già làng, các nghệ nhân và trí thức là người dân tộc thiểu số. Thực hiện các mô hình bảo tồn văn hóa có hiệu quả, phổ biến và nhân rộng các mô hình bảo tồn văn hóa được triển khai tốt, đồng thời đổi mới, bổ sung các mô hình bảo tồn các giá trị văn hóa phù hợp với thực tiễn của địa phương. Tiếp tục triển khai thực hiện ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số theo vùng, ngày hội đại đoàn kết dân tộc tại các địa phương; xây dựng mô hình bảo tàng văn hóa tư nhân; đưa mô hình truyền dạy văn hóa dân tộc vào các trường học; gắn tổ chức truyền dạy, phát triển nghề thủ công truyền thống, điêu khắc dân gian với các cơ quan, tổ chức phát triển du lịch, các trung tâm xúc tiến việc làm và tiêu thụ sản phẩm.
Năm là, tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm ổn định đời sống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
    Cùng với phát triển kinh tế, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm bố trí đủ nguồn lực cho các chương trình, dự án, đề án, nghiên cứu khoa học về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số và nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó có chính sách hỗ trợ, phục dựng các lễ hội truyền thống, các sản phẩm văn hóa truyền thống. Tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ có công tạo dựng các công trình, sản phẩm văn hóa; phổ biến, truyền dạy nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hỗ trợ các mô hình văn hóa đặc sắc, mô hình điểm ở các bản, làng; hỗ trợ việc bảo tồn tiếng nói và chữ viết. Để tăng cường nguồn lực cho phát triển văn hóa, chú trọng đến vấn đề xã hội hóa các hoạt động văn hóa với sự tham gia và giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần chú ý đến môi trường, không gian phù hợp để đồng bào các dân tộc thiểu số hoạt động, phát triển và sáng tạo văn hóa. Phát huy vai trò chủ động, trách nhiệm và tính phản biện trong việc thực hiện chính sách văn hóa. Tăng cường sự tham gia, tư vấn của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong lĩnh vực văn hóa để kịp thời kiến nghị, chỉnh sửa những bất cập của một số chính sách cho phù hợp với thực tiễn./.

 NHỮNG TRẬN ĐÁNH, TRẬN THẮNG NỔI TIẾNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, quân dân ta đã làm nên nhiều chiến công hiển hách. Mỗi chiến công đã để lại một mốc son chói lọi và làm rạng rỡ nền văn hóa quân sự độc đáo Việt Nam. Xin giới thiệu các trận thắng tiêu biểu nhất từ thế kỷ X đến thế kỷ XX

 TRẬN BẠCH ĐẰNG GIANG - 938

Đức vương Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng Giêng năm Mậu Tuất (tức ngày 6 tháng 2 năm 898), tại làng Mông Phụ, Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội ngày nay. Sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực, cha là Ngô Mân làm chức châu mục Đường Lâm, ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra là người có trí dũng song toàn, được dạy bắn cung nỏ, sử dụng giáo gươm, bí mật binh pháp. Ngô Quyền lớn lên trong lúc đất nước mới dành được quyền tự chủ, ông nối chí cha tập hợp lực lượng và trở thành một hào trưởng hùng mạnh trong vùng. Ông được Dương Đình Nghệ, (vốn là một bộ tướng của Khúc Thừa Mỹ, sau tự xưng là Tiết độ sứ) tin yêu, mời về làm Nha Tướng và gả con gái cho. Sau lại được Dương Đình Nghệ giao cho trấn giữ Châu Ái - vùng đất phên dậu của quê hương họ Dương. Năm 937, Dương Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại để cướp ngôi Tiết độ sứ, gây nên sự căm phẫn trong các vị hào trưởng và nhân dân. Ngô Quyền bèn tập hợp lực lượng để tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Quá hoảng sợ, Kiều Công Tiễn đã vội vã cầu cứu Nam Hán, vua Nam Hán là Lưu Cung nhân cơ hội đó đã phong con trai là Lưu Hoàng Tháo thống lĩnh thủy quân vượt biển sang xâm lược nước ta.

Đất nước lâm nguy, Ngô Quyền một mặt tiêu diệt Kiều Công Tiễn trừ mối hoạ, mặt khác huy động nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến. Tại vùng cửa sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã huy động hàng ngàn binh sĩ và nhân dân địa phương xây dựng trận địa cọc để đón đánh quân xâm lược. Hơn ba nghìn cây gỗ được vót nhọn, bịt sắt rồi đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm, khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến. Vào một ngày cuối đông năm 938, đoàn binh thuyền do Hoàng Tháo chỉ huy rầm rộ vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng. Đúng lúc nước triều đang dâng cao, Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến, nhử địch đuổi theo vượt qua bãi cọc lọt vào trận địa mai phục của ta. Khi đoàn thuyền của Hoàng Tháo vượt qua vùng cửa biển, nước triều rút mạnh, quân ta quay lại phản công quyết liệt. Trận địa cọc nhô lên chặn đứng đoàn thuyền giặc, nhiều chiếc bị cọc gỗ đâm thủng, va vào nhau rồi chìm xuống dòng sông. Chủ tướng Hoàng Tháo bỏ mạng cùng quá nửa quân sĩ. Vua Nam Hán cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Lưu Cung kinh hoàng, đành thu nhặt số quân còn lại mà rút lui. Từ đó, nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược nước ta. Sau chiến thắng lẫy lừng, năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (tức Đông Anh, Hà Nội ngày nay).

Đại thắng Bạch Đằng năm 938 được ghi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta như một chiến công chói lọi, chấm dứt nền thống trị hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc lập và lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 đã trở thành vị vua có "công tái tạo, vua của các vua”, xứng đáng là "vị tổ trung hưng" của dân tộc.

 MUỐN ĂN QUẢ TỐT, PHẢI TRỒNG CÂY TO

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập”, Bác viết ngày 19.8.1950.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế, lập nên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước do nhân dân lao động làm chủ. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, dân chủ, Đảng ta từ một Đảng bất hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới. Song, chính quyền cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, nhất là trước dã tâm quay lại cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút về căn cứ địa Việt Bắc để bảo toàn và phát triển lực lượng, chỉ đạo cả nước trường kỳ kháng chiến và quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 (Chiến dịch Lê Hồng Phong 2) nhằm phá thế bị cô lập ở căn cứ địa Việt Bắc, khai thông biên giới Việt - Trung để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ; mở rộng căn cứ địa và tiêu diệt một phần sinh lực quân đồn trú của Pháp, thử nghiệm các chiến thuật cho quân đội ta, khi đó vẫn chủ yếu thực hiện cách đánh du kích, còn thiếu kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo trường kỳ kháng chiến của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng, kề vai sát cánh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, thắng không kiêu, bại không nản, tiến hành cuộc kháng chiến ba nghìn ngày, với tinh thần: “Dù bom đạn xương tan thịt nát/Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…” đã làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh đổ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã trở thành động lực to lớn cổ vũ toàn quân đoàn kết, phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, vươn lên xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc. Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chấp hành tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ đoàn kết thống nhất cao, có chuyển biến quan trọng về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân không ngừng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bảo vệ vững chắc thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước; luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.


 CHẶNG ĐƯỜNG NGẮN, BƯỚC TIẾN DÀI

Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII vừa qua khẳng định phương châm, cuộc chiến này: “không bao giờ chùng xuống”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”, "xử lý một vụ cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực, xử lý một người để cứu muôn người".

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra chủ trương về phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các cơ quan báo chí, đài truyền hình, các doanh nghiệp và Nhân dân tham gia vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong Văn kiện: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân”; “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, Nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Bên cạnh đó, có nhiều điểm mới về vấn đề động viên, khuyến khích, khen thưởng những tổ chức, cá nhân dám tố cáo hành vi tham nhũng, cơ chế bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng tránh sự trả thù hoặc trù dập, đồng thời chỉ ra một số biện pháp về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát để phòng, chống tham nhũng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện nêu rõ: “Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát thanh tra, kiểm tra, làm tốt chức năng hỗ trợ thúc đẩy phát triển”…

Mặt khác, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018… đã đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phòng, chống tham nhũng và góp phần rất to lớn vào công cuộc phòng, chống tham nhũng ở nước ta.

Do đó, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đạt được nhiều kết quả nổi bật, trở thành xu thế không thể đảo ngược. Theo báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa 977 vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 180 vụ án, 133 vụ việc.

Tính riêng từ tháng 1 đến tháng 5/2023, cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 100 tổ chức đảng, hơn 3.600 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã xử lý kỷ luật 12 tổ chức đảng, 26 cán bộ cấp Giám đốc Sở và tương đương trở lên, trong đó có 1 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 3 Chủ tịch, nguyên Chủ tịch UBND cấp tỉnh, 2 sỹ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.099 vụ, 2.411 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế; khởi tố mới 242 vụ án, 864 bị can về tội tham nhũng (tăng gần 2 lần so với cùng kỳ năm 2022).

Đáng chú ý, việc các cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, mở rộng điều tra, khởi tố mới nhiều bị can trong nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, phức tạp, có tính hệ thống, có tổ chức, liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương, cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước đã tạo được niềm tin trong Nhân dân đối với công tác này. Điển hình như vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và các Trung tâm Đăng kiểm một số địa phương; vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao và một số đơn vị liên quan; vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các đơn vị, địa phương liên quan; các vụ án liên quan đến Công ty Cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát; các vụ án, vụ việc liên quan đến Công ty AIC và các đơn vị liên quan….

Từ những vụ án này, nhiều bị cáo nguyên là cán bộ cấp cao đã phải đứng trước tòa vì suy thoái về đạo đức, lối sống, gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại tiền và tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội. Công lý được thực thi, việc khắc phục hậu quả cũng được thu hồi một cách quyết liệt.

Đặc biệt, một trong những dấu mốc quan trọng trong việc đưa nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống đó là việc trong năm 2022, 63 Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực được thành lập và đi vào hoạt động ở tất cả các tỉnh, thành phố.

Tại Hội nghị sơ kết 1 năm hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã khẩn trương, tích cực triển khai thực hiện ngay nhiệm vụ được giao, nhất là đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực; tạo chuyển biến mới trong công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, cơ sở; bước đầu khắc phục tình trạng "trên nóng, dưới lạnh".

Theo đó, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã trực tiếp tiến hành gần 150 cuộc kiểm tra, giám sát về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; qua kiểm tra, giám sát đã phát hiện nhiều sai phạm; kiến nghị xử lý nhiều tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tính từ khi thành lập đến nay, các địa phương trong cả nước đã khởi tố 530 vụ án, 1.858 bị can về tội tham nhũng, tăng gấp 1,5 lần về số vụ án và tăng hơn 800 bị can so với năm 2021.

Nhiều địa phương như Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng… đã khởi tố cả cán bộ là Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc, Phó Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND cấp quận, huyện…

Theo Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học, công cuộc “chống giặc nội xâm” đã có nhiều bước tiến vượt bậc. Từ các vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp, chúng ta càng nhận thức sâu sắc và đầy đủ về tham nhũng, tiêu cực với đầy đủ mức độ tinh vi, phức tạp và tác hại nghiêm trọng.

Bước tiến vượt bậc đó còn thể hiện ở việc đi sâu, làm rõ bản chất của tham nhũng, tiêu cực và kiên quyết xử lý nghiêm minh, đến nơi đến chốn các hành vi vi phạm, dù đối tượng có bỏ trốn ra nước ngoài vẫn xét xử vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật...

Bước tiến khác trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực còn thể hiện ở cách làm ngày càng bài bản, lớp lang hơn, chắc chắn hơn và thuyết phục hơn của các cơ quan chức năng trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; theo nguyên tắc kỷ luật Đảng đi trước, kỷ luật hành chính, rồi mới xử lý hình sự...

Có thể nói, thời gian nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII là một chặng đường ngắn so với hành trình dài trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhiều năm qua nhưng kết quả của nó thật sự là một “bước tiến dài”. Và không phải bàn cãi gì thêm nữa, chính thành quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng là nền móng vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói riêng; đồng thời là nền tảng cho cuộc chiến chống “giặc nội xâm” trong tương lai đi đến thắng lợi to lớn hơn. Kết quả này được Nhân dân đồng tình, ủng hộ và dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, tạo tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp tục phát triển theo các mục tiêu đã được xác định tại Đại hội XIII của Đảng.

Tuy nhiên, hiện nay, trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân có quan điểm cho rằng, “nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển của đất nước”. Đây thật sự là biểu hiện của nhận thức nông cạn, thiếu suy nghĩ chín chắn, thậm chí là cực đoan. Bởi lẽ, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực không làm “nản lòng”, “chùn bước”, sợ sai của cán bộ, đảng viên, mà chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm. “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy… Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được”, “Ai nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”.

Thực tế đã chứng minh, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã thực sự trở thành cao trào cách mạng với những bước tiến dài vững chắc, tạo nền tảng cho toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và toàn dân tiến lên từng bước quét sạch “giặc nội xâm”. Đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng không chỉ là một “cao trào”, càng không thể “chững lại”. Bởi đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, đầy chông gai, khắc nghiệt, cắt bỏ những “ung nhọt” trong nội bộ mình, rất đau xót nhưng vẫn phải tiếp tục làm, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ và phải làm rất bài bản, chắc chắn, vì sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, vì sự phát triển bền vững của đất nước, vì ý nguyện và hạnh phúc của Nhân dân”.

Vì vậy, phát biểu chỉ đạo tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương hồi tháng 5 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Ban Chỉ đạo, các cơ quan chức năng cần phát huy kết quả đạt được, thực hiện “4 hơn” và “3 không”. Trong đó, “4 hơn” là: Làm tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và hiệu quả hơn nữa; “3 không” là: Không đùn đẩy, không né tránh và không đổ lỗi khách quan trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cùng với đó, vừa đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng vừa tăng cường công tác phòng chống tiêu cực mà trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chỉ đạo rà soát, chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, xử lý từ sớm, từ xa./.


 THÀNH QUẢ NỬA NHIỆM KỲ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG: MỘT VIỆT NAM TÍCH CỰC, TRÁCH NHIỆM TẠI CÁC CƠ CHẾ, DIỄN ĐÀN ĐA PHƯƠNG

Những thành tựu nổi bật mà Việt Nam đạt được khi tham gia và đóng góp vào các cơ chế, diễn đàn đa phương vài năm trở lại đây đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế của đất nước trên trường quốc tế, đồng thời là minh chứng cho nỗ lực triển khai chủ trương, đường lối đối ngoại do Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Những gì đã và đang diễn ra cho thấy, kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Việt Nam đã chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của mình trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị-kinh tế quốc tế, nhất là đối với những vấn đề, cơ chế quan trọng, có tầm chiến lược với lợi ích quốc gia, phù hợp khả năng và điều kiện cụ thể của đất nước. Bằng chứng là Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ) nhiệm kỳ 2020-2021 và được bầu vào một số cơ chế quan trọng của LHQ như Phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ khóa 77, Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC), Ủy ban Luật thương mại Quốc tế, Hội đồng Thống đốc của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)... đặc biệt là trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiếp tục thể hiện sự tích cực, chủ động tham gia xử lý nhiều vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu tại các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong khuôn khổ LHQ, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC).

Thông qua việc tham gia và trực tiếp đóng góp trí tuệ, tiếng nói tại các cơ chế, diễn đàn này đã góp phần củng cố, nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong quan hệ với các nước và các tổ chức, diễn đàn quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tái khẳng định Việt Nam là một thành viên tích cực, tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; đồng thời chung tay cùng thế giới giải quyết các thách thức chung hiện nay như an ninh biển, biến đổi khí hậu, lương thực, nguồn nước... Một trong những dấu ấn nổi bật là thành công của Việt Nam khi tham gia xử lý các vấn đề này đã kết hợp được quan điểm, lập trường của mình với luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ và tình hình thực tế mối quan hệ với các nước.

Bên cạnh đó, thông qua tham gia vào nhiều cơ chế hợp tác, liên kết kinh tế đa phương ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu cũng như các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích trong các liên kết kinh tế quan trọng, ngày càng gắn kết sâu rộng hơn với thế giới để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Sự tham gia chủ động, tích cực tại các tổ chức, cơ chế và diễn đàn đa phương trong những năm qua cũng góp phần quan trọng vào thành công của Việt Nam khi cùng cộng đồng quốc tế triển khai các hoạt động đa phương trên thực địa, điển hình là trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình LHQ. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục tham gia tích cực vào hoạt động này bằng cách cử lực lượng với quy mô, thành phần và nhiệm vụ lớn hơn tới các phái bộ gìn giữ hòa bình của LHQ. Gần đây nhất, vào tháng 2-2023, năng lực, uy tín và tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong các hoạt động mang tính đa phương cũng được khẳng định khi Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng sang Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ nước bạn triển khai công tác cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả động đất.

Sẽ là chưa đủ nếu không nhắc tới những dấu ấn của đối ngoại trên kênh Đảng. Kể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tham gia, đóng góp tích cực tại nhiều cơ chế đa phương với sự tham gia của các chính đảng trên thế giới, trong đó có Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP) tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; Cuộc gặp quốc tế các Đảng Cộng sản và công nhân (IMCWP) lần thứ 22 tại La Habana, Cuba; Diễn đàn Sao Paulo lần thứ 26 tại Brasilia, Brazil. Ngoài ra, Việt Nam còn là nước chủ nhà của Đại hội lần thứ 22 Hội đồng Hòa bình thế giới diễn ra vào tháng 11-2022.

Cũng có thể nói rằng, những thành tựu to lớn về mọi mặt mà Việt Nam đạt được trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là kể từ sau Đại hội XIII đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, từ đó ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào các cơ chế, diễn đàn đa phương quốc tế và tổ chức các sự kiện liên quan.

Những năm tới, đối ngoại đa phương được dự báo tiếp tục là xu thế nổi bật trong quan hệ quốc tế và đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của mỗi nước cũng như thế giới. Với riêng Việt Nam, việc tham gia vào các cơ chế, diễn đàn đa phương vẫn sẽ là kênh quan trọng nhằm góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình và ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đóng góp tiếng nói vào việc giải quyết những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống có liên quan tới đất nước, khu vực và toàn cầu; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội...

Điều đó đòi hỏi những năm tới cần tiếp tục triển khai thành công các phương hướng, nhiệm vụ đối ngoại nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, trong đó có việc tiếp tục chủ động, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương và tham gia tích cực vào các tổ chức trực thuộc LHQ. Trước mắt là tập trung đảm nhiệm tốt trọng trách tại các tổ chức, cơ quan quốc tế mà Việt Nam đang đóng vai trò là thành viên; phát huy vai trò tại các diễn đàn đa phương lớn; đồng thời đề xuất, thúc đẩy các sáng kiến hợp tác liên quan tới những lĩnh vực "nóng" hiện nay như: Chuyển đổi năng lượng, an ninh nguồn nước và lương thực, chuyển đổi số...

Nhiệm vụ thúc đẩy đối ngoại, hợp tác đa phương từ nay đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII cũng đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ khi phát biểu tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ra vào giữa tháng 5-2023, đó là: “Tổ chức thật tốt các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao; chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn nữa quan hệ với các đối tác; đẩy mạnh đối ngoại đa phương; giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết, trước hết...”

Những kết quả nói trên không chỉ thể hiện hình ảnh một Việt Nam luôn chủ động, tích cực và trách nhiệm trên các cơ chế, diễn đàn đa phương mà còn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.


Xôn xao tháng Bảy...

Mưa vừa ào xuống một trận, gột sạch đi những bức bối oi ả ngày hè. Để mẹ tôi bắt đầu vun vén cho tháng bảy khi mùa gặt đã xong, rơm rạ vun thành đống và cơm mới trong nồi còn thơm vị mồ hôi. Dù biết ngày mai có thể sẽ nắng hơn và cơn mưa thì lâu không ghé lại. Nhưng ruộng đồng lại cất lên tiếng gọi, mẹ đãi lúa giống, mẹ ủ phân tro, mẹ xới lại góc vườn cỏ rậm. Bố lo đan lại rào giậu, khơi lại con mương nhỏ trước nhà, lát lại mảnh sân đã bong tróc xi măng. Thằng cháu nhỏ bắc ghế ngó mẻ chuối phơi khô. Ngó đống bánh đa chưa kịp giòn, ngó sang mẹt tép tôm còn thiếu vài mẻ nắng. Bố mẹ nó đi làm xa, thằng nhỏ ở nhà lẽo đẽo theo bà qua hết mùa lúa đến mùa cà. Hết mùa vải chín ngoài cây thì đến mùa kẹo lạc, bánh tro. Đêm đến nghe bà ru còn rơm rớm thèm vòng tay của mẹ. Canh khuya vắng cháu thảng thốt giữa cơn ác mộng, là bà vòng tay vỗ về đến sáng vẫn còn thương. Chỉ có cụ bà là hay ngồi lặng im, người ở đây mà lòng dạ hướng về Trường Sơn hùng vĩ. Nơi cụ ông nằm lại cùng đồng đội, mấy chục năm qua đi tìm hoài vẫn không thấy phần mộ ở đâu. Tháng bảy về hương khói khắp nơi nơi. Trên ban thờ là tấm hình cụ ông đã bạc màu năm tháng. Chỉ có nụ cười là mấy chục năm vẫn còn tươi rói đến nhói buốt tim gan người ở lại. Giờ ngồi nhìn những đám mây trắng xốp bay qua vườn nhà trong một chiều đầy gió. Cụ bà tưởng như ông cũng theo về… Giữa lưng chừng tháng bảy luôn là sự đợi chờ. Lúa gieo xong rồi chờ một mùa vụ mới. Thương từ cái nắng đầu ngày cho đến cái oi nồng khi đêm tối. Biết mười hạt gieo xuống đất rồi liệu có nảy lên năm? Rồi thương đến dáng mẹ gầy, chiều nào cũng thấp thỏm trên đồng chờ kênh mương khơi về từng con nước. Lòng cứ tự hỏi sao thời tiết mỗi ngày lại càng thêm khắc nghiệt. ở đâu phá rừng, chặt cây thì không biết. Chứ những người nông dân như mẹ cả đời này lúc nào cũng hiền hòa với trời đất, thiên nhiên. Mà cánh đồng trước nhà thì nắng hút đến cạn khô. Cây cối trong vườn héo rũ từng chiếc lá. Mẹ bỗng thương thằng cháu nhỏ, đến thế hệ của chúng thì còn phải gánh chịu sự đổi thay khắc nghiệt đến nhường nào. Nên ông dạy cháu biết trồng một mầm cây trước khi dạy biết trèo lên hái quả. Biết yêu thương vạn vật xung quanh mình và nâng niu đến từng sự sống. Để một tháng bảy nào đó của mấy chục năm sau, cháu con mình không phải ngửa mặt lên trời thốt lên tiếng “than ôi” khổ cực. Điện mùa này thỉnh thoảng lại bị cắt bất ngờ. Ngày thì nhờ vào bóng cây, đêm mong từng cơn gió. Đứa cháu nhỏ lăn qua lăn lại, thỉnh thoảng hỏi “bà ơi, bao giờ bố mẹ cháu mới về?”. Bà không dám hứa điều gì vì cũng không biết chắc được ngày mai. Khi hiểu cuộc mưu sinh này còn dài đằng đẵng. Rồi cháu sẽ lớn lên, sẽ hiểu được vì sao có những khi rất muốn mà không thể bên nhau. Có những người cả đời chỉ biết yêu thương bằng hai từ “xa cách”. Cơm cháu ăn, sách cháu đọc, áo quần mà cháu mặc, đều là sự chắt chiu thương nhớ đến tận cùng. Lời ru của bà cũng nặng phù sa, cũng có cánh cò, cũng gù bông lúa. Đủ bao la để ôm cháu vào lòng bao bọc qua những mùa thơ ấu. Đủ êm đềm nuôi nấng, đủ thương yêu vá víu những khoảng cách xa vời… Rồi thì giữa đêm cơn mưa cũng ập đến bất ngờ. Lộp độp rơi trên mái tôn, đánh thức từng cơn gió. Cụ bà lại trở giấc thắp thêm lên ban thờ những que nhang ấm. Chiến tranh đã qua lâu lắm rồi, người sống cũng đã già chỉ có người nằm xuống là trẻ mãi với non sông. Ai cũng biết cụ bà vẫn chờ mong một ngày nào đó không xa sẽ được gặp lại người chồng hơn nửa đời xa cách. Những hò hẹn thời trẻ hẳn vẫn còn nguyên trong ký ức. Cụ bà đã giữ cho riêng mình qua hết tháng bảy này lại đến tháng bảy kia. Trường Sơn nơi cụ ông nằm thật ra cũng đâu quá xa xôi. Vì nghìn cây lá vẫn hát xôn xao trong lòng bà giữa những đêm không ngủ… Vũ Thị Huyền Trang

Nghệ sĩ Ưu tú Nhật Thuận với "Quê hương và người lính"

Vào cái đêm cả nước thao thức với tấm Huy chương Vàng môn bóng đá nam tại đấu trường Saegame 30, bỗng giọng hát quen thuộc của Nghệ sĩ Ưu tú (NSƯT) Nhật Thuận (Đoàn Văn công Quân khu Ba) cất lên trong trẻo, sâu lắng trong chương trình truyền hình của VTV1 như kéo tôi từ bồng bềnh chất men chiến thắng trở về với thực tại. Chương trình giới thiệu tác phẩm mới phát trên VTV1 với ca khúc “Chiếc khăn của mẹ”, sáng tác của Nhạc sĩ Xuân Trí là một trong các hoạt động kỷ niệm 25 năm ca hát của cô ca sĩ gắn liền với quê hương và người chiến sĩ vùng châu thổ sông Hồng. Vậy là hò hẹn mãi cuối cùng tôi mới có buổi chuyện trò với giọng “oanh vàng” của Đoàn Văn công Quân khu 3. Kể về việc ra mắt MV nhân kỷ niệm 25 năm sự nghiệp ca hát của mình, NSƯT Nhật Thuận trải lòng: Trong MV này, Nhạc sĩ Xuân Trí đã đẩy quả bóng ý tưởng về ca khúc “Chiếc khăn của mẹ” cho tôi. Có thể nói, người mẹ, quê hương và người lính đã đồng hành cùng sự nghiệp ca hát của tôi suốt 25 năm qua, điều đó đã hình thành lên ý tưởng “đặt hàng” nhạc sĩ Xuân Trí viết về đề tài này để Nhật Thuận thực hiện. Là người có sự đồng cảm sâu sắc với Nhật Thuận nên khi nhận được lời đề nghị này, Xuân Trí đã đồng ý ngay. Thuận nói với Trí rằng: Là người nghệ sĩ chiến sĩ, chị muốn truyền tải tới những người lính đồng bằng châu thổ sông Hồng nói riêng, những người lính nói chung về tình yêu với mẹ, với quê hương, đất nước và đó là đích đến của ca khúc này… Chia sẻ về MV này, Nhạc sĩ Xuân Trí, bật mí: Tôi và chị Thuận đã cộng tác với nhau nhiều năm rồi nên hiểu nhau về tính tình, phong cách, chất giọng… Câu chuyện này hai chị em đã ấp ủ từ khá lâu, do vậy, khi bắt gặp lời thơ của anh Bảo Trần (tác giả của bài thơ) những nốt nhạc trong tôi bật trào ra. Một bức tranh đẹp về mẹ, về quê hương, về người chiến sĩ, vừa dung dị, đời thường, vừa tha thiết, nhẹ nhàng, tràn ngập tình yêu thương. Bài hát này vừa với tông giọng của chị Thuận, phô được chất giọng nội lực, sâu lắng cùng với sự nỗ lực sáng tạo, lao động nghệ thuật nghiêm túc của cả ê kíp sản xuất, trong đó chị Thuận là hạt nhân trung tâm đã đem đến thành công tốt đẹp cho MV “Chiếc khăn của mẹ”. Hy vọng rằng, tác phẩm này không chỉ dành tặng cho những người mẹ, những người chiến sĩ và cá nhân NSƯT Nhật Thuận, mà nó còn lan tỏa, chạm tới trái tim của tất cả mọi người vì trong mỗi chúng ta ai cũng có mẹ thành kính, ai cũng có quê hương. Cũng với mạch nguồn ấy, NSƯT Nhật Thuận đã cho ra mắt CD với tên gọi “Quê hương và người lính” bao gồm các ca khúc: Mãi mãi Việt Nam - sáng tác Phó Đức Phương (song ca cùng ca sĩ Tùng Dương); các tác phẩm của Nhạc sĩ Xuân Trí như Hải Phòng ấm lòng tình quê, Đông nhạc Đế bà, Về Hà Nam nghe anh, Hải Hậu ngày trở về, Chuyện xưa mẹ kể và các tác phẩm Thành phố Hoa phượng đỏ - lời thơ Hải Như, nhạc Lương Vĩnh; Em có về Hải Phòng – thơ Vũ Trọng Thái, nhạc Quang Hiển; Hành trang người lính em mang – sáng tác Trần Minh Thăng; Hải Phòng quê hương tôi – sáng tác Xuân Bình (song ca cùng NSƯT Việt Hoàn). Có thể nói với chủ đề “Quê hương và người lính”, NSƯT Nhật Thuận muốn gửi gắm thông điệp, muốn nhân thêm tình yêu quê hương, đất nước trong mỗi người chiến sĩ. “25 năm đã trôi qua, kể cũng nhanh thật anh ạ! Mới ngày nào vẫn còn là một cô bé mang ước mơ trở thành người chiến sĩ, giờ đã là lớp người đi trước của các cháu diễn viên trẻ ở Đoàn nói riêng, của lớp chiến sĩ mới hôm nay nói chung. Là người nghệ sĩ chiến sĩ, em luôn tâm niệm rằng, dù tuổi đã không còn trẻ nữa nhưng với đam mê, với tình yêu nghề nghiệp và tình đồng chí, đồng đội, em vẫn sẽ cháy hết mình với ca hát. Em vẫn thường nói với các đồng nghiệp rằng hãy hát, hãy diễn bằng trái tim, luôn đánh thức sự tìm tòi, sáng tạo để làm mới chính mình vì phía trước chúng ta luôn là bầu trời” - NSƯT Nhật Thuận chia sẻ. Là người con của mảnh đất “ăn sóng nói gió” này (Ngọc Sơn, Kiến An, Hải Phòng), ngay từ hồi còn nhỏ NSƯT Nhật Thuận đã đam mê ca hát, tham dự tất cả các hoạt động văn nghệ của trường, luôn đóng vai trò Quản ca trong nhiều năm liền. Năm học lớp 11 trường THPT Kiến An, cô tham gia cuộc thi Giọng hát Hoa phượng đỏ của thành phố đoạt Huy chương Vàng cho tiết mục đơn ca. Năm lớp 12, trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Hải Phòng tới trường tư vấn tuyển sinh đầu vào, Nhật Thuận trúng tuyển ngay từ vòng đầu. Sau khi tốt nghiệp THPT cô vào học trường này luôn. Học hết học kỳ 1 trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật Hải Phòng, Nhật Thuận nhận lời chú Trần Cường (Đoàn trưởng Đoàn Văn công Quân khu 3) tham gia Hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quân năm 1995. Tại Hội diễn này cô đoạt Huy chương Vàng đơn ca. Lúc đó, chú Cường đề nghị cô về Đoàn công tác và tạo điều kiện cho đi học tại trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Quân đội (nay là Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội). 25 năm gắn bó với Đoàn, Nhật Thuận gặt hái được nhiều thành công, được đánh giá bằng nhiều huy chương vàng ở các hội diễn, nhưng những chuyến lưu diễn đến với người lính đảo tại quần đảo Trường Sa và nhiều đảo khác, những địa danh của 9 tỉnh trên địa bàn Quân khu 3. Ở mỗi nơi đến, Thuận đều cố gắng để lại trong trái tim mỗi người những tình cảm chân thành, sâu lắng, sự sẻ chia và cả niềm mong mỏi mọi người cùng vượt qua mọi khó khăn thường nhật, vươn lên trong cuộc sống, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Và ở thời điểm Xuân đang gõ cửa mọi nhà, tôi vẫn thấy Thuận cùng cả Đoàn đang chuẩn bị những chuyến đi lưu diễn phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nơi hải đảo, biên giới và những vùng sâu, vùng xa. Hát trên trận địa, hát trên mâm pháo, hát trên dải đường tuần tra biên giới hay trên những boong tàu… luôn là những giây phút hạnh phúc, cảm thấy mình làm được một điều gì đó dù rất nhỏ nhưng góp phần canh giữ sự bình yên cho đất nước đón xuân về”. Nhật Minh

Bí quyết luyện giỏi ở đơn vị "chân đồng, vai sắt"

Phát huy truyền thống của bộ đội pháo binh “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”, những năm qua Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn 454 (quân khu 3) luôn chủ động khắc phục khó khăn, đề ra nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt,qua đó nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, SSCĐ. Từ năm 2018 đến nay,Lữ đoàn có nhiều năm đạt “Đơn vị huấn luyện giỏi”. Những ngày vừa qua nắng mưa thất thường nhưng trên thao trường huấn luyện, các chiến sĩ khẩu đội pháo lựu 105mm thuộc Đại đội 6, Tiểu đoàn 2 (Lữ đoàn 454) vẫn tích cực tham gia luyện tập nội dung “Chiếm lĩnh và làm công tác chuẩn bị chiến đấu tại trận địa được chuẩn bị trước”. Mặc dù thời tiết khắc nghiệt, phải vận hành vũ khí, khí tài nặng, thao tác khó nhưng qua quan sát bộ đội tập luyện chúng tôi thấy các chiến sĩ đều tập trung cao độ, nắm chắc và thực hiện thuần thục yếu lĩnh động tác theo chức trách, nhiệm vụ được phân công. Sâu sát theo dõi, hướng dẫn và tích cực sửa tập cho bộ đội, Thượng úy Nguyễn Minh Tuấn, Phó đại đội trưởng Đại đội 6 (Tiểu đoàn 2) cho biết: “Quá trìnhtổ chức huấn luyệntoàn diện tuy nhiên chúng tôi yêu cầu các phân độikhi bước vào luyện tập sẽđi sâu về kỹ thuật chuyên ngành pháo binh. Trong đó các đơn vị tăng cường hợp luyện giữa bộ phận đài quan sát và trận địa bắn sao cho phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp. Sau mỗi buổi tập chúng tôi tiến hành kiểm tra để đánh giá thực chất kết quả huấn luyện đến từng người, từ đó có biện pháp bồi dưỡng, kèm cặp thêm”. Trò chuyện với các pháo thủ tại trận địa chúng tôi được biết đặc thù tác chiến của bộ đội pháo binh chỉ cần “sai một ly, đi một dặm” nên thao tác của từng cá nhân đòi hỏi phải hết sức chuẩn xác. Tuy nhiên muốn hình thành kỹ năng, kỹ xảo khi sử dụng vũ khí, khí tài thì bên cạnh nắm chắc lý thuyết,các pháo thủ phải tăng cường thời gian để luyện tập thực hành. Ngoài ra các pháo thủ phải biết hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong quá trình vận hành và sử dụng pháo. Trung sỹ Hoàng Anh, Khẩu đội trưởng thuộc Trung đội 2, Đại đội 6 chia sẻ:“Chỉ huy yêu cầu chúng tôiphải giỏi công việc của mình và biết hành động của các số khác trong khẩu đội để sẵn sàng thay thế khi cần thiết. Điều này không chỉ giúp các số hiệp đồng với nhau tốt hơn mà còn nâng cao khả năng tác chiến cho khẩu đội trước những tình huống phức tạp, cấp bách”. Tác chiến pháo binh có sự tham gia của nhiều chuyên ngành khác nhau như trinh sát, kế toán, thông tin, cho nên việc tổ chức huấn luyện được các đơn vị trong Lữ đoàn 454 tiến hành toàn diện, song cũng chuyên sâu đối với từng chuyên ngành, chú trọng rèn luyện nâng cao khả năng phối hợp hiệp đồng giữa các bộ phận, lực lượng. Trung tá Nguyễn Đình Huệ, Phó tham mưu trưởng Lữ đoàn 454 cho biết: “Chỉ huy Lữ đoàn yêu cầu các đơn vị tăng cường thời gian huấn luyện ngoài thao trường, huấn luyện trong điều kiện đêm tối, thời tiết mưa gió, sương mù để bộ đội có điều kiện được rèn luyện sát thực tế. Hằng tuần, hằng tháng các đơn vị tổ chức hội thao đánh giá, rút kinh nghiệm đối với các khoa, mục, qua đây giúp chất lượng huấn luyện ngày càng nâng lên”. Những năm qua Lữ đoàn 454 luôn chủ động làm tốt công tác chuẩn bị về thao trường, bãi tập, bảo đảm đầy đủ vũ khí trang bị, khí tài, mô hình học cụ khi lên lớp. Đặc biệt, đơn vị chú trọng tới công tác tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ trực tiếp tham gia huấn luyện cấp trung đội, đại đội. Kết hợp duy trì chặt chẽ kế hoạch huấn luyện với tăng cường công tác kiểm tra đột xuất của chỉ huy cấp trên; kiên quyết xử lý nghiêm và dừng huấn luyện đối với những đơn vị chuẩn bị sơ sài, không bảo đảm theo yêu cầu bài giảng. Quá trình tổ chức huấn luyện, Lữ đoàn coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu vào các nội dung chuyên ngành pháo binh; gắn huấn luyện cơ bản tại đơn vị với các đợt huấn luyện dã ngoại, diễn tập ngoài thực địa để rèn luyện bộ đội sát thực tiễn chiến đấu. Thượng tá Phạm Huy Lệ, Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn 454 khẳng định: Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp trên của Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn đã góp phần quan trọng vào nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy, chỉ huy và đội ngũ cán bộ các cấp đối với công tác huấn luyện. Những năm gần đây chất lượng huấn luyện, nhất là đối với nội dung chuyên ngành pháo binh có nhiều chuyển biến tích cực và ngày càng vững chắc. Kiểm tra kết thúc các khoa, mục có 100% đạt yêu cầu, tỷ lệ khá, giỏi chiếm trên 80%. Đơn vị tham gia diễn tập và phối hợp cùng các đơn vị trong lực lượng vũ trang Quân khu tham gia diễn tập thực binh có bắn đạn thật đạt kết quả tốt, được cấp trên đánh giá cao. Điều này đã góp phần vào nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng SSCĐ của đơn vị, xây dựng Lữ đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trường - Thanh

Tọa đàm, khảo sát xây dựng Luật Phòng không nhân dân

Chiều 11/8, Ban chỉ đạo (BCĐ) Phòng không nhân dân (PKND) tỉnh Quảng Ninh tổ chức hội nghị tọa đàm, khảo sát xây dựng Luật PKND. Thiếu tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Soạn thảo Luật PKND Bộ Quốc phòng và đồng chí Bùi Văn Khắng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo PKND tỉnh Quảng Ninh đồng chủ trì buổi tọa đàm. Cùng dự có Thiếu tướng Lê Văn Long, Phó tư lệnh Quân khu, lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng, Quân khu và tỉnh Quảng Ninh. Tại buổi tọa đàm, Ban chỉ đạo PKND tỉnh Quảng Ninh đã báo cáo kết quả thực hiện công tác PKND trên địa bàn; đại diện đoàn khảo sát Luật PKND của Bộ Quốc phòng báo cáo tóm tắt dự thảo Luật PKND, gồm 8 chương, 47 điều, trong đó quy định về nguyên tắc, chính sách xây dựng, huy động, hoạt động PKND; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân đối với PKND. Dự thảo Luật PKND được xây dựng trên cơ sở 5 chính sách lớn: Xây dựng lực lượng PKND; huy động, hoạt động lực lượng PKND; quản lý tàu bay không người lái và các phương tiện bay siêu nhẹ (flycam); quy định các biện pháp bảo đảm an toàn phòng không; nguồn lực, chính sách bảo đảm đối với công tác PKND. Tham luận tại hội nghị, các đại biểu đã phân tích, làm sâu sắc thêm những nội dung cần góp ý, bổ sung cho dự thảo Luật PKND như: cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn để ban hành luật; bố cục, nội dung; tổ chức, xây dựng, huy động lực lượng PKND; huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, diễn tập PKND; chế độ, chính sách đối với lực lượng PKND… Phát biểu tại hội nghị, Thiếu tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Soạn thảo Luật PKND Bộ Quốc phòng ghi nhận và tiếp thu các ý kiến tham luận của các đại biểu dự hội nghị; đồng thời yêu cầu đoàn khảo sát và các cơ quan liên quan quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết đại hội Đảng các cấp về công tác PKND; nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác PKND. Cơ quan chuyên môn nhanh chóng tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Luật PKND trình Quốc hội thông qua để Luật sớm được triển khai thực hiện, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Phạm Hà

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 15 THÁNG 8 NĂM 1948!

         “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là:
Phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”!

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người làm tướng trong quân đội trong buổi nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, họp tháng 8 năm 1948.
Bác đã luận giải tường minh từng phẩm chất của người làm tướng:
     Trí, là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng.
   Tín, là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn nghĩa tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn tự cao.
   Dũng, là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.
   Nhân, là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cảm cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung.
     Liêm, là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống.
     Trung, là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.

Những yêu cầu trên xuất phát từ thực tế khách quan và hoàn toàn phù hợp với quy luật xây dựng và bản chất của quân đội kiểu mới - một quân đội của dân, do dân và vì dân.

Hiểu rõ lời Bác dạy, các thế hệ tướng lĩnh trong quân đội - những người đứng mũi, chịu sào, chịu trách nhiệm trong việc cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng luôn khắc ghi và phấn đấu, rèn luyện. Mỗi vị tướng trong quân đội luôn nhận thức sâu sắc bổn phận phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình; có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; tiêu biểu mẫu mực về tinh thần tự học, tự rèn; mưu lược, biết địch, biết ta; biết phân tích thiên thời, địa lợi, nhân hòa; biết lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông; biết phát huy sở trường, sở đoản của quân mình; hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù…

Trong giai đoạn hiện nay, phẩm chất người sĩ quan cấp tướng trong Quân đội ta tiếp tục được tôi luyện và không ngừng tiến bộ; đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội, nhất là các tướng lĩnh không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh trung nghĩa, thao lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thương yêu cấp dưới, chia sẻ, đồng cam, cộng khổ với bộ đội; quan tâm, giúp đỡ nhân dân, xứng đáng với lòng tin, tình cảm trân trọng của nhân dân với “Bộ đội Cụ Hồ”, với những vị tướng của nhân dân./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỸ & PHƯƠNG TÂY EM NGẠI VÀ VỘI THỨC TỈNH TRUỚC SỨC MẠNH MỚI CỦA NGA!

     Các nhà nghiên cứu chiến tranh và Cựu cố vấn quân sự lầu năm góc nói: màn trình diễn của hàng không vũ trụ (HKVT) Ng.a đã khiến không chỉ M.ỹ mà cả phương Tâ.y ngạc nghiên trước sức tấ.n cô.ng hiệu quả của lực lượng HKVT Ng.a, điều mà trước đó M.ỹ & phương Tâ.y đánh giá thấp, có phần chủ quan.

Rõ ràng chiến trường Ukrlà nơi thử nghiệm máy bay không người lái (UAV) công nghệ cao, thích nghi nhanh chóng với diễn biến & thay đổi cuộc chơi của hai bên. 

M.ỹ & phương Tâ.y thức tỉnh: Lực lượng HKVT Ng.a là lực lượng phòng thủ quốc gia thực sự, trái ngược với lực lượng không quân tấ.n côn.ng và hoạt động tiền phương mà M.ỹ có.
Sức mạnh HKVT Ng.a phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trên không, trên biển và trên đất liền, tạo thành hệ thống tác chiến cực kì chặt chẽ & hiệu quả. Điều này trái ngược với M.ỹ & N.ato không quân lại tìm cách thống lĩnh bầu trời và cạnh tranh với Lực lượng lục quân và hải quân trên biển.

* Truyền Thông M.ỹ bị kích động bởi UAV, trực thăng Ka52 hiện đại và có năng lực, cũng như Su27 hiệu quả của Ng.a trong nhiệm vụ phòng thủ, tấ.n cô.ng thích hợp với mọi chiến trường. 

* Máy bay không người lái LAISEK được sử dụng bởi bộ binh mặt đất như một lực lượng thay đổi cuộc chơi lớn ở Ukr, nhờ hiệu quả, độ chính xác, phá hủy thiết bị mới nhất của M.ỹ & N.ato như pháo M777 và xe tăng Leopak.
   
* Cùng với chiến thuật gây rối trên không của không quân Ng.a ...lực lượng HKVT N.ga đã tạo thành thế trận liên kết chặt, phản ứng nhanh, tác chiến hiệu quả.
  
* Bộ QP M.ỹ đánh giá thấp chiến dịch phản công của Ukr (chưa muốn nói là thất bại toàn diện) trong nỗ lực đưa ra nhưng kém ý tưởng. 

Các lực lượng Ukr đang từ bỏ chiến thuật do M.ỹ huấn luyện vì tỏ ra không hiệu quả. 
Lầu năm góc đánh giá đây sẽ là một thách thức lâu dài đối với quân đội Ukr, sẽ làm cạn kiệt nguồn cung cấp đạn dược cho nước này. 
* Trên chiến trường Ukr, xuất hiện máy đào hào BTM3 của Ng.a, có thể đào sâu 1,5m, rộng 0,9m, dài gần 800m trong một giờ. Thực ra Ng.a đã sử dụng đào hàng trăm km chiến hào từ mùa xuân 2022.
* Ng.a đang đẩy mạnh sử dụng và sản xuất hàng loạt tên lửa hành trình KH50 tầm bắn 1500km vào mùa thu 2023 này vì nó vừa rẻ, nhẹ và hiệu quả, nó tránh được ra đa, tên lửa của đối phương. 
* Các chuyên gia QS M.ỹ & phương Tâ.y cho rằng hiệu quả phản công của Ki.ev là không đáng kể, vũ khí của M.ỹ và các đồng minh phương Tâ.y không thể giúp Ukr thay đổi cục diện thực địa trên cơ sở huấn luyện vội vàng theo tiêu chuẩn của N.ato./.
Yêu nước ST.

HỌC BÁC THƯỜNG XUYÊN, THỰC CHẤT


Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được Ban Chấp hành Trung ương Đoàn và tổ chức đoàn các cấp xác định là nội dung quan trọng trong cụ thể hóa, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Với phương châm "thường xuyên và thực chất" cùng cách làm linh hoạt, phù hợp với xu thế phát triển, tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, việc học tập và làm theo tấm gương của Bác giai đoạn 2021-2023 trong toàn đoàn và tuổi trẻ cả nước ghi dấu bằng nhiều công trình, phần việc thiết thực.
Số hóa, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục
Để triển khai thực hiện hiệu quả thì việc quan trọng trước tiên là làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhận thức rõ điều đó, đoàn, hội, đội các cấp tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị để giới thiệu những nội dung cốt lõi, chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với nhiều hình thức phong phú: Triển lãm hình ảnh về cuộc đời, sự nghiệp của Bác; triển lãm theo chuyên đề “Bác Hồ với thanh niên”, “Bác Hồ với thiếu nhi”; các diễn đàn, tọa đàm, cuộc thi tìm hiểu; tổ chức gặp gỡ nhân chứng lịch sử, cá nhân điển hình được gặp Bác. Từ năm 2021-2023, có 34.423 diễn đàn, tọa đàm về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được tổ chức với gần 1,9 triệu lượt cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia; 45.208 mô hình, ý tưởng, cách làm sáng tạo, hiệu quả trong học tập và làm theo gương Bác được tuyên dương, nhân rộng.
Trong công tác tuyên truyền, xuất hiện những đơn vị có cách làm sáng tạo hoặc kiên trì những mô hình hoạt động hiệu quả. Tiêu biểu như, Thành đoàn TP Hồ Chí Minh xây dựng chuyên trang “Học tập và làm theo lời Bác” trên mạng xã hội Facebook, ra mắt “Thư viện sách điện tử về Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Thành đoàn Hà Nội tổ chức cuộc thi tìm hiểu về các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban Thanh niên Quân đội tổ chức cuộc thi sáng tác video clip “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tỉnh đoàn Nghệ An chú trọng tuyên truyền nhân rộng gương cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên làm theo lời Bác với tinh thần đổi mới, vươn lên làm giàu chính đáng, có tư duy bứt phá...
Căn cứ đặc điểm của từng nhóm đối tượng, các tổ chức đoàn, cơ quan xuất bản của đoàn đã biên tập, phát hành nhiều ấn phẩm, tài liệu về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; những tấm gương anh hùng, liệt sĩ, nhất là anh hùng liệt sĩ trẻ tuổi; giới thiệu những tấm gương người tốt, việc tốt làm theo gương Bác để bồi dưỡng tâm hồn, giá trị sống, lý tưởng cách mạng cho tuổi trẻ. Trung ương Đoàn thường xuyên đăng tải trên các trang mạng xã hội của đoàn để tuyên truyền việc thực hiện thông qua các công cụ như phim ngắn, infographic, trailer..., tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút sự quan tâm của cán bộ đoàn, đoàn viên, thanh niên và nhân dân tìm hiểu, nghiên cứu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ năm 2021 đến 2023, có 9.123 tin, bài viết trên báo Trung ương; 69.640 bài viết trên báo tỉnh, trang thông tin điện tử, website của tỉnh đoàn và các đơn vị trực thuộc; gần 1,9 triệu tin, bài viết trên mạng xã hội tuyên truyền các nội dung, hoạt động học tập và làm theo Bác.
Các chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được tổ chức học tập thông qua nhiều hình thức: Hội nghị học tập chuyên đề; hội nghị cán bộ chủ chốt; các cuộc họp cơ quan, đơn vị; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền; đưa vào nội dung sinh hoạt chào cờ đầu tuần, tọa đàm, hội thảo, giao lưu, trong đó phổ biến là đưa vào nội dung sinh hoạt chi đoàn. Qua 3 năm triển khai học tập, có 995.252 lượt cán bộ đoàn; hơn 15,5 triệu lượt đoàn viên, thanh niên tham gia; 55.060 tủ sách “Bác Hồ với thanh thiếu nhi” được bố trí tại các trường tiểu học với hơn 5,6 triệu cuốn sách về Bác để thanh thiếu nhi thường xuyên nghiên cứu, học tập.
Các cuộc thi tìm hiểu về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng, lịch sử đất nước tiếp tục được duy trì, đổi mới nội dung và phương thức tổ chức, nâng cao chất lượng, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên trên nhiều lĩnh vực tham gia. Tiêu biểu như Hội thi tìm hiểu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “Ánh sáng soi đường” sau 4 lần tổ chức, thu hút sự tham gia của gần 1,2 triệu thí sinh...
Mô hình hoạt động của hơn 2.000 Câu lạc bộ “Lý luận trẻ” trong cả nước từng bước đem lại hiệu quả tích cực với hơn 5.000 buổi sinh hoạt được tổ chức bằng nhiều hình thức sinh động, tập hợp các đoàn viên yêu thích tìm hiểu các môn khoa học về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy các thành viên câu lạc bộ trở thành tuyên truyền viên tích cực phục vụ công tác giáo dục chính trị của đoàn, tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, t.h.ù đ.ị.c.h.
Tổ chức đoàn, hội, đội các cấp ngày càng chú trọng, chủ động cung cấp thông tin qua mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hiện đại; tích cực, chủ động lập các fanpage để thông tin, tuyên truyền và kết nối hoạt động của tổ chức tới đoàn viên, thanh thiếu nhi, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng.
Với những cố gắng cùng cách làm sáng tạo trong tiến hành tuyên truyền, giáo dục, nhận thức của đội ngũ cán bộ đoàn và đoàn viên, thanh thiếu nhi với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được nâng lên. Học và làm theo lời Bác dần trở thành việc làm thường xuyên, liên tục, tự giác, thực chất trong số đông thanh thiếu nhi.
“Làm theo” thông qua phong trào hành động cách mạng
Nhằm tạo môi trường, động lực để đoàn viên, thanh thiếu niên phấn đấu học tập và làm theo gương Bác, toàn đoàn tổ chức sâu rộng các phong trào hành động cách mạng, trở thành phương thức triển khai thiết thực và mang lại hiệu quả cao.
3 phong trào được toàn đoàn tập trung thực hiện: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” và 3 Chương trình: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”; “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”.
Qua 3 năm triển khai, toàn đoàn thực hiện 210.459 công trình, phần việc thanh niên với tổng trị giá 5.943 tỷ đồng. Các tổ chức đoàn cấp xã thực hiện thắp sáng 2.507km và làm mới 2.866km đường giao thông nông thôn, xây dựng 6.340 tuyến đường nông thôn kiểu mẫu, làm mới 723 căn nhà với tổng trị giá 560 tỷ đồng. Hơn 10.000 sáng kiến, giải pháp của tuổi trẻ được đề xuất, áp dụng thực hiện trong công tác, phục vụ nhân dân. Cùng với đó, tổ chức 19.777 hoạt động tuyên truyền về biển, đảo; thực hiện 4.441 công trình thanh niên nơi biên giới, hải đảo; hỗ trợ, giúp đỡ 31.449 gia đình cán bộ, chiến sĩ; 558.015 học sinh, sinh viên được trao học bổng với tổng kinh phí hơn 700 tỷ đồng. Tổ chức đoàn hỗ trợ thành lập mới và duy trì hoạt động của 5.059 câu lạc bộ thanh niên khởi nghiệp, 7.956 lớp đào tạo nghề với sự tham gia của 169.812 thanh niên; 20.015 hoạt động giáo dục kỹ năng thực hành xã hội với gần 2,7 triệu lượt thanh niên tham gia...
Các nội dung học tập và làm theo gương Bác được cụ thể hóa trong những hoạt động tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, an sinh xã hội, thu hút gần 8 triệu lượt đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức trẻ, thầy thuốc trẻ, nhà khoa học trẻ, thanh niên Việt Nam ở nước ngoài tham gia trong 3 năm qua, với các Chương trình tiêu biểu: “Tình nguyện mùa Đông”; “Xuân tình nguyện”; “Tháng Thanh niên”; “Chiến dịch thanh niên tình nguyện Hè”; “Tiếp sức mùa thi”; “Tiếp sức đến trường”; “Tiếp sức lao động trẻ”; “Tiếp sức người bệnh”; “Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng”; hiến máu tình nguyện, đền ơn đáp nghĩa... Thông qua các hoạt động, tinh thần tình nguyện ngày càng trở thành nét đẹp, một phẩm chất đặc trưng, nổi bật của tuổi trẻ, được xã hội ghi nhận.
Các phong trào trong từng khối đối tượng thanh thiếu nhi tiếp tục có bước phát triển, tạo môi trường tốt để tuổi trẻ phấn đấu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, như: “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới” tập trung trong thanh niên nông thôn; “Tuổi trẻ chung tay xây dựng văn minh đô thị” trong thanh niên đô thị; “4 nhất” trong thanh niên công nhân; “Ba trách nhiệm” trong thanh niên công chức, viên chức; “Thanh niên Quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thanh niên Quân đội...
Việc học tập và làm theo gương Bác không chỉ được thực hiện trong toàn đoàn mà còn được triển khai trong tất cả tổ chức hội do đoàn làm nòng cốt, định hướng chính trị và phụ trách, như: Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam triển khai Phong trào “Học tập và hành động theo tấm gương đạo đức của Bác”, tiếp tục chỉ đạo các tổ chức hội và hội viên hưởng ứng Cuộc vận động “Thanh niên học tập, làm theo lời Bác, sống đẹp, sống có ích vì cộng đồng”; đồng thời tiếp tục thực hiện Phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” với các nội dung thiết thực, ý nghĩa. Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam triển khai Cuộc vận động “Sinh viên Việt Nam làm theo lời Bác”. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tiếp tục thực hiện Cuộc vận động “Thiếu nhi Việt Nam thi đua làm theo 5 điều Bác Hồ dạy” bằng nhiều hoạt động ý nghĩa, như: Hội thi “Chúng em kể chuyện Bác Hồ”, xây dựng tủ sách “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nhi với Bác Hồ”; Cuộc thi “Áng tem thư kể chuyện Bác Hồ”, xây dựng video ca nhạc “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng”...
Bên cạnh các hoạt động, chương trình định kỳ và theo đợt, Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè được triển khai với 1 chương trình và 4 chiến dịch tạo sự chuyển động mạnh mẽ trong các tổ chức đoàn và đoàn viên, thanh niên; cách thiết kế nội dung dễ tiếp cận và triển khai phù hợp với khối đối tượng là điều kiện quan trọng để phong trào phù hợp với nhu cầu thiết thân của người trẻ, gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương.
Theo lãnh đạo Trung ương Đoàn, các phong trào, chương trình đáp ứng nhu cầu thiết yếu của thanh niên và yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, được các bạn trẻ đón nhận, tham gia tích cực, góp phần phát triển bản thân toàn diện, phát huy tốt vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời khẳng định vai trò của đoàn trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên. Sự phát triển của các phong trào hành động cách mạng về “chất” và “lượng” là minh chứng sinh động của tinh thần không ngừng học tập, làm theo gương Bác của tuổi trẻ hôm nay./.
Báo QĐND

 Một số nhận thức về hệ giá trị văn hoá

1. Giá trị, hệ giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với tự nhiên, xã hội, sự sáng tạo này là liên tục và đến lượt mình - hệ giá trị văn hoá - lại trở thành yếu tố cơ sở, nền tảng, chuẩn mực chi phối phương châm, triết lý sống cũng như từng hành vi của con người. Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của hệ giá trị văn hoá.

Giá trị, hệ giá trị văn hoá được hình thành trên cơ sở học (văn hoá hoá), con người được dạy bằng nhiều con đường khác nhau và thông qua trải nghiệm trực tiếp của các cá nhân. Các cá nhân nhập tâm hoá hệ giá trị thông qua việc học/trải nghiệm này và các giá trị khi được nhập tâm trở thành tập tính (hành động, lựa chọn…) mà không phản tư tại sao lại hành động/lựa chọn như vậy, ví dụ như thắp hương ngày rằm, mùng một; mời nhau trước khi ăn cơm, dùng đũa khi ăn... 

Với cách hiểu như vậy, giá trị, hệ giá trị văn hoá có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hiện thực hoá mục tiêu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; “Xây dựng hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” mà Đảng ta đã đề ra.