Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

An ninh kinh tế: “Việt Nam có phải điều thần kỳ mới?”

An ninh con người và quyền con người có mối quan hệ mật thiết tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Việc bảo đảm an ninh con người, về bản chất cũng chính là bảo đảm các quyền con người tương ứng. Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người cũng chính là nhằm thực hiện an ninh con người. Vì vậy, phân tích, làm rõ vấn đề an ninh con người để có cái nhìn khách quan, toàn diện đối với vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

An ninh kinh tế

Khái niệm an ninh con người do Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra đầu tiên vào năm 1994 trong Báo cáo hàng năm về sự phát triển của con người. UNDP cho rằng: An ninh con người “là sự an toàn của con người trước những mối đe dọa kinh niên như nghèo đói, bệnh tật, đàn áp và những biến cố bất ngờ, bất lợi trong cuộc sống hằng ngày”. 

Theo UNDP, bảo đảm an ninh con người được thể hiện trên bảy phương diện: An ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Như vậy, an ninh con người được đặt ra trong sự hòa quyện và tương hỗ với những nội dung an ninh khác, an ninh con người có mối quan hệ với thời đại, xã hội và môi trường tự nhiên. Đến lượt mình, an ninh con người trở thành một nhân tố, điều kiện quan trọng để thực hiện cũng như bảo đảm an ninh xã hội, an ninh toàn cầu, hòa bình thế giới.

An ninh kinh tế, theo tài liệu của Liên hợp quốc, được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người, trong đó, vấn đề việc làm đóng vai trò quan trọng. Thực trạng dân số thế giới tăng mạnh, trong khi sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học-công nghệ đã cho ra đời nhiều ngành sản xuất mới đòi hỏi trình độ và tay nghề của người lao động cao hơn rất nhiều mà người lao động bình thường không dễ tiếp cận công việc. Đặc biệt, Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản về sử dụng lao động. Các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động ngày càng bị thu hẹp khiến cho sức ép cạnh tranh việc làm ngày càng gia tăng, đe dọa trực tiếp tới an ninh kinh tế của mỗi con người cụ thể.

Việt Nam có phải điều thần kỳ mới?

“Is Vietnam the Next Asian Miracle?” (tạm dịch: Liệu Việt Nam có phải điều thần kỳ mới của châu Á?)  là nhan đề bài viết của Ruchir Sharma đăng trên tờ New York Times ngày 13-10-2020. Trong bài báo, tác giả cho rằng, sau Thế chiến II, “những điều thần kỳ châu Á”, đầu tiên là Nhật Bản, sau đó là vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc và gần đây nhất là Trung Quốc đã vươn lên thoát nghèo bằng cách mở cửa cho thương mại và đầu tư và trở thành các cường quốc sản xuất để xuất khẩu. Hiện nay, Việt Nam cũng đang làm những điều tương tự. Ngay cả khi thương mại toàn cầu sụt giảm trong những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, xuất khẩu của Việt Nam cũng đã tăng trưởng 16% mỗi năm. Cho đến nay, đây là tốc độ nhanh nhất trên thế giới và gấp ba lần mức trung bình của các nền kinh tế mới nổi. Tác giả cũng khẳng định, Việt Nam đã trở thành một điểm đến ưa thích đối với các nhà sản xuất xuất khẩu. Thu nhập bình quân đầu người hằng năm ở Việt Nam đã tăng gấp 5 lần kể từ cuối những năm 1980 lên mức gần 3.000 USD/người, nhưng chi phí lao động vẫn chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc.

Còn theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 9 tháng năm 2020, tổng số người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) khoảng 54,4 triệu người, trong đó, số người đang làm việc khoảng 53,1 triệu người. Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi là 2,69%; tỷ lệ thất nghiệp là 2,48%. Nhìn chung, những năm qua, lao động có việc làm tiếp tục tăng, cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, lao động thiếu việc làm và lao động phi chính thức có chiều hướng giảm so với giai đoạn trước. Với sự chuyển dịch tích cực của nền kinh tế trong và ngoài nước, cùng sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, thị trường lao động cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần sử dụng lao động giản đơn sang sử dụng nhóm lao động có kỹ năng và trình độ cao, chất lượng lao động được nâng cao; thu nhập của người lao động được đảm bảo.

Thách thức còn ở phía trước

Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực lao động, việc làm và nâng cao thu nhập của người dân nhưng Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Trước hết là hiệu suất lao động của Việt Nam đang ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Tỷ lệ lao động có kỹ năng, được đào tạo còn thấp. Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối cao. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay, đại dịch Covid-19 đã tác động sâu sắc đến vấn đề lao động và việc làm. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Thu nhập bình quân tháng của người lao động trong 9 tháng năm 2020 giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó là vấn đề phân hóa giàu nghèo ngày càng phức tạp. Sự phân hóa giàu nghèo có thể nhận thấy rõ nét giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân tộc chiếm đa số và thiểu số, hay giữa các vùng kinh tế. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng sẽ tạo ra nhiều tác động tiêu cực trong xã hội, mà hệ quả trực tiếp là gia tăng bất bình đẳng, nhất là bất bình đẳng cơ hội, từ đó ảnh hưởng tới khả năng dịch chuyển xã hội của người dân lên các thang bậc kinh tế cao hơn, tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, cũng như gây tác động không tốt tới sự phát triển chung của toàn xã hội. Đó là những thách thức mà chúng ta cần phải có những giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm an ninh kinh tế nói riêng, an ninh con người nói chung.

Con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển

An ninh con người và quyền con người

An ninh con người được cấu thành trên 7 phương diện: An ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh sức khỏe, an ninh môi trường, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng và an ninh chính trị. Như vậy, an ninh con người và quyền con người là hai khái niệm có phạm trù, nội hàm khác nhau, không đồng nhất, song đều có mục tiêu chung là vì con người, lấy con người là trung tâm. Về bản chất, việc bảo đảm bảy dạng an ninh con người cũng chính là bảo đảm các quyền con người tương ứng. Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người tương ứng cũng chính là nhằm thực hiện, bảo đảm bảy dạng an ninh con người. Thêm vào đó, cả an ninh con người và quyền con người đều hướng vào việc thúc đẩy các nguyên tắc dân chủ và sự phát triển về thể chế trong các xã hội như là những điều kiện để bảo đảm an ninh và các quyền của con người một cách bền vững.

Chẳng hạn như, bảo đảm an ninh kinh tế là điều kiện để thực hiện những quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội… Nếu như an ninh kinh tế không được bảo đảm, mất việc làm, thu nhập cá nhân giảm và hậu quả tất yếu là tình trạng đói nghèo tăng. Còn ở nghĩa rộng, để hiện thực hóa các quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, các nhà nước và cộng đồng quốc tế cần có những nguồn lực vật chất mà chỉ có thể có được nhờ sự tăng trưởng kinh tế. Theo nghĩa này, tăng trưởng kinh tế có thể coi là một phương tiện quan trọng để hiện thực hóa các quyền con người. Đổi lại, quyền con người cũng góp phần thúc đẩy và duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững, bởi lẽ, quyền con người giúp kiến tạo và duy trì sự quản lý tốt-yếu tố nền tảng cho sự phát triển kinh tế. 

Còn bảo đảm an ninh lương thực, an ninh sức khỏe cũng là điều kiện tiên quyết để thực hiện quyền sống, quyền được chăm sóc y tế…, những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người. An ninh lương thực không bảo đảm là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất dẫn đến đói nghèo, lạc hậu. Mà khi đói nghèo sẽ ngăn cản khả năng nhận biết và hưởng thụ các quyền con người. Đơn cử, những người mù chữ hoặc nghèo khổ, phải vật lộn hàng ngày với miếng cơm manh áo thì không thể có điều kiện để thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả các quyền được giáo dục, quyền được tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội… mà họ được ghi nhận.

Con người sống và mưu cầu hạnh phúc thường gắn với xã hội, thể chế chính trị-xã hội nhất định. Sự ổn định chính trị-xã hội là yếu tố cơ bản, là tiền đề để xã hội phát triển. Sự ổn định chính trị-xã hội cũng đồng nghĩa với an ninh chính trị-xã hội được giữ vững. Đó là tiền đề bảo đảm thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần.

An ninh con người ở Việt Nam

Vấn đề an ninh con người đã được Liên hợp quốc và nhiều nước trên thế giới tiếp nhận như một tư duy mới có sức thuyết phục và có giá trị thực tiễn cao. Con người đặt ở vị trí trung tâm của thời cuộc, của xã hội là hoàn toàn đúng. Xã hội suy cho cùng là xã hội của con người và vì con người. Thực hiện an ninh con người sẽ bổ sung và làm phong phú cho an ninh quốc gia và an ninh toàn cầu.

So với quyền con người, vấn đề an ninh con người còn khá mới mẻ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, đối với từng thành tố cấu thành an ninh con người đã được đề cập nhiều trong các văn bản lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thành tựu, kết quả và những thách thức trong bảo đảm an ninh con người (7 phương diện an ninh) đã được đề cập, phân tích trong các bài trước.

Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng ta lần đầu tiên nêu ra quan điểm về bảo đảm an ninh con người với mức ưu tiên cao nhất, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước. Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIII, một lần nữa, vấn đề an ninh con người lại được đề cập tới sâu sắc hơn. Dự thảo Báo cáo nêu rõ: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.

Cùng với đó, Dự thảo văn kiện Đại hội XIII đưa ra phương hướng và những giải pháp nhằm bảo đảm an ninh con người. Đó là, giải quyết vấn đề lao động, việc làm và thu nhập, trong đó trọng tâm là “cải cách chính sách tiền lương”; “phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững”; đồng thời, đổi mới chính sách bảo hiểm thất nghiệp.

Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế. Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng-hưởng, chia sẻ-bền vững. Điều chỉnh chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản.

Bảo đảm tốt an ninh sức khỏe, trọng tâm là chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xây dựng và thực hiện các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ y tế.

Cảnh giác với luận điệu “tách Đảng làm đôi”

Thực tiễn cho thấy, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động, kêu gọi tán dương, cổ xúy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Mục tiêu của những luận điệu hô hào, cổ xúy đòi "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" không gì khác là hạ thấp và đi tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam, bằng những lời lẽ hết sức mị dân. Họ cho rằng chỉ có thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”; chỉ có "đa nguyên, đa đảng" thì xã hội mới có dân chủ thực sự... Thực chất của luận điểm trên là muốn gây ra những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị-xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng gia tăng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Có thể thấy, các luận điệu trên đã cũ rích, được nhai đi, nhai lại trước mỗi kỳ Đại hội của Đảng ta. Cùng với những điệp khúc trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị “sáng tạo” thêm luận điệu mới, mong “Đảng Cộng sản dân chủ hóa, thậm chí đa đảng” hay “có những giải pháp tạm thời để đẩy mạnh dân chủ hóa là Đảng Cộng sản cầm quyền có thể tính tới việc tự tách đôi”. Chúng lập luận kiểu lừa bịp, mị dân rằng "nên tách đôi đảng có hai quan điểm khác nhau: Một quan điểm cấp tiến, một quan điểm muốn giữ mãi chủ nghĩa Mac-Lenin rồi tư tưởng Hồ Chí Minh...”. Chúng cho rằng, "một quan điểm khác kiểu như là dân chủ xã hội kiểu phương Tây chẳng hạn, cứ tách đôi ra và có những nguyên tắc ban đầu để họ tránh những cái gọi là xung đột quá mức mà đến mức độ có thể xảy ra chính biến”…

Những luận điệu trên mang nặng tính chất mị dân, rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người nhận thức có phần còn hạn chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam.

Đảng Cộng sản ngay từ khi ra đời và đến nay đã lựa chọn nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc cơ bản để xây dựng tổ chức và chỉ đạo hoạt động của mình. Mặc dù trong mỗi tổ chức và trong từng thời kỳ khác nhau, nội dung chi tiết của nguyên tắc tập trung dân chủ có sự điều chỉnh nhất định nhưng bản chất và nội dung cơ bản của nguyên tắc thì không bao giờ thay đổi. Tập trung là thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung”. Dân chủ trong Đảng tức là mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề: “Phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng đều do quần chúng đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý kiến lại mà thành”. “Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử ra”. Bởi vậy, quyền lực của các cơ quan lãnh đạo đó cũng là do đảng viên giao phó cho, chứ không tự ai tranh giành được.

Học tập là làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong những năm gần đây đã có những bước tiến mới, đạt được kết quả hết sức quan trọng. Bản lĩnh, trình độ, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được nâng lên. Công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từng bước được đổi mới và đạt được kết quả bước đầu. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được thực hiện quyết liệt. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được đổi mới, sắp xếp tinh gọn hơn; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền ngày càng cao. Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng được siết chặt, pháp luật Nhà nước được đề cao. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đạt kết quả quan trọng; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn. Những kết quả trên góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta đoàn kết hơn, vững mạnh hơn, trong sạch hơn, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố và tăng cường hơn. 

Có thể nói các thế lực thù địch càng chống phá quyết liệt với những thủ đoạn nham hiểm, thâm độc hơn. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Không được núp bóng tôn giáo để chống phá đất nước

“Hội đồng liên tôn Việt Nam”, tổ chức được thành lập trên cơ sở liên kết của một bộ phận chức sắc có tham vọng chính trị trong các tôn giáo bao gồm: Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Thời gian gần đây, tổ chức này có nhiều hoạt động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Gần đây nhất, tổ chức này đã ra cái gọi là “Tuyên bố về tình hình Việt Nam và thế giới”, trong đó, xuyên tạc trắng trợn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn tại, trong đó có một số tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo,... và một số tôn giáo ra đời trong nước như Cao Đài, Hòa Hảo... Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước. Chính vì thế, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng đồng thời giành tự do cho nhân dân, trong đó có đông đảo đồng bào theo các tôn giáo, theo nguyên lý đất nước có độc lập thì tôn giáo mới tự do. Cuộc đấu tranh chung đã gắn kết đồng bào các tôn giáo với cả dân tộc. Và đồng bào các tôn giáo đã đồng hành cùng dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày nay, trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam, từ thành thị, nông thôn đến miền núi, ở đâu cũng có đền, chùa, tháp chuông, nhà nguyện, tòa thánh,… được xây dựng khang trang, cùng với các nghi lễ mang đậm bản sắc tôn giáo ở mỗi vùng miền. Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội… Không chỉ chăm lo cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày một tốt hơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng hết sức có trách nhiệm đối với các hoạt động tôn giáo quốc tế. Việt Nam từng 3 lần tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak). Đặc biệt, đã tổ chức rất thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 tại Chùa Tam Chúc (Kim Bảng, Hà Nam), với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu quốc tế thuộc 570 phái đoàn đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ… được bạn bè quốc tế đánh giá hết sức tích cực.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là một tổ chức như vậy.

Tổ chức này được lập ra với danh nghĩa tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền, trụ sở hiện nay tại chùa Giác Hoa, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, do Thích Không Tánh trụ trì. Nghe tên “Hội đồng liên tôn Việt Nam” có vẻ rất mỹ miều nhưng thực chất tổ chức này lại bao gồm số tu sỹ bất mãn, biến chất trong các tôn giáo ở Việt Nam, có thể liệt kê một số đối tượng cầm đầu, cốt cán như: Thích Không Tánh, Thích Vĩnh Phước (Phật giáo); Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đinh Hữu Thoại (Công giáo); Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân (Cao Đài); Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Nguyễn Mạnh Hùng (Tin Lành); Lê Quảng Hiển, Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa Hảo)… 

Gần đây, “Hội đồng liên tôn Việt Nam” luôn tìm cách để gặp gỡ các quan chức phương Tây, các tổ chức quốc tế để cung cấp các thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị của đất nước, các vụ việc nhạy cảm, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”,“tự do tôn giáo”, qua đó vẽ nên một bức tranh méo mó, phản cảm về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam. Hồi tháng 1-2020, “Hội đồng liên tôn” đã gặp gỡ với các đoàn lâm thời như đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF), phái đoàn ngoại giao của các quốc gia như Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Tây Ban Nha… tại chùa Giác Hoa. Tại buổi gặp gỡ, các đối tượng đã cung cấp những thông tin xuyên tạc về vấn đề tự do tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. 

Gần đây nhất, tổ chức này ra cái gọi là “Tuyên bố tình hình Việt Nam và thế giới”. Tổ chức này xuyên tạc trắng trợn rằng: “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã đàn áp tôn giáo có hệ thống. Vì không thể tiêu diệt được, họ đã tìm cách khống chế. Những tôn giáo độc lập bị chính quyền sách nhiễu, cô lập, khử trừ bằng mọi cách. Các chức sắc “Hội đồng liên tôn” lúc nào cũng bị theo dõi”. Về nhân quyền, tổ chức này cũng xuyên tạc: “Nhà cầm quyền gia tăng bắt bớ, giam cầm, xử án bất công đối với những công dân ôn hòa lên tiếng bênh vực cho công bằng xã hội, cho tự do dân chủ và nhân quyền, chống tham nhũng bất công và chống Trung Cộng bành trướng”. 

Như vậy, có thể thấy, hành động của số chức sắc cực đoan trong “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là hành động của những nhân vật không muốn đất nước được bình an. Còn dưới góc độ tôn giáo, các chính đạo đều coi trọng việc tu luyện loại bỏ nhân tâm, dục vọng, đề cao tâm tính làm căn bản để hướng tới chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Vậy mà hoạt động của “Hội đồng liên tôn” lại vì động cơ chính trị không trong sáng, làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của mình, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam. 

Nhận thức rõ bản chất của “Hội đồng liên tôn” để chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của tổ chức này là việc làm cần thiết đối với mỗi người dân Việt Nam.

Mối nguy hại từ căn bệnh ba hoa: “Nhất ta nhì người”

Cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) mắc phải căn bệnh ba hoa thường tỏ ra “cái gì cũng biết”. Nhưng thực tế, đây là bộ phận CB, ĐV thiếu kiến thức, kinh nghiệm, thiếu lý luận chính trị, tự trói mình vào tầm nhìn phiến diện, xa rời thực tế khách quan. Nguy hiểm hơn nó còn là nguồn cơn của sự mất đoàn kết nội bộ, vì những CB, ĐV này thích khai thác hạn chế của người khác để làm điểm mạnh cho mình, tôn thờ chủ nghĩa cá nhân.

Thích khoe khoang dẫn đến “tự cao, tự đại”

Để các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến được với quần chúng nhân dân, thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vai trò trách nhiệm của CB, ĐV trong công tác tuyên truyền ấy được thể hiện qua cách nói và viết. Nói và viết là hai kỹ năng cơ bản mà mỗi CB, ĐV sử dụng để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới người dân. Trong từng giai đoạn cách mạng, mà nhiệm vụ chính trị khác nhau, trình độ nhận thức của nhân dân có sự phát triển khác, vì vậy đòi hỏi cách nói, cách viết của CB, ĐV phải không ngừng đổi mới. 

Tuy nhiên, ở đâu đó chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp, như trong các buổi học tập, quán triệt nghị quyết, hay hội nghị tổng kết công tác năm, những người chủ trì hoặc báo cáo viên được phân công phụ trách khi đứng lên bục là bắt đầu “thao thao bất tuyệt” khéo léo khoe khoang đủ thứ, nào là trình độ học vấn bản thân, gia đình, dòng họ, quen biết người này người kia, đi đây đi đó; sưu tầm đủ chuyện đông tây kim cổ, kể lể dông dài, miễn sao mọi người biết đến mình, nhất mình là được. Còn nội dung cần truyền đạt thì chuẩn bị qua loa, đại khái, truyền đạt dài dòng ru ngủ, thiếu thực tiễn. Kết quả nhiều CB, ĐV và quần chúng nhân dân khi học xong, hỏi hôm nay học gì cũng không nắm được, giỏi lắm cũng chỉ nắm lơ mơ. Còn trong cuộc sống hằng ngày, nhất là lúc “trà dư tửu hậu” những CB, ĐV này lại lấy điểm yếu của người khác làm câu chuyện của mình, ném đá, phát ngôn tùy tiện, dẫn tới nghi ngờ, chia rẽ mất đoàn kết nội bộ. 

Ông cha ta thường nói “thùng rỗng kêu to” để ám chỉ, phê phán những người trình độ hiểu biết, năng lực hạn chế nhưng lại thích khoe khoang, huênh hoang, khoác loác, làm như ta đây giỏi lắm. Những CB, ĐV mắc căn bệnh ba hoa, họ luôn tỏ ra vẻ ta đây cái gì cũng biết, hễ làm được việc gì có chút thành công thì khoe khoang vênh váo, ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi người khác, không muốn cho người khác phê bình góp ý, tự cho mình là nhất. Từ đó sinh ra bảo thủ, trì trệ, không chịu đổi mới, không muốn đổi mới. CB, ĐV mà ba hoa thường tập hợp quanh mình nhiều người nịnh bợ và tán dương sự hào nhoáng bề ngoài dẫn tới hình thành “cánh hẩu-lợi ích nhóm” tham ô, tham nhũng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rất nhiều biểu hiện suy thoái liên quan tới bệnh ba hoa trong cách nói, cách viết, cách làm: Trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít. Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi. 

Chữa bệnh ba hoa theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1947 có 6 nội dung chính: “Phê bình và sửa chữa”, “Mấy điều kinh nghiệm”, “Tư cách và đạo đức cách mạng”, “Vấn đề cán bộ”, “Cách lãnh đạo” và cuối cùng là nội dung “Chống thói ba hoa”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Khuyết điểm có nhiều thứ. Chúng ta có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng: Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan. Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi. Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa. Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm”. Khuyết điểm về tư tưởng, thuộc phạm trù nhận thức. Còn hẹp hòi và ba hoa, như cách phân tích của Bác, thuộc về hành động. Ba hoa không chỉ là bệnh mang màu sắc cá nhân chủ nghĩa, mà còn là mối đe dọa tới sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức Đảng.

Bác cũng đưa ra “liều thuốc chữa thói ba hoa” và yêu cầu mỗi CB, ĐV phải hiểu, phải nhớ và phải thực hành. Đó là: Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước an của quần chúng. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần. Làm được như thế thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng thêm.

Vì vậy, trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, đối với mỗi CB, ĐV cần nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà, chân thành, luôn tôn trọng người khác, coi trọng việc học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, đáp ứng yêu cầu công việc và vị trí công tác của bản thân. Nhất là học cách tư duy, cách nói, cách viết sao cho khi truyền đạt quần chúng nhân dân nắm nhanh, hiểu sâu, nhớ lâu những gì mình cần truyền đạt. Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng cần tăng cường quản lý, giao nhiệm vụ cho CB, ĐV theo hướng đúng người đúng việc, khắc phục kiểu làm việc không thiết thực, qua loa, làm cho xong, làm ít nói nhiều. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, thực hiện nghiêm quy định về kỷ luật phát ngôn đối với CB, ĐV, đi đôi với xử lý nghiêm những trường hợp nói, viết không đúng với Chỉ thị, Nghị quyết, đường lối lãnh đạo của Đảng.

Luôn xứng đáng dưới màu cờ của Đảng

Từ khi thành lập Đảng đến nay, việc phát triển đảng viên mới diễn ra thường xuyên ở tất cả các tổ chức Đảng. Đó là quy luật, không những tăng thêm sinh lực, sức chiến đấu mà còn bảo đảm tính kế thừa và phát triển của Đảng ta. Vì vậy, để đứng trong hàng ngũ của Đảng, đòi hỏi người xin vào Đảng phải có động cơ phấn đấu đúng đắn, trong sáng, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì lợi ích của nhân dân.

Sáng động cơ, hồng chân lý

Hàng năm, vào các dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3/2), ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5), Quốc khánh (2/9) và ngày Cách mạng tháng 10 Nga (7/11) là các tổ chức Đảng lại tiến hành xem xét, lựa chọn những quần chúng ưu tú để phát triển đứng trong hàng ngũ của Đảng. Là đảng viên, ai cũng vui mừng trước những thông tin Đảng phát triển được nhiều đảng viên mới ở mọi lĩnh vực, như: Trí thức, sinh viên, lực lượng vũ trang, người lao động trực tiếp sản xuất… Ngược lại, chúng ta thật đau lòng khi nghe nơi này nơi kia đảng viên bị kỷ luật, thậm chí bị khai trừ khỏi Đảng, hoặc bị xử lý hình sự.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài? Không phải! Trước đây Đảng còn hoạt động bí mật, các đồng chí chúng ta vào Đảng, chỉ một lòng một dạ làm cách mạng. Bọn đế quốc, phong kiến bắt bớ, cầm tù, xử tử rất nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng, nhưng các đồng chí chúng ta vẫn hăng hái hoạt động. Có những đồng chí như: Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ và rất nhiều đồng chí khác đã anh dũng hi sinh cho Đảng, cho cách mạng. Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên…”. Tự nguyện phấn đấu vào Đảng chính là tự nguyện dấn thân theo lý tưởng cách mạng, chấp nhận hy sinh, không sợ khó, sợ khổ, quyết tâm theo đuổi đến cùng con đường dẫn đến mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Do đó, xây dựng động cơ vào Đảng đúng đắn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết, quyết định đến sự trưởng thành lớn mạnh của tổ chức Đảng và đảng viên. Nuôi dưỡng động cơ phấn đấu để mỗi người hiểu rõ hơn, vào Đảng là để đứng trong một tổ chức tự nguyện của những người cùng chung một chí hướng, đấu tranh xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng thì trước tiên mỗi quần chúng ưu tú cần phải tự nguyện, không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, dù trong bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng không dao động, giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu, phải trung thành với lợi ích của Đảng, với lợi ích của nhân dân, suốt đời trung thành, tận tâm, tận lực phục vụ cho Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thực tiễn cho thấy, với những người vào Đảng có động cơ không trong sáng thì khi đã đứng trong hàng ngũ của Đảng chắc chắn sẽ "quay lưng", phản bội lại Đảng khi có cơ hội. Điều đó là hết sức nguy hiểm cho sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Nên ngay từ khi hình thành động cơ phấn đấu, phải thể hiện rõ khí tiết của người cách mạng là “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Đây chính là nét nổi bật của người đảng viên chân chính, mẫu mực không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà phải gương mẫu đi đầu trong mọi điều kiện hoàn cảnh cuộc sống. 

Tạo nguồn phát triển Đảng

Đối với công tác tạo nguồn phát triển Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức Đảng phải có kế hoạch trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. 

Vậy nên, để công tác tạo nguồn, bồi dưỡng kết nạp đảng viên hiện nay đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần căn cứ quy định của Đảng và tình hình cụ thể, đề ra chiến lược phát triển Đảng lâu dài. Thường xuyên làm tốt công tác lãnh đạo các đoàn thể, nhất là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thực hiện tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng động cơ, ý thức trách nhiệm cho đoàn viên, hội viên phấn đấu để được đứng vào hàng ngũ của Đảng; phát động các phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua quyết thắng ở các đơn vị, địa phương để lựa chọn những cá nhân ưu tú giới thiệu cho tổ chức Đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thẩm tra, xác minh các hồ sơ có liên quan đến lịch sử chính trị hiện nay của quần chúng phục vụ cho công tác phát triển đảng viên. Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức Đảng cần phân công những đảng viên có kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, xây dựng Đảng, cũng như giàu kinh nghiệm trong công tác, lĩnh vực chuyên môn, kèm cặp, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng ưu tú, tạo động lực để quần chúng ưu tú rèn luyện, phấn đấu vào Đảng. Trong quá trình bồi dưỡng, giúp đỡ, chi bộ cần xác định rõ trách nhiệm cho những đảng viên làm nhiệm vụ giới thiệu người vào Đảng ngay từ trước khi kết nạp, để người giúp đỡ đó có đủ thời gian xem xét lý lịch người mình giới thiệu, bồi dưỡng cho họ nhận thức về Đảng và trong cả thời gian dự bị, người giới thiệu vẫn có trách nhiệm giáo dục, giúp đỡ đảng viên mới trở thành đảng viên chính thức.

Đối với những chi bộ, đảng bộ gặp khó khăn trong phát triển Đảng, như khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, các khu công nghiệp, khu chế xuất, cần quan tâm, tạo việc làm tại chỗ cho lao động trẻ tại địa phương, để thanh niên tham gia làm kinh tế, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, các phong trào thi đua nhằm thu hút đoàn viên thanh niên, từ đó phát hiện những nhân tố tích cực để bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng. Có như vậy, công tác phát triển Đảng mới ngày càng đi vào chiều sâu và chất lượng.

Không nêu gương, cán bộ, đảng viên sẽ tự suy thoái

Chống tự suy thoái theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó, để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng; được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo phải nêu gương. Muốn thu hút, lôi kéo, động viên được quần chúng theo mình, người lãnh đạo không chỉ đi tiên phong, mà còn là người nêu gương cho những người đi theo. Người nhấn mạnh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình thì người đảng viên từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Vậy nên, để thực hiện trách nhiệm nêu gương, trong công tác xây dựng Đảng, các tổ chức đảng, bí thư cấp ủy cần xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, kiên trì, kiên quyết với những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra, có tư duy đổi mới, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tích cực mở rộng dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, thực hiện nghiêm túc, có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng. Phải có chương trình, kế hoạch thực hiện đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng, gương mẫu trong đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tiếp tục cụ thể hóa các quy định về trách nhiệm nêu gương thành các tiêu chí cụ thể ở từng cơ quan, đơn vị để thực hiện, kiểm tra, đánh giá và giám sát, tạo sự chuyển biến rõ nét trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của CB, ĐV. Thực tiễn cho thấy, ở nơi nào, người đứng đầu cấp ủy, đứng đầu cơ quan, đơn vị thực hiện tốt tự giác nêu gương, chủ động, tích cực phối hợp công tác vì công việc chung, ở nơi đó nội bộ đoàn kết, không khí dân chủ, sức mạnh của tập thể trong thực hiện nhiệm vụ chính trị là hợp lực từ tinh thần trách nhiệm, sức mạnh của mỗi thành viên.

Đối với mỗi CB, ĐV phải nghiêm túc học tập, quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương. Sự nêu gương của CB, ĐV phải toàn diện về mọi mặt, nêu gương về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong công tác, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân; nêu gương về quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè, người thân, gia đình… nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, thể hiện trong những việc làm cụ thể. Để thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, vấn đề cốt lõi hàng đầu là CB, ĐV phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, phải nghiêm khắc với mình, luôn tự nhìn nhận, xem xét, đánh giá bản thân một cách nghiêm túc theo chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, rút ra những bài học cần thiết trong công tác và trong cuộc sống, thấy được cái tốt, cái đúng để phát huy, nhất là thấy được những tồn tại, hạn chế khuyết điểm để tự đề ra biện pháp khắc phục. 

Tăng “sức đề kháng” cho thanh niên trước sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch

Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi và một phần chưa được rèn luyện, thử thách, thanh niên là đối tượng trọng điểm để các thế lực thù địch, phản động mua chuộc, lôi kéo, kích động nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam.

Vai trò của thanh niên

Thanh niên Việt Nam chiếm số đông trong dân số, trải đều trên cả nước và có mặt ở các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước. Thanh niên không phải là một giai cấp nhưng được hiện diện ở tất cả giai cấp nông dân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức. Thanh niên cũng không phải là một tầng lớp xã hội độc lập nhưng có mối quan hệ gắn bó với các tầng lớp khác trong xã hội. Ngoài quyền, nghĩa vụ công dân, thanh niên còn phải có trách nhiệm với Tổ quốc, Nhà nước, xã hội, gia đình và trách nhiệm với bản thân. Trong đó, đối với Tổ quốc, hơn cả trách nhiệm, đó còn là niềm vinh dự, tự hào của mỗi thanh niên Việt Nam. Luật Thanh niên năm 2020 nêu rõ trách nhiệm của Thanh niên đối với Tổ quốc: 

Phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập, giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu.

Đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

“Đâu cần thanh niên có, đấu khó có thanh niên” là khẩu hiệu truyền thống đã thấm sâu vào lòng người, thể hiện vai trò và vị trí của thanh niên trong phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước luôn xác định thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố, nguồn lực con người và đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh. Thanh niên là mấu chốt của sự thành bại cho tương lai của đất nước, không chỉ bảo vệ Tổ quốc mà còn là tương lai phát triển về mặt kinh tế, trí tuệ hội nhập thế giới rộng lớn.

Thủ đoạn lôi kéo, kích động thanh niên

Ngày nay, Internet, mạng xã hội đã làm thay đổi mạnh mẽ phương thức giao tiếp của con người. Đây cũng là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước. Thủ đoạn của chúng cũng rất đa dạng, phong phú như: Thiết lập các trang web, mở các “diễn đàn”, “câu lạc bộ” trên mạng nhằm tán phát tài liệu phản động và truyên truyền phá hoại tư tưởng; đăng tải các bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam; sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động, kêu gọi khủng bố gây hoang mang trong dư luận xã hội... Đối tượng chúng nhằm vào bao gồm các tầng lớp nhân dân, thành phần xã hội, không phân biệt giàu nghèo, giới tính, độ tuổi nhưng quan trọng nhất là tầng lớp thanh niên. Chúng nhằm vào tầng lớp này bởi thanh niên là lực lượng tiên tiến, nhanh tiếp xúc với công nghệ, nhất là internet và mạng xã hội. Mặt khác, thanh niên cũng là đối tượng ít được rèn luyện qua thử thách, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng nên dễ bị xúi giục, kích động, mua chuộc...

Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, lôi kéo một số du học sinh, nghiên cứu sinh đang học tập, công tác ở nước ngoài để tuyên truyền phản động; tập hợp, bồi dưỡng một số thanh niên có xu hướng phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đẩy mạnh tặng học bổng, hỗ trợ kinh phí từ các NGO, liên kết đào tạo, thẩm thấu những “giá trị” xã hội tư bản một cách tự nhiên nhưng rất thâm độc, nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này với âm mưu làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong tương lai. Họ gieo rắc vào giới trẻ khái niệm “cấp tiến”, “tự do”, “dân chủ” vô tổ chức, bất chấp luật pháp, tung hô những ý kiến “phản biện” ảo tưởng, xa rời thực tiễn.

Đáng tiếc, thời gian gần đây đã xuất hiện một số trí thức trẻ, học sinh, sinh viên đã “sập bẫy” bởi những chiêu trò ấy. Họ bị kích động và đăng lên các bình luận, hùa theo tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, đề cao cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”... Một số bạn trẻ đã mơ hồ, hoài nghi, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng và thành quả cách mạng; tự đề cao cái tôi cá nhân, lối sống vị kỷ, cá biệt có trường hợp tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch.

Tăng “sức đề kháng” cho thanh niên

Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, hơn lúc nào hết, chúng ta phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Đây vừa là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt thường xuyên, vừa là nhiệm vụ cơ bản chiến lược lâu dài.

Trước hết, chú trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho đoàn viên, thanh niên; tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chủ động cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, phương pháp, kỹ năng để thanh niên tự phòng ngừa, tự sàng lọc, tự đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá. Ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, tăng sức đề kháng cho thanh niên trước sự chống phá của các thế lực thù địch; tham gia bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội. 

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục trong công tác giáo dục thanh niên, trong đó, đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước của đội ngũ cán bộ, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu rèn luyện tác phong và thực hiện lề lối công tác; xây dựng và triển khai các giá trị tiêu chí, chuẩn mực trong hành vi, lối sống, ứng xử của thanh niên trên nền các giá trị cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn các cấp, nhất là trong việc tập hợp, đưa thanh niên vào sinh hoạt trong tổ chức. Đây chính là môi trường thuận lợi để họ học tập, rèn luyện, phát triển và cống hiến. Qua đó, trực tiếp tôi luyện, giáo dục cho thanh niên lý tưởng, hoài bão và khát vọng cống hiến; hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

 TỰ CHỈNH ĐỐN THEO LỜI DẠY CỦA BÁC

Làm trong sạch nội bộ Đảng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm, chú trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tiến hành đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất đang được Đảng ta đẩy mạnh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu” (1).
Làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh
Việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng và góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo V.I.Lênin, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi đảng là tất yếu khách quan, bởi khi đảng giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền thì nhiệm vụ chính trị của đảng đã có sự phát triển, đòi hỏi phải tăng cường công tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới: “Ngày nay... mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, vì chúng ta đã chuyển sang chính sách kinh tế mới... Để thực hiện việc cải thiện đó, chúng ta phải gạt bỏ ra khỏi đảng những phần tử xa rời quần chúng (cố nhiên không cần nói đến những phần tử làm ô danh đảng trước quần chúng)” (2). Mặt khác, do vị trí của đảng cầm quyền đã làm cho một số kẻ cơ hội, vì sự hấp dẫn của đảng, tìm mọi cách luồn lách, chui vào đảng, dẫn đến tình trạng bè cánh, phe nhóm trong đảng. Bên cạnh đó, một số người cộng sản khi có chức quyền đã tha hóa, biến chất, mắc bệnh kiêu căng, quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ. Do đó, V.I.Lênin cho rằng: “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không, chúng ta không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải quan tâm là làm tăng thêm số lượng đảng viên” (3).
Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, thậm chí là những đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển, tương lai rộng mở nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “gục ngã” trước những cám dỗ vật chất tầm thường. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua, từ vụ án công ty Việt Á, vụ Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), vụ liên quan đến Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát đến vụ công ty AIC, dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”(4). Những sai phạm của cán bộ, đảng viên không thể để tiếp diễn, kéo dài, phải kiên quyết xử lý, kịp thời, nghiêm minh và công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.
Để Đảng trong sạch cần phải làm gì?
Tiến hành xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện cao độ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là “thanh trừng, đấu đá nội bộ”. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đặt ra nhiều vấn đề đối với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng ta hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ:
Nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”. Chú trọng công tác xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tiến hành chặt chẽ, cẩn trọng việc thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị-xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Chú trọng việc kết nạp đảng viên ở cơ sở trọng điểm còn ít đảng viên hoặc chưa có đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp đảng viên với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và sàng lọc đảng viên. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Kiên quyết chấn chỉnh những biểu hiện sai trái trong công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng.
Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Đa dạng hóa các nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng; chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường công tác quản lý đảng viên toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; các quan hệ xã hội; về việc lập và sử dụng các trang thông tin trên internet, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”. Quan tâm, tạo điều kiện và phát huy tính tích cực, tự giác của đội ngũ đảng viên trong tự học, tự rèn luyện, tự quản lý.
Đề cao tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Thường xuyên giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích của tự phê bình và phê bình; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức tiến hành tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để nói xấu, gây mất đoàn kết, hạ uy tín của các cá nhân, tổ chức. Mặt khác, cần có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời cần có quy định cụ thể đối với cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, bị phê bình phải kiên quyết sửa chữa, khắc phục khuyết điểm không để kéo dài; các cá nhân, tổ chức khi được phê bình cần tôn trọng và tiếp thu những đóng góp để đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cho phù hợp. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng. Nêu cao vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thực hiện “trên trước, dưới sau”, làm “từ trong ra, từ ngoài vào”. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình khuyết điểm; thiếu trách nhiệm cả trong phê bình và tự phê bình; chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cục bộ bè phái, mất đoàn kết trong thực hiện tự phê bình và phê bình.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên, nâng cao năng lực dự báo các tình huống, các vấn đề phức tạp, nổi cộm có thể nảy sinh trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện chặt chẽ nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tăng cường công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kiểm tra đảng đột xuất đối với các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm. Kịp thời củng cố, kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có đủ phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và có dũng khí đấu tranh trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định; không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài hoặc lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để gây mất đoàn kết, chia rẽ trong các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.
Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về nhiệm vụ “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh; luôn năng động, sáng tạo, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; đồng thời luôn vững vàng trước những cám dỗ của lợi ích vật chất. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tiếp tục cụ thể hóa nội dung đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt trong công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoặc lợi dụng công tác xây dựng Đảng để đưa ra khỏi Đảng những người không cùng phe cánh, những người mình không ưa thích, hoặc dám đấu tranh phê bình mình.