Thứ Sáu, 29 tháng 9, 2023

TỰ DO, DÂN CHỦ ĐÚNG MỨC

 

        Xã hội Việt Nam ngày nay có nhiều người lầm tưởng rằng, môi trường internet, mạng xã hội là môi trường dân chủ vô hạn độ, người ta muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết... mà không phải chịu trách nhiệm. Đó là một sai lầm rất nguy hiểm, vì suy nghĩ như vậy không khác nào coi môi trường internet, mạng xã hội là một môi trường vô luật pháp. Không ít người đã vi phạm pháp luật bị xử lý, thậm chí bị xử lý hình sự vì những phát ngôn xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước; vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trên internet và bị quy vào tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Bộ luật Hình sự. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào, các quyền dân chủ đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.   

          Cũng như vậy, quyền tự do báo chí của công dân được Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, quyền tự do đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Điều 10, Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ: “Quyền tự do báo chí của công dân bao gồm: “1.Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.Cung cấp thông tin cho báo chí; 3.Phản hồi thông tin trên báo chí; 4.Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Điều 9 của Luật Báo chí quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, ví dụ như: “Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý; Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc...; Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...; Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy...”.

          Ngày nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trước hết nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam còn là một môi trường hòa bình, ổn định, có quan hệ ngoại giao hữu nghị với các nước, đấu tranh vì tiến bộ trên thế giới. Vừa qua, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần tái cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 rất thành công, cho thấy uy tín cao của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Những thực tế khách quan đó cho thấy bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là một xã hội dân chủ, vì con người, và không có luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận./.

HIỂU ĐÚNG VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH KINH TẾ TƯ NHÂN

 

        Đảng ta đã khẳng định, trong nền kinh tế Việt Nam, kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quan điểm chỉ đạo nhất quán xuyên suốt của Ðảng kể từ Ðại hội VIII đến nay. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Thực tế này đòi hỏi cần có sự quán triệt sâu sắc, nhận thức khách quan, đúng đắn ngay từ mỗi người dân một số vấn đề về vai trò của kinh tế nhà nước ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay như sau:

        Trước hết, cần khẳng định kinh tế nhà nước không đồng nhất với doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế (bao gồm các yếu tố thuộc sở hữu nhà nước và các yếu tố thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nước được giao quyền đại diện chủ sở hữu) do nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành. Ngoài doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước còn có các yếu tố khác thuộc sở hữu nhà nước như tài nguyên quốc gia, ngân hàng nhà nước, ngân sách, quỹ dự trữ quốc gia...  

        Thứ hai, việc xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là sự định hướng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm thực hiện các mục tiêu của tiến trình phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà còn cho thấy sự khác biệt lớn của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Ðó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Kinh tế nhà nước chính là "công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường", bảo đảm cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

        Thứ ba, không thể chỉ dựa vào việc một số doanh nghiệp tư nhân kinh doanh hiệu quả để kết luận rằng kinh tế tư nhân mới xứng là chủ đạo.

       Thứ tư, Nhà nước luôn coi trọng "tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp", bảo đảm "thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế"   

         Nắm được những vấn đề có tính bản cản chất nêu trên, có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đúng đắn, phù hợp với điều kiện của nước ta và là tiêu chí quan trọng bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay. 

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - CON ĐƯỜNG DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN

 

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Song, Đảng và Nhân dân ta vẫn kiên quyết một lòng hướng đến chủ nghĩa xã hội.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Luận cương chính trị tháng 10-1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

          Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam": “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

          Đây chính là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

PHÒNG CHỐNG THÔNG TIN "RÁC" TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

        Thông tin "rác" trên không gian mạng xuất phát từ những điệu của những đối tượng phản động lưu vong. Thông tin "rác" làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ. Hầu hết những đối tượng phản động lưu vong đều có lai lịch chẳng hay ho gì. Chẳng hạn, Đường Văn Thái, từng có thời gian lao động hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai và Giải phóng mặt bằng thuộc UBND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội. Dù đã qua đào tạo, có kiến thức chuyên môn nhưng do ý thức rèn luyện, phẩm chất đạo đức kém nên Thái không được tuyển dụng. Tính tự cao, tự đại, tự huyễn hoặc bản thân khiến Thái bất mãn, đưa chân vào con đường chống đối chính quyền Nhà nước. Được các thế lực thù địch lôi kéo, Thái ngày càng lún sâu vào vũng bùn đen tối. Năm 2019, Thái trốn ra nước ngoài, trở thành con rối lưu vong. Cuộc sống khó khăn khiến Đường Văn Thái bất chấp đạo lý, tận dụng mớ kiến thức lỗ mỗ, lên MXH kiếm ăn bằng những trò lố.

          Những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng MXH không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu.

          Không chỉ là những đối tượng được cho là “có học” thì Trương Quốc Huy chỉ là một tên côn đồ, trình độ văn hóa lớp 7, từng có tiền án tiền sự, đang sống lưu vong tại Mỹ. Dù trình độ ở mức “viết câu văn chưa sạch nước cản” nhưng được tổ chức khủng bố Việt Tân dung nạp, Trương Quốc Huy lập tài khoản N10TV, liên tục thực hiện các video, khua môi múa mép xuyên tạc tình hình đất nước với thái độ lố bịch. Với những trò vô văn hóa đó, Trương Quốc Huy bị ngay kiều bào yêu nước tại Mỹ gọi là “kẻ tâm thần chính trị”. Thực tế là ở nước ngoài hiện nay tồn tại khá nhiều đối tượng đã và đang bị các thế lực thù địch biến thành con rối kiểu như Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài...

          Chính vì thế, với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, công chúng yêu nước cần tỉnh táo nhận diện thật-giả, trắng-đen... trên không gian mạng để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn. Không gian mạng như một khu vườn mênh mông. Hoa thơm trái ngọt, mình góp sức chăm bẵm để cùng hưởng thụ! Cỏ dại, rác rưởi thì dứt khoát phải nhổ bỏ, dọn sạch./.

 BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA NHÀ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH (P1)

Tại sao trong cùng hoàn cảnh lịch sử, nhiều người Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình đối với Tổ quốc và đồng bào. Từ góc nhìn chính trị học, bài viết phân tích, luận giải các sự kiện và minh chứng lịch sử, làm rõ bí quyết thành công của nhà chính trị Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giành lại độc lập dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam.
TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC TRÊN NỀN TẢNG TƯ DUY MỚI
♦️ Thứ nhất, không theo con đường cũ của những bậc tiền bối.
Trước sự thất bại của các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược (từ năm 1958 đến những thập niên đầu thế kỷ XX), nhiều người Việt Nam trăn trở tìm chọn, thử nghiệm con đường giành độc lập cho dân tộc và một số người đi ra nước ngoài mong tìm sự giúp đỡ của chính phủ các nước cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm(1). Sự khủng hoảng về con đường cứu nước và sự thất bại của các phong trào đấu tranh lúc này đã phản ánh sự bất lực của những “kịch bản” cứu nước theo con đường “cải lương”, “bạo động”, “cầu viện” ngoại bang…
Trong bối cảnh đó, nhận thức được yêu cầu lịch sử, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước(2). Từ kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh những năm qua cho thấy, ngay từ lúc rời Tổ quốc ra đi, nền tảng tư duy chính trị của Nguyễn Tất Thành khác cơ bản với những người yêu nước đương thời. Một trong những biểu hiện tư duy mới là “trong lúc những thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi say sưa với phong trào Đông Du sang Nhật Bản thì Hồ Chủ tịch đã khước từ sự lựa chọn của Phan Bội Châu đối với mình và rời Tổ quốc ra đi về phía Tây”(3); nhận thức của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc về thế giới và đối tượng của cách mạng Việt Nam cũng trên lập trường và quan điểm mới so với các nhà yêu nước khác. Người không ảo tưởng trông chờ sự giúp đỡ từ các nước đế quốc thực dân. Trong một bức thư gửi những người bạn cùng làm việc trong toà báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta”(4).
Dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành đã nhận ra những hạn chế của họ trong việc xác định nhiệm vụ lịch sử, mục tiêu, đối tượng cách mạng; nhận ra những hạn chế về phương thức, phương pháp đấu tranh, về nhận thức “bạn - thù” của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam. Do đó, Nguyễn Tất Thành đến nước Pháp không phải để cầu viện hay cầu học, mà “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Một sự khác biệt lớn giữa Nguyễn Ái Quốc với các nhà yêu nước lúc đó là xác định phương pháp cách mạng không phải là “bạo động” hay “cải lương” mà “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6). Như vậy, trên nền tảng tư duy mới, Nguyễn Ái Quốc đã xác định phương hướng hành động và phương pháp hành động cách mạng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Như vậy, “Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử, Anh đã thấy rõ con đường của các bậc cha anh là cũ kỹ, không đem lại kết quả, Anh phải đi tìm một con đường mới”(7).
♦️ Thứ hai, cứu nước trên nền tảng tư duy chính trị thực tiễn.
Tìm đến văn minh Phương Tây (trong lúc chủ trương “Hướng Đông” đang rất phổ biến) là lựa chọn có tính bước ngoặt thể hiện “sự nhạy cảm chính trị” đặc biệt. Nguyễn Tất Thành kể lại “Vào trạc tuổi 13 lần đầu tiên tôi được nghe những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái - đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng được coi là người Pháp - thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp”(😎.
Nguyễn Tất Thành đến Pháp là để tìm hiểu nước Pháp, để từ đó lý giải về sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Điều này phản ánh tư duy thực tiễn của nhà cách mạng trẻ tuổi: Muốn tìm hiểu tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí thích hợp đánh đuổi chúng.
Khi bàn về con đường cứu nước của Phan Bội Châu, có ý kiến cho rằng, mặc dù Cụ đã nhìn thấy “muốn cứu nước phải có lực lượng, phải xây dựng sự đồng tâm hiệp lực của đồng bào cả nước. Cụ ra sức thức tỉnh mọi người để xây dựng khối đoàn kết dân tộc và cũng thấy rõ năm, mười nghìn tên thực dân không thể nào đương đầu lâu dài với cả một dân tộc đồng tâm nhất trí. Nhưng Cụ không thể nào xốc cả một dân tộc đứng dậy được... Phan Bội Châu cũng đã thấy được tầm quan trọng của sự viện trợ quốc tế, nhưng nếu có thoát khỏi quan niệm đồng văn đồng chủng hoặc đồng bệnh tương liên thì Cụ cũng chưa thể nhìn thấy đâu là lực lượng có thể tranh thủ được. Cụ mong lợi dụng sự mâu thuẫn giữa bọn đế quốc, nhưng chính Cụ và tổ chức yêu nước của Cụ đã bị sự câu kết giữa chúng làm cho khốn quẫn”(9).
Thực tế cho thấy, tư tưởng chính trị của Nguyễn Tất Thành từ lúc còn trẻ và xuyên suốt hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, không phải là sự tiếp tục - tiếp nối tư duy chính trị đương thời để giải quyết vấn đề đặt ra từ những “thất bại” của các nhà yêu nước tiền bối, mà là một hình thái tư tưởng chính trị mới dựa trên nền tảng tư duy chính trị có tính thực tiễn cao. Từ đó hình thành nhiều quan điểm chính trị khác những nhà cách mạng thế hệ trước như: yêu nước gắn liền với thương dân - “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (10); học hỏi các nền văn minh để chống lại hành động xâm lược của các nước văn minh; đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng một xã hội mới, một nhà nước mới tiến bộ và tốt đẹp hơn... Tư duy chính trị mới của Nguyễn Tất Thành là nền tảng, lập trường chính trị để Người thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình và trở thành Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước”(11).

(1) Năm 1886, Tôn Thất Thuyết lên đường sang Trung Quốc cầu viện; Phan Bội Châu với quan niệm “đồng văn đồng chủng” đã đi sang Nhật Bản để cầu viện và tiếp theo là cầu học.
(2) Thời gian này có nhiều trí thức Việt Nam sang Pháp tìm đường cứu nước. Theo báo cáo của Trung ương Đảng Xã hội Pháp, năm 1913 có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng Xã hội Pháp; Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918 (Tạp chí Nghiên cứu Hồ Chí Minh, số 3/2021, tr.12).
(3) (9) Uỷ ban KHXH Việt Nam: Hội nghị khoa học nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, H.1981, tr.32, 127-128.
(4) (5) (10) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, H, 1986, tr.47, 13-14, 55.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.1, tr.209.
(7) Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2003, tr.26
(😎 PGS. TS. Phạm Xanh: Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam (1921-1930), Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2001, tr.14-15.
(11) Katherine Muller-Marin: Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỀ NGHỊ CỬ TRI CẢ NƯỚC LÊN TIẾNG!

         Trước sự lộng hành của hiện tượng "xét lại lịch sử", dư luận Nhân dân đã rất bức xúc. Bên cạnh việc phản ánh trên mạng xã hội, thiết nghĩ các bậc cử tri cả nước, nhất là tại các địa phương có hiện tượng vinh danh các nhân vật gây tranh cãi về "công - tội" (thực chất là tội nặng hơn "công") như: Nguyễn Ánh - Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... hãy lên tiếng kiến nghị, chất vấn tại các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến nền tảng truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc; liên quan đến tương lai, vận mệnh của đất nước, chế độ. Rất mong các bác cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, nhà nghiên cứu, giáo viên, đoàn viên thanh niên và toàn thể những ai tâm huyết với vấn đề bảo vệ lịch sử dân tộc hãy lên tiếng để tâm tư, ý chí, nguyện vọng và bức xúc của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan chức năng. Tôi xin đưa ra một số lập luận sau đây để mọi người tham khảo: 

1. Soi chiếu theo truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc: Những kẻ hèn nhược, đầu hàng ngoại bang, hợp tác với ngoại bang là mắc đại tội BÁN NƯỚC - Muôn đời bị Nhân dân nguyền rủa, không bao giờ rửa sạch hết đại tội này: Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt: Quỳ mọp dưới chân vua Xiêm để xin Xiêm mang quân sang giúp; cầu viện Mãn Thanh, chở gạo ra tiếp viện cho quân Thanh xâm lược nước ta; cầu viện thực dân Pháp, là một trong những nguyên nhân gây ra mối họa ngoại xâm đô hộ trăm năm đầy tủi nhục, lầm than cho dân tộc.. Phan Thanh Giản hèn nhược, đại diện triều Nguyễn ký văn bản nhục nhã, cắt lục tỉnh cho Pháp.... Trương Vĩnh Ký hợp tác với Pháp, cả đời phục vụ quân xâm lược... Những nhân vật này đều đã mắc ĐẠI TỘI BÁN NƯỚC! Nhân dân chưa "đái ngập mồ thối xương" đã là nhân văn lắm rồi, nay hà cớ lôi lên từ mồ sâu đòi tôn vinh?.

2. Soi chiếu theo tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề lịch sử, nhân vật lịch sử được thể hiện rõ nét qua tác phẩm "Lịch sử nước ta" thì Nguyễn Ánh - Gia Long bị đánh giá: "Tự mình đã chẳng có tài/ Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây/ Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà/ Khác gì cõng rắn cắn gà/ Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si". Khoa học gì, ngụy biện kiểu gì cũng khống thể vượt qua lằn ranh đỏ là tư tưởng Hồ Chí Minh - Nền tảng tư tưởng của Đảng.

3. Soi chiếu theo bản chất chính trị, lợi ích chính trị, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Như vậy có thể suy ra, tôn vinh những kẻ bị lịch sử phê phán, mang xú danh bán nước như Nguyễn Ánh - Gia Long là đi ngược lại bản chất chính trị, lợi ích chính trị, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHƯ VẬY: Những tỉnh, thành phố đang có hiện tượng tôn vinh Nguyễn Ánh - Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký và những nhân vật gây tranh cãi khác, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ có nắm được không? Quan điểm để định hướng, chấn chỉnh, uốn nắn hiện tượng này như thế nào? Rất mong Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp cần nghiêm túc quan tâm, lắng nghe dư luận Nhân dân, kiến nghị của cử tri để nghiên cứu, xem xét và nhanh chóng có SỰ CHỈ ĐẠO, ĐỊNH HƯỚNG RÕ RÀNG, QUYẾT LIỆT để chấn chỉnh, uốn nắn, lập lại trật tự, góp phần ổn định dư luận xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; bảo vệ truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.








Yêu nước ST.

CÁI “TÔI” QUÁ LỚN

  


Người có cái tôi quá lớn là người luôn xem mình là nhất, không chịu thua kém bất cứ ai, họ thường không để tâm đến cảm xúc của người khác, không cần biết việc mình làm đúng hay sai, cứ tự hào một cách vô ý thức…


Chính cái tôi quá cao đó sẽ biến họ thành người láo toét, hống hách, coi thường người khác, đến mức ngồi xổm trên cả Luật pháp, trong cái tôi cao đó họ thường coi trọng giá trị bản thân mình hơn giá trị của người khác. 


Họ luôn cho mình là đẹp là sang là đỉnh là chóp, còn người khác không là gì, với họ chỉ nói một lời xin lỗi thôi cũng vô cùng khó khăn. Khiêm tốn mới là đỉnh cao của sự hiểu biết, người càng thành công càng tĩnh lặng, họ biết lắng nghe thấu hiểu lòng người, đó chính là đẳng cấp của phẩm giá.

NHẬN DIỆN VỀ LÒNG TỐT

 


Lòng tốt là những hành động, việc làm cao đẹp xuất phát từ tâm nhằm giúp đỡ người khác, đó là một đức tính quý báu, tình cảm cao đẹp giữa các mối quan hệ trong xã hội. Tuy nhiên cuộc sống phức tạp muôn hình muôn vẻ, giữa tranh tối tranh sáng vàng thau lẫn lộn, chúng ta cũng cần biết cách phân biệt đâu là tấm lòng chân thành đâu là sự giả tạo.


Người tốt thực sự là một người có tâm hồn trong sáng lương thiện, là người đáng tin cậy, khiêm nhường thực tế bộc trực thẳng ngay. Tính cách họ thẳng thắn thật thà nên họ không chê bai nói xấu ai, họ không nâng cao giá trị của bản thân để hạ thấp người khác, ta luôn thấy ở họ sự khiêm tốn bao dung thấu hiểu, biết cảm thông chia sẻ. 


Người thực sự có tấm lòng họ giúp đỡ người khác không toan tính thiệt hơn, đã cho, đã giúp là không bao giờ kể lể. Khi mình giúp đỡ ai mà suốt ngày kể lể thì lòng tốt là có mục đích, giống như kiểu thả con tép để bắt con tôm. Khi lòng tốt giả tạo không đạt được mục đích, họ sẵn sàng trở mặt đòi quà và dĩ nhiên lòng tốt không còn giá trị.


Hà Thanh

DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN: KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM

 


Gần đây, nhiều kẻ phê phán Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm quyền con người, cấm tự do ngôn luận…Với góc nhìn của một thường dân tôi thấy chẳng có gì mà ầm ĩ. 


Này nhé:


- Bạn cứ thoải mái làm bất cứ việc gì bạn thích có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng làm những việc pháp luật cấm ảnh hưởng đến an ninh đất nước và lợi ích của cộng đồng. 


- Bạn cứ nói những gì bạn nghĩ có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng xuyên tạc, bôi nhọ đất nước; xúc phạm nhân phẩm, đời tư của người khác.


- Bạn muốn đi đường nào bạn đi có ai cấm bạn đâu miễn là bạn đừng vượt quá tốc độ, vượt đèn đỏ, đi vô tuyến đường, làn đường pháp luật không cho phép. 


- Bạn muốn đứng đâu là quyền của bạn nhưng bạn không thể đứng trên pháp luật. Pháp luật là tối thượng, mọi công dân phải tuân thủ, bạn cũng không ngoại lệ. 


- Bạn thể hiện quan điểm thế nào trước một vấn đề xã hội quan tâm là quyền của bạn nhưng quan điểm đó phải mang tính xây dựng, hướng về chân thiện mỹ; Không được trái với chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội; phủ nhận máu xương của cha anh mình đã ngã xuống để đất nước có ngày hôm nay.


Đất nước nào cũng vậy, chế độ nào cũng vậy, phải có kỷ cương, phép nước. Đã là công dân phải tuân thủ pháp luật. Dân chủ và nhân quyền không có nghĩa là bạn muốn làm gì thì làm, nói gì thì nói./.


Phan Trung Can

TRANH LUẬN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Trên mạng xã hội, cùng một sự việc, hiện tượng nhưng mỗi người có quan điểm, cách nhìn, cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi, vị trí, trình độ nhận thức và niềm tin xã hội, đó là chuyện bình thường. Mỗi người có lý giải riêng tùy theo góc nhìn và vị trí đứng. Nếu chỉ đứng ở góc nhìn nhỏ hẹp có thể dẫn đến đánh giá thiển cận thiếu khách quan. Đứng ở nhiều góc độ rộng hơn, đặt mình vào vị trí của người trong cuộc chúng ta sẽ có cách nhìn nhân văn, thấu đáo. 


Mạng xã hội bây giờ tràn ngập đủ các loại thông tin không biết đúng, sai, thật, giả. Vì thế, chúng ta phải tìm hiểu kỹ, đối chứng nhiều nguồn thông tin không nên vội vàng quy chụp, đưa ra những nhận định thiếu khách quan, áp đặt quan điểm của mình lên nhận thức của người khác. Cái gì biết thì nói, việc gì không biết thì im lặng, cần có thái độ khiêm tốn, lịch sự, tôn trọng quan điểm khác biệt của nhau khi tranh luận không vì “cái tôi” của mình mà công kích, miệt thị, chửi bới, xúc phạm người khác. 


Mạng xã hội là kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Tham gia mạng xã hội bây giờ không những cần kiến thức, văn hoá, kỹ năng mà còn cần đạo đức và trách nhiệm xã hội của mỗi tổ chức, công dân. Muốn tham gia mạng xã hội, trước hết hãy là người có văn hoá./.


Phan Trung Can

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN BÔI NHỌ, CHỐNG PHÁ LỰC LƯỢNG CAND

 


📍 CAND Việt Nam là “thanh bảo kiếm” sắc bén, “lá chắn thép” vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Với vai trò, chức năng nhiệm vụ phòng, chống các loại tội phạm, lực lượng Công an trở thành mục tiêu mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn hướng tới nhằm xuyên tạc, chống phá.


📍 Thời gian qua, các đối tượng xấu tìm cách bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự và phủ nhận những công lao của biết bao cán bộ, chiến sĩ ngày đêm vất vả bảo vệ sự bình an cho đất nước, cho nhân dân.


📍Hoạt động tuyên truyền chống phá được các đối tượng đẩy mạnh mỗi khi trong ngành Công an phát hiện, xử lý trước pháp luật hoặc kỷ luật những cán bộ, chiến sĩ thoái hóa, biến chất, có sai phạm về đạo đức, tác phong nghề nghiệp, vi phạm quy định của ngành và của pháp luật hiện hành. Đây là thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, họ lợi dụng những bức xúc của dư luận xã hội, kết hợp “ngụy tạo chứng cứ” nhằm tạo ra làn sóng tiêu cực hướng tới công kích, bôi nhọ ngành Công an theo dạng “tát bùn sang ao”.


📍Nếu ví lực lượng Công an như “cây xanh lớn” thì những trường hợp vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật là “cành lá héo”, chỉ mang tính nhỏ lẻ, là hiện tượng xảy ra ở nơi này hay nơi khác. Thế nhưng, bằng cách lập luận xảo trá, cùng những hình ảnh được cắp ghép, chỉnh sửa, các nhà dân chủ giả hiệu đã đánh tráo hiện tượng thành bản chất, cho rằng những sai phạm của cá nhân là “phần nổi của tảng băng chìm”, đánh đồng với tất cả lực lượng CAND. Những bài viết, bình luận dựa vào những sai phạm, hiện tượng tiêu cực của một số cán bộ, chiến sĩ để đẩy thành vấn đề lớn, từ đó kích động tâm lý hiềm khích, thù hằn với lực lượng Công an.


📍Ngoài ra, các đối tượng còn “bới lông tìm vết”, soi mói chuyện đời tư của các cán bộ, chiến sĩ trong ngành Công an, qua đó bồi bút xuyên tạc, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an. 


📍Khi các cán bộ, chiến sĩ Công an lập được những công trạng, thành tích xuất sắc trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, giúp đỡ người dân gặp thiên tai, hoạn nạn, khó khăn… thì các đối tượng tảng lờ. Nhiều vụ trọng án dư luận đặc biệt quan tâm, lực lượng Công an vào cuộc với quyết tâm cao nhất, không ngại hiểm nguy, gian khó, nhanh chóng bắt giữ thủ phạm, làm rõ vụ án, được nhân dân ngợi khen. Để kịp thời ghi nhận, động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia phá án, lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương và cấp ủy, chính quyền có hình thức khen thưởng đột xuất.


📍Đây là việc làm rất cần thiết và không chỉ với lực lượng CAND mà nhiều ngành, lĩnh vực khác cũng có hình thức biểu dương, khen thưởng tương tự. Hình thức khen thưởng này cũng không phải bây giờ mới có và người dân luôn ủng hộ việc động viên, khen thưởng trong những trường hợp như vậy. Thế nhưng, với ý đồ chống phá, nhiều đối tượng vẫn cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, cho rằng phá án là việc của lực lượng Công an, xuất sắc đến đâu cũng không cần khen thưởng!


📍Các đối tượng đã dùng “miệng lưỡi diều hâu” phớt lờ những thành tích đã đạt được hoặc tìm cách phủ nhận những công lao của các cán bộ, chiến sĩ đã không quản khó khăn, hiểm nguy, ngày đêm đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, đem lại sự bình an cho đất nước đúng như tinh thần của khẩu hiệu “thức cho dân ngủ ngon, gác cho dân vui chơi, lấy niềm vui, hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình”.


📍Đất nước ngày nay có được bình yên, an ninh chính trị được ổn định, tội phạm được kiềm chế chính là nhờ công sức của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an cùng sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, sự ủng hộ của nhân dân. Thế nhưng, phía sau sự bình yên, phía sau mỗi chuyên án là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cán bộ, chiến sĩ Công an. Được hưởng thụ thành quả của sự ổn định, yên bình nhưng không phải ai cũng có thể thấu hiểu, sẻ chia những khó khăn, gian khổ, sự hy sinh của “những bàn chân lặng lẽ”, những người tạo nên chiến công thầm lặng nhưng rất đỗi vẻ vang.


📍Theo thống kê, từ ngày 15/12/2021 đến 14/12/2022 có 7 cán bộ, chiến sĩ Công an hy sinh, 120 cán bộ, chiến sĩ Công an bị thương trong khi thi hành công vụ; có 13 cán bộ Công an bị phơi nhiễm HIV. Con số đó cho thấy tính chất khốc liệt, hiểm nguy hàng ngày mà những cán bộ, chiến sĩ CAND đang đối mặt, nhất là trong bối cảnh hoạt động nhiều loại tội phạm diễn ra manh động, sử dụng vũ khí chống trả nguy hiểm. Để có được sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là sự nỗ lực, quyết tâm và cả những hy sinh, mất mát trong thời bình của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND. 


📍Trở lại những sai phạm của một số cán bộ, chiến sĩ Công an thời gian qua, cần phải nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận những khuyết điểm đang tồn tại của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong ngành để kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh. Quan điểm của lãnh đạo Bộ Công an là việc xử lý nghiêm các sai phạm gắn với công tác tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật.


📍Thực tế, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên dù đại đa số cán bộ, chiến sĩ CAND có lập trường tư tưởng vững vàng, chấp hành tốt pháp luật và các nội quy, quy định có liên quan song vẫn xảy ra hiện tượng một số cán bộ, chiến sĩ chấp hành không nghiêm, vi phạm pháp luật, phạm tội.


📍Lực lượng CAND được đào tạo, rèn luyện bài bản, chính quy, tinh nhuệ để trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên” và theo quy luật, những “con sâu làm rầu nồi canh” tất yếu họ bị đào thải và chịu sự trừng phạt của pháp luật về hành vi mình gây ra. Đặc biệt hiện nay, toàn lực lượng CAND đang đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng lực lượng CAND thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.


📍Chính vì vậy, đối với những trường hợp cán bộ, chiến sĩ thoái hóa, biến chất “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật đều bị xử lý theo quy định của ngành Công an và quy định của pháp luật. Điều đó cho thấy rõ quyết tâm của lãnh đạo Bộ Công an trong việc chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, tập trung xây dựng đội ngũ CAND theo tinh thần Nghị quyết 12 của Bộ Chính trị đã đề ra.


📍Trước những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng chống phá, mỗi người cần tỉnh táo, nhận diện các thông tin xấu, độc hại, không để bị lừa bịp, lôi kéo theo chiều hướng tiêu cực. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng cơ hội, các nhà dân chủ giả hiệu sẽ không từ một thủ đoạn nào, tiếp tục công kích, bôi nhọ, hạ uy tín lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng Công an nói riêng.


📍Các đối tượng triệt để sử dụng mạng xã hội phát tán những thông tin xấu, độc hại để gieo rắc, kích động tâm lý hiềm khích trong dư luận. Do đó, mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin, bài viết có nội dung tương tự như trên cần thực hiện theo phương châm “5k” đó là: Không tin ngay; không vội bấm like; không thêm thắt; không kích động và không vội chia sẻ. Hành động đó góp phần ngăn chặn từ sớm, từ xa các thông tin xấu, độc hại và đồng thời, cần thể hiện lý trí, sự hiểu biết để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.


📍Có như vậy, mỗi người dân sẽ trở thành một người chiến sĩ đấu tranh với những cái sai, cái xấu trên mạng xã hội và đó cũng chính là hành động thể hiện sự trách nhiệm của người công dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh, phòng, chống các loại tội phạm, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ danh dự, uy tín của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, CAND nói riêng.

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2023

ĐỀ CAO VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, Đảng ta đã dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tiếp theo tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta nói chung và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(4), “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”(5). Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta và tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta trong thời gian tới.
Xuất phát từ cả những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần chú trọng đến các giải pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và Ban Chỉ đạo 35 các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là yếu tố đóng vai trò tiên quyết đến chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên tuyền, làm cho công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung và hình thức phù hợp, với các điều kiện bảo đảm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là Ban Chỉ đạo 35 từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những cách thức thiết thực, hiệu quả, sáng tạo, ngày càng đi vào thực chất để tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.
Hai là, đổi mới nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với những biến đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn. Xuất phát từ những thay đổi nhanh chóng, khó lường của thực tiễn, nội dung tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay ngoài những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, trọng tâm trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch gắn với bảo vệ những quan điểm, chủ trương, chính sách, sự kiện, sự việc cụ thể và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm “lấy xây làm chính”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Việc đổi mới, cập nhật nội dung tuyên truyền theo hướng này sẽ làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân, trở thành “kim chỉ nam” định hướng cho hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Ba là, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm của từng bộ phận quần chúng nhân dân. Ngoài việc tuyên truyền theo những cách thức truyền thống như quán triệt, học tập nghị quyết, viết tin bài trên báo chí, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Cách thức tuyên truyền cần có sự đổi mới linh hoạt gắn với nhu cầu, thị hiếu và xu hướng của xã hội. Ngoài ra, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các dịp đất nước có các sự kiện chính trị lớn hay trong những thời điểm khó khăn, nhiều thử thách để các dòng thông tin tích cực trở thành chủ lưu, tránh để các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh trận địa thông tin để tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật hòng dẫn dắt, hướng lái dư luận theo ý đồ chống phá. Chú trọng tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả của các thông tin tuyên truyền.
Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước với các hoạt động tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó chú trọng đến việc “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có sơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đẹp đến dư luận xã hội”(6). Do đó, các cơ quan Nhà nước cần xiết chặt cơ chế quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông… trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên, cáo cáo viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”(7). Giải pháp này giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền sẽ truyền tải đúng đường lối, chủ trương của Đảng, tinh thần của Nghị quyết; khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ do yếu kém về năng lực, nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm mà tuyên truyền không đúng, xa rời đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng chạy theo tâm lý đám đông mà bỏ qua tính đảng, tính chính trị trong các hoạt động tuyên truyền nên dễ dàng bị các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, đưa các thông tin tuyên truyền đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.
Sáu là, tiếp tục đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật, xây dựng, phát triển và tăng cường phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh phát triển của truyền thông hiện đại, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhất thiết phải chú trọng đầu tư ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, đẩy mạnh chuyển đổi số để hiện đại hóa các cơ quan, phương tiện truyền thông, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Ngoài lực lượng cán bộ chuyên trách ở ban tuyên giáo các cấp, cần xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, lực lượng xung kích để tạo thành mạng lưới tuyên truyền rộng khắp. Bên cạnh đó các cơ quan tuyên truyền cần có sự phối hợp chặt chẽ để kết nối, lan tỏa những nội dung liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để tạo thành mạng lưới thông tin tuyên truyền tích cực, góp phần “pha loãng”, đẩy lùi các thông tin tiêu cực./.

TỰ DO TÔN GIÁO TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT

Đã từ lâu, trong thực hiện “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Họ thường căn cứ vào việc chính quyền, cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý các cá nhân, tổ chức tôn giáo vi phạm hành chính trên các lĩnh vực như đất đai, xây dựng, môi trường hay vi phạm trong các hoạt động tôn giáo để thông qua một vài trang mạng thiếu thiện chí ở hải ngoại lu loa tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo rằng ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, chính quyền Việt Nam hạn chế, thậm chí đàn áp tôn giáo. Ví dụ như, mới đây, trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” phát video trực tiếp với nội dung xuyên tạc, nói xấu, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp các tổ chức tôn giáo của người dân tộc thiểu số; ngăn cấm quyền tự do tôn giáo của người dân, bắt giữ trái pháp luật các nhà hoạt động chính trị...

Chúng ta chẳng lạ gì cái “điệp khúc” đã cũ mèm này. Dù bằng luận điệu, chiêu thức gì, tinh vi, biến ảo đến đâu đi chăng nữa các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được sự thật, không thể đánh lừa được dư luận.

 Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bảo đảm tự do tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc…”. Tại Khoản 1, Ðiều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp và thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, đáp ứng đầy đủ hơn nguyện vọng và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Chính phủ Việt Nam cũng ban hành các Nghị định và nhiều văn bản luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng tốt hơn.

Cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói riêng luôn được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Đến năm 2021, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân, với khoảng 27 triệu tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm bảo đảm hoạt động bình thường về tín ngưỡng, tôn giáo của người dân nói chung và của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.

Dù có đức tin, hệ thống giáo lý và giáo luật khác nhau, nhưng các tôn giáo ở Việt Nam có chung điểm tương đồng đó là luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, theo phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Đồng bào các tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đó là điều đã được thực tiễn khẳng định. Đồng bào các tôn giáo nói chung và cộng đồng tôn giáo của người dân tộc thiểu số nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, huy động nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ngày nay.

Các “tổ chức tôn giáo...”, “nhà hoạt động chính trị”... mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến trong video nói trên thực chất đó là những cá nhân, tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo để gây rối an ninh trật tự, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Thời gian qua, ở Việt Nam xuất hiện tình trạng một số tổ chức, hội, nhóm tôn giáo trá hình, hoạt động trái pháp luật núp bóng tôn giáo để trục lợi. Mục đích chính của các tổ chức, hội, nhóm này không phải vì tự do tôn giáo đúng nghĩa mà là nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức, hội, nhóm này thường xuyên kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc; kích động các hoạt động gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục đích chính trị. Mang danh nghĩa tôn giáo, các tổ chức, hội, nhóm trái pháp luật luôn tận dụng mọi cơ hội có thể để quốc tế hóa, chính trị hoá những vấn đề trong nước nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền. Chưa dừng ở đó, các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này còn mưu toan tập hợp lực lượng, quy tụ những phần tử cực đoan trong các tôn giáo, xây dựng tổ chức, hình thành các cơ sở, mạng lưới để khi cần là có ngay lực lượng... Như vậy, có thể thấy mục đích của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm này không gì khác là thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Việt Nam.

Việc các cơ quan của chính quyền tiến hành các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, xử lý đối với những hành vi vi phạm của các cá nhân, tổ chức, hội, nhóm nói trên là việc làm bình thường. Hoàn toàn không có chuyện Việt Nam “ngăn cấm quyền tự do tôn giáo” của người dân, không bắt giữ các “nhà hoạt động chính trị” trái pháp luật. Những trường hợp mà trang “Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam” đề cập đến thực chất đó là các hội, nhóm, điểm sinh hoạt tôn giáo trái pháp luật; là những công dân đã lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, các cơ quan chức năng của Việt Nam buộc phải áp dụng các biện pháp quản lý theo đúng thẩm quyền. Việc bắt giữ, xử lý đối với các đối tượng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và xét xử đúng người, đúng tội, thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật. Ở Việt Nam mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tất cả những ai không xuất phát từ lý do tôn giáo, không vì mục đích tự do tôn giáo đúng nghĩa, mà lợi dụng tôn giáo để gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước là vi phạm pháp luật Việt Nam và họ sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật.

Cũng như các quyền tự do khác của công dân, việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm tự do tôn giáo nhưng pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm các hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá, xâm phạm quyền, lợi ích của Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ các tôn giáo. Bên cạnh việc thực hiện các quyền tự do, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo mỗi tổ chức, tín đồ tôn giáo còn phải thực hiện tốt nghĩa vụ công dân. Không tôn giáo, tín đồ tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật và lợi ích quốc gia, dân tộc. Cũng như các quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động tôn giáo ở Việt Nam đều cần phải có sự quản lý của chính quyền. Mục đích của việc làm này là nhằm tôn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Ở Việt Nam không có chỗ cho những hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.


                                                                     

GIẢ TRAI ĐI ĐÁNH GIẶC


Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, có lẽ bà là trường hợp duy nhất cải nam trang đi đánh giặc. Từ một cô gái xinh đẹp, da trắng, tóc đen dài, bà phơi nắng, cắt tóc như con trai, gào thét cho vỡ giọng để có tiếng nói được ồm ồm như đàn ông…

Sinh ra trong một gia đình khá giả ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị Quang Mẫn được ba má cho ra tỉnh học trường tư thục. Khi đó, không ưa người Pháp, bà ghét luôn ngôn ngữ của họ nên không tha thiết với việc học lắm. Học hết lớp Nhứt, bà và người em về quê làm ruộng. Bà thường ra đồng thả trâu, bò, bày trò chơi trận giả với đám con nít xung quanh. Tính tình khảng khái như con trai, bà mê đọc sách sử, mê Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực, Phan Bội Châu…

Là phận gái nhưng trong bà luôn day dứt một điều. Đất nước bị xâm lược, đang cần người trẻ nhưng anh chị em bà không ai ra giúp nước. Ông ngoại bà vốn là người của Nguyễn Trung Trực, bị giặc Pháp giam cầm 18 năm ngoài Côn Đảo, các cậu bà hy sinh vì đất nước… Biết tính cha vốn không thích tham gia chính sự, bà “nhỏ to” với người em gái kế, hai chị em cắt máu ăn thề và lên kế hoạch trốn nhà theo kháng chiến. Ngón áp út bên tay trái của bà giờ vẫn còn hằn vết sẹo cắt máu ăn thề.

Mặc cho gia đình ngăn cản nhưng trước sau như một, thấy không lay chuyển được ý định của con gái, ông mang hết quần áo hai cô ra đốt và đuổi hai chị em đi. Người mẹ vừa khóc vừa chạy theo dúi cho bà mấy đồng bạc và xấp vải xô có sẵn trong nhà. Đến bây giờ bà vẫn còn nhớ như in lời mẹ dặn: “Hai chị em con đi phải cho thành danh. Nếu không thành hay hư hèn gì thì đừng có vác mặt về nhà, xấu hổ cha mẹ lắm”.

* BẠI LỘ

Trước khi giả trai, gia đình bà có hứa hẹn gả bà cho một chàng trai ở huyện Phú Quốc. Hai người cũng qua lại thăm viếng vài lần. Từ ngày bà cải thành nam giới đi cách mạng, anh con trai tên Nguyễn Văn Bé đang đi bộ đội ở Tiểu đoàn 4010 tới lui không thấy, điều tra biết được bà đang ở Trung đoàn 124. Sau nhiều lần ông dò hỏi, thắc mắc, cuối cùng sự việc của bà bị bại lộ. “Anh” Trần Quang Mẫn trở lại là chị Trần Thị Quang Mẫn. Cả Trung đoàn bật ngửa vì trong suốt năm năm trời, không ai phát hiện ra chuyện “động trời” này.

Sau đó, đơn vị đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người. Lúc này, bà lên chức Đại đội trưởng Trung đoàn 124, ông giữ chức Đại đội phó. Năm 1952, ông hy sinh, để lại đứa con trai mới bốn ngày tuổi lại cho bà. Mười tuổi, con trai bà tiếp bước cha mẹ đi bộ đội, 15 tuổi người con trai duy nhất của ông bà hy sinh…

* GIAI THOẠI

Có một giai thoại mà những người lính khi đó truyền nhau mãi. Vào năm 1974, trong một đợt hành quân, bà đã dùng dao rạch bụng cứu sống một đứa bé khi người mẹ bị bom dội chết.

Nghe tôi hỏi, bà chỉ tay lên tấm ảnh một người phụ nữ đang cười rạng rỡ bên đứa con trai bảo: “Nó đó!”.

Lúc đó, bà là Tiểu đoàn trưởng. Gặp đợt oanh kích của giặc, cả tiểu đoàn chui hầm tránh bom. Khi chui ra khỏi hầm, bà phát hiện một người phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh bị trúng bom đã tắt thở. Thấy thai nhi chòi đạp dữ dội, không chần chừ bà móc con dao găm nhỏ luôn mang sẵn bên mình rạch bụng người mẹ cứu đứa con. Không đành lòng mang đứa nhỏ đi cho, bà gởi người quen gần đó nuôi vài tháng rồi nhận lại đứa bé gái nuôi dưỡng đến ngày hôm nay.

Cô gái được bà đặt tên là Ngọc Hân, tốt nghiệp Đại học, hiện đang làm ở Ngân hàng Công thương tại TP.HCM. Vì việc học của con gái, bà đã bán nhà ở Kiên Giang, lên TP.HCM mua nhà sinh sống từ năm 1993 tại quận Tân Bình.

Bà được Nhà Nước phong tặng nhiều Huân chương và danh hiệu cao quý: Huân chương chiến công, Huân chương kháng chiến, Huân chương Độc lập… và Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong đợt đầu tiên. Năm 1967, cùng với chị Út Tịch, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Tháng 4/1967, bà được ra Hà Nội gặp Bác Hồ, được Bác ưu ái tặng cho bà khẩu súng K54 làm kỷ niệm. Cuộc đời bà đã được nhà văn Bùi Hiển viết thành quyển sách “Cuộc đời tôi”. Bà suy nghĩ đơn giản rằng: “Hồi đó đi đánh giặc để giải phóng đất nước, mong cho đồng bào mình được sống trong cảnh thanh bình. Giờ ước nguyện đã thành sự thật, so với nhiều người khác, tôi may mắn còn sống đến ngày hôm nay. Đối với tôi như vậy đã mãn nguyện lắm rồi”. ST

ĐỨC CHÚA TRỜI MẸ: HIỂM HỌA TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI


         Việc Bộ Nội vụ (BNV) đề nghị xóa Đức Chúa Trời mẹ tôi cho rằng đó là hành động hợp lý trong bối cảnh xã hội, và các hành vi của tổ chức này gây ra hiện nay. Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ đã vi phạm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng và tôn giáo, gây ra sự bức xúc và phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Các hành vi của họ đã xâm phạm trật tự và an toàn xã hội, gây rối và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của đời sống xã hội. Do đó, đề xuất của BNV là hoàn toàn hợp lý. 

        Hành vi của Đức Chúa Trời mẹ Xúc phạm hình ảnh tôn giáo nói chung và các tôn giáo cụ thể nói riêng. Một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất về Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ đã xúc phạm và chia rẽ tín ngưỡng và tôn giáo khác. Hội thánh này đã sử dụng hoạt động tôn giáo như một phương tiện để trục lợi cá nhân và tập thể. Việc sử dụng tôn giáo để đánh bóng hình ảnh và trục lợi tài chính đã xâm phạm vào đạo đức xã hội và đạo đức tôn giáo, việc tăng cường công tác thông tin và tuyên truyền là một phần quan trọng trong việc xóa bỏ Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ. 

        Cần thông tin rõ ràng và minh bạch về các hoạt động vi phạm pháp luật và tác hại của họ để nâng cao nhận thức và cảnh giác trong xã hội, từ đó đảm bảo sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.gây thất vọng và hoài nghi trong xã hội.

NHỮNG CÂU NÓI HAY CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH

         

“Việt Nam không trung lập, Việt Nam độc lập. Độc lập hoàn toàn khác với trung lập. Chúng ta độc lập trên cơ sở đạo lý, luật pháp quốc tế và lợi ích của Việt Nam. Hôm nay, anh làm đúng thì tôi làm bạn, đồng hành. Nhưng ngày mai anh làm sai thì chúng tôi sẽ không tham gia vào câu chuyện đó. Còn nếu anh xâm hại đến tôi thì chúng tôi buộc lòng phải đáp trả. Chúng ta độc lập nên chúng ta sẽ giữ được hòa bình”. Đó là câu nói của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh làm tôi rất ấn tượng.

Còn nhớ, khi còn đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông từng nói công thức đối ngoại thành công nhất là khi cả hai bên cùng thắng. Nếu chỉ nghĩ đến lợi ích của mình thì sẽ thất bại, nhưng nếu không bảo vệ lợi ích của mình thì sẽ có hại cho đất nước.

Hôm nay, hay tin Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh từ trần, tôi thực sự thấy buồn khi nói lời vĩnh biệt với một vị tướng tài ba, hết lòng vì đất nước, Nhân dân. Cũng từ hôm nay, khi lên lớp, tôi sẽ kể cho mọi người về những đóng góp của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đối với nền quốc phòng của đất nước và những câu nói hay của ông.

BƯỚC TIẾN LỚN MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ: ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN

 

Bối cảnh thế giới ngày càng phức tạp, nhiều thách thức, sự nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã chính thức xác nhận cam kết của cả hai quốc gia đối với hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực và trên toàn thế giới. Đây không chỉ là một bước tiến quan trọng mà còn là một dấu mốc đầy ý nghĩa trong hành trình hợp tác giữa hai quốc gia.

Chuyến thăm của Tổng Thống Joe Biden đến Việt Nam vào dịp kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối Tác Toàn Diện giữa hai nước đánh dấu một sự kiện đặc biệt. Đây không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo hai quốc gia mà còn là cơ hội để họ trao đổi về quan hệ hai bên và những vấn đề quốc tế quan trọng. Điều này góp phần định hình một hướng đi mạnh mẽ, gắn kết sâu sắc giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, vì lợi ích chung của nhân dân hai nước.

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiệt liệt chào đón chuyến thăm này và đánh giá cao sự hợp tác giữa hai nước. Sự tôn trọng và tin tưởng giữa hai nước được thể hiện rõ ràng thông qua lời chào đón của Tổng Bí Thư. Chuyến thăm này không chỉ củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà còn đẩy mạnh tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Trong tình hình thế giới hiện nay, việc nâng cao quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ mang lại lợi ích cho hai quốc gia mà còn đóng góp tích cực vào hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực và trên toàn thế giới. Đây là bước tiến quan trọng, một cơ hội để chúng ta cùng nhau xây dựng một tương lai tươi sáng và hứa hẹn cho mối quan hệ đặc biệt này.

VÌ SAO NGÀNH CÔNG AN LUÔN LÀ MỤC TIÊU BỊ XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ

 

        Với vai trò, chức năng nhiệm vụ phòng, chống các loại tội phạm, lực lượng Công an luôn là “cái gai trong mắt” các đối tượng phạm tội, là mục tiêu mà các nhà “dân chủ giả hiệu” ở trong và ngoài nước hướng tới tìm cách bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự và phủ nhận những công lao của biết bao cán bộ, chiến sĩ ngày đêm vất vả bảo vệ sự bình an cho đất nước, cho nhân dân.

Thủ đoạn của các đối tượng rất tinh vi, xảo quyệt, được che đậy dưới vỏ bọc ngụy trang với những câu chuyện phản ánh về một số sai phạm của cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân. Đặc biệt, họ thường nhắm tới những lĩnh vực nhạy cảm như trật tự xã hội, giao thông, hành chính… để giở chiêu trò “bới lông tìm vết”, sưu tập những sự việc nhạy cảm để bồi bút xuyên tạc, bôi nhọ ngành Công an.

Thậm chí, các đối tượng còn sử dụng những clip, hình ảnh cũ kỹ, nhưng qua cách dàn dựng, miêu tả khiến cho một bộ phận những người nhẹ dạ cả tin lầm tưởng như mới xảy ra và vô tình tiếp tay khi lan tỏa hoặc củ vũ cho những luận điệu xuyên tạc.

Ngoài ra, các đối tượng còn soi mói chuyện đời tư của các cán bộ, chiến sĩ trong ngành Công an như vấn đề nhà đất, xe cộ, đồ trang sức như đồng hồ, dây chuyền… hoặc như vấn đề con, em các đồng chí lãnh đạo có điều kiện đi du học ở nước ngoài…, qua đó bồi bút xuyên tạc, đặt dấu hỏi về nguồn tài chính mà họ có được? từ đó “tạo sóng ngầm trong bể”, gây ra những hiệu ứng xấu làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của lực lượng Công an.

Trong khi đó, chúng ta biết rằng, đất nước ngày nay có được bình yên, an ninh chính trị được ổn định chính là nhờ công sức của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an. Thế nhưng, thực tế cho thấy, mọi người dân được hưởng thụ thành quả đó, nhưng ít ai thấu hiểu những khó khăn, gian khổ, sự hy sinh của “những bàn chân lặng lẽ”, âm thầm tạo nên những chiến công thầm lặng nhưng rất đỗi vẻ vang. 

Do vậy, những câu chuyện tiêu cực được nhiều người chia sẻ, lan truyền chỉ phản ánh được một góc khuất trong ngành Công an, vì thực tế, những hy sinh và sự cống hiến của các chiến sĩ công an lớn hơn gấp trăm nghìn lần, vì có như vậy đất nước ngày nay có được bình yên, an ninh chính trị được ổn định. Cho nên, dư luận hãy hết sức cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, bình tình nhận diện không để các đối tượng dắt mũi theo những luận điệu tiêu cực.

XIN ĐỪNG NGHĨ HỌ LÀM VÌ ĐÃ ĐƯỢC TRẢ LƯƠNG!

         

        Không biết từ bao giờ, chúng ta đã tự ngầm hiểu với nhau là cảnh sát PCCC&CNCH là một nghề, mà đã là nghề thì phải làm nghề thôi, họ cứu nạn cứu hộ vì được trả lương, nên chẳng ai để ý gì đến những chàng trai lấm lem nằm thở đứt hơi mỗi khi thoát ra khỏi tòa nhà đầy lửa khói. Họ lao đến hiện trường nhanh như tia chớp và họ rời đi trong lặng thầm, quần áo cháy đen, chân tay bỏng rát, chân khập khễnh. Chắc không ai thống kê họ đã cứu được bao nhiêu người và trên người có bao nhiêu vết sẹo của những lần xả thân vì cộng đồng.

Họ là những chiến sĩ Công an, họ được đào tạo để cứu nạn, cứu hộ. Họ được rèn bản lĩnh kiên cường, bất chấp hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Họ được rèn ý chí không bao giờ khuất phục trước khó khăn, luôn lao lên phía trước, bám sát hiện trường để cứu người, cứu của đến cùng. Họ làm không phải để được tung hô, nêu gương hay đánh bóng tên tuổi. Họ làm vì trách nhiệm, vì tình người, vì chính dòng máu của Công an đang chảy trong huyết quản.

Chúng ta, những người đang ngồi máy lạnh, lướt điện thoại sẽ không cảm nhận được cái nóng giữa hiện trường, nhưng chúng ta cảm nhận được tinh thần, trách nhiệm của những chiến sĩ PCCC&CNCH. Họ không nổi lên như hình ảnh anh shiper quả cảm Nguyễn Đăng Văn, nhưng họ thật sự là những người hùng trên mặt trận chống giặc lửa, công sức, hình ảnh của họ sẽ luôn được lưu giữ trong lòng dân và câu chuyện về họ sẽ còn được kể mãi về sau.

Chúc các anh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhân dân sẽ luôn nhớ đến các anh và luôn cần các anh! 

BÀI HỌC CẢNH TỈNH CHO SỸ QUAN TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI

Trung tuần tháng 9, tại Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 2 diễn ra phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Đặng Quang Ngọc (cấp bậc Thượng úy, bác sĩ chuyên khoa 1, Bệnh viện Quân y 6, Cục Hậu cần, Quân khu 2), phạm tội “đào ngũ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 402 Bộ luật Hình sự.

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Quân sự khu vực 23 (Quân khu 2), từ năm 2021, bị cáo Đặng Quang Ngọc đã nhiều lần viết đơn xin ra quân với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, tuy nhiên, đơn không được cấp trên giải quyết. Khi không đạt được nguyện vọng, Đặng Quang Ngọc đã tự ý rời khỏi đơn vị nhiều lần, trốn tránh nhiệm vụ, gây sức ép với đơn vị để được giải quyết ra quân.

Tháng 9-2022, Ngọc đã bị Bệnh viện Quân y 6 kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về hành vi đào ngũ. Mặc dù bị kỷ luật nhưng Đặng Quang Ngọc vẫn không nhận thức được hành vi sai trái và tiếp tục vi phạm. Năm 2023, Đặng Quang Ngọc tự ý rời khỏi đơn vị hai lần: Lần thứ nhất từ ngày 15-3 đến 17-3; lần thứ hai từ ngày 6-4 cho đến 25-4 vẫn chưa có mặt tại đơn vị nên Bệnh viện Quân y 6 đã báo cáo cơ quan chức năng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phần luận tội, kiểm sát viên đã phân tích rõ nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Theo đó, Đặng Quang Ngọc được Quân đội đào tạo, khi trở thành bác sĩ chuyên khoa 1, lẽ ra bị cáo phải phát huy tinh thần trách nhiệm, mang kiến thức được học phục vụ nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe bộ đội, xây dựng đơn vị.

Thế nhưng, do thấy mức thu nhập trong Quân đội thấp hơn so với làm việc tại các cơ sở y tế bên ngoài, một phần do hoàn cảnh gia đình có những khó khăn nhất định (nhưng không phải không thể khắc phục), bị cáo đã dao động tư tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, không chủ động khắc phục khó khăn để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mà tìm mọi cách xin ra quân nhằm đi làm bên ngoài với thu nhập cao hơn.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, xâm phạm chế độ phục vụ tại ngũ của quân nhân, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, nếu không được xử lý nghiêm minh sẽ tạo ra tiền lệ xấu. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 2 đã tuyên phạt bị cáo Đặng Quang Ngọc 4 năm tù về tội “đào ngũ”.

Việc xét xử một cách nghiêm minh, kịp thời đối với bị cáo Đặng Quang Ngọc được dư luận đồng tình ủng hộ. Đây là bài học cảnh tỉnh cho những quân nhân được Quân đội nuôi dưỡng, đào tạo, nhưng do thiếu bản lĩnh, rơi vào chủ nghĩa cá nhân nên khi trưởng thành, có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, nhất là những chuyên ngành dễ tìm việc bên ngoài với thu nhập cao, lại “chân trong chân ngoài”, tìm cách thoái thác nhiệm vụ, xin ra quân, vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội để lo cho lợi ích bản thân mà quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm của một người quân nhân cách mạng. 

Nguồn BPL.