Thứ Ba, 5 tháng 3, 2024

THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ VÀ HIỆU QUẢ CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ

 


Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Đôn Tuấn Phong cho biết, chuyên đề giám sát "Việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia" đã giúp Ủy ban Đối ngoại cập nhật tình hình, đánh giá đầy đủ và toàn diện việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và ba nước có chung đường biên giới trên đất liền, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện đầy đủ, hiệu quả các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

Góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển

- Thưa ông, Ủy ban Đối ngoại mới đây đã hoàn thành chuyên đề giám sát Việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Đây là chuyên đề giám sát khá đặc biệt về quy mô, thời gian tiến hành và cả địa bàn giám sát. Xin ông cho biết rõ hơn về chuyên đề giám sát này?

Trong hơn ba năm qua, Ủy ban Đối ngoại đã triển khai chuyên đề giám sát Việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Cụ thể, từ năm 2021 đến năm 2022, Đoàn giám sát đã triển khai 5 đoàn khảo sát và giám sát tại 7 tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh). Năm 2023, Đoàn giám sát đã triển khai 2 chuyến giám sát tại 10 tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang), tổ chức hội nghị giám sát; họp, làm việc với các bộ, ngành liên quan trước và sau khi giám sát thực địa. Đầu năm 2024, Ủy ban Đối ngoại đã giám sát thực địa biên giới và tổ chức hội nghị giám sát với 10 tỉnh trên tuyến biên giới giữa Việt Nam với Lào (Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum).

Đây là chuyên đề giám sát có ý nghĩa đặc biệt, lần đầu tiên được triển khai với quy mô toàn tuyến biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với ba nước có chung đường biên giới. Chuyên đề giám sát này đã giúp các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội cập nhật tình hình, đánh giá kết quả, hạn chế trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ và công tác quản lý biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với ba nước láng giềng.

Các kiến nghị, kết luận của Đoàn giám sát đã được lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện. Chuyên đề giám sát này kéo dài hơn so với những chuyên đề giám sát khác của Ủy ban là bởi lẽ Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài gần 5.000 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía bắc, với Lào ở phía Tây và Campuchia ở phía Tây Nam, đi qua 25 tỉnh biên giới của Việt Nam và 21 tỉnh của các nước láng giềng.

Ở một số địa bàn, đoàn giám sát của Ủy ban Đối ngoại thực hiện khảo sát thực địa, kiểm tra cột mốc, đường biên giới tại từng địa phương, từng tỉnh. Thời gian tiến hành chuyên đề giám sát kéo dài là cần thiết để Ủy ban Đối ngoại có cái nhìn đầy đủ, toàn diện, sát thực tiễn về việc thực hiện các cái điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với ba nước có chung đường biên giới trên đất liền.

Chuyên đề giám sát này có ý nghĩa đặc biệt bởi lẽ các vấn đề về biên giới lãnh thổ luôn là vấn đề thiêng liêng và nhạy cảm, được cử tri và Nhân dân đặc biệt quan tâm. Công tác biên giới lãnh thổ rất hệ trọng, liên quan trực tiếp đến chủ quyền biên giới quốc gia; liên quan đến hợp tác của ta với các nước có chung đường biên giới và liên quan đến việc thực hiện các điều ước quốc tế của ta với các nước bạn. Vì vậy, việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và hiệu quả các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ trực tiếp góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; là cơ sở để chúng ta phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới nói riêng cũng như kinh tế - xã hội của đất nước nói chung.

- Chuyên đề giám sát này tập trung vào những nội dung nào, thưa ông?

Đến thời điểm này, chuyên đề giám sát Việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã hoàn thành, với ba nội dung giám sát chính: giám sát bằng văn bản dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, các địa phương có liên quan; làm việc trực tiếp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan và giám sát/khảo sát thực địa.

Đoàn giám sát đã rà soát các Điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với ba nước có chung đường biên giới trên đất liền; rà soát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về biên giới lãnh thổ và các văn bản nhằm tổ chức, triển khai các Điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với ba nước; đánh giá việc tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, phối hợp trong tổ chức thực hiện các Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và các tỉnh có đường biên giới chung với ba nước; đánh giá vai trò, hoạt động và trách nhiệm của các cơ quan hữu quan trong việc chỉ đạo phối hợp, đôn đốc, giám sát việc triển khai công tác quản lý biên giới; đánh giá kết quả công tác phân giới cắm mốc; công tác quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới trên thực tế theo quy định của các Điều ước quốc tế; đánh giá các vi phạm đối với các văn kiện về biên giới trên đất liền và tình hình giải quyết các vi phạm này trên tuyến biên giới Việt Nam với các nước; đánh giá công tác quản lý qua lại biên giới của người dân, phương tiện và hàng hóa; công tác phối hợp với các nước có chung đường biên giới nhằm duy trì, bảo đảm an ninh, trật tự trên vùng biên giới; công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ đường biên giới.

- Qua giám sát, ông đánh giá thế nào về việc thực hiện các Điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với ba nước có chung đường biên giới trên đất liền với nước ta?

Về cơ bản, việc thực hiện các Điều ước về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã được thực hiện tốt trên một số phương diện chính. Cụ thể, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương trong công tác biên giới lãnh thổ được triển khai kịp thời, quyết liệt và tới tận cơ sở. Trong quan hệ với các nước bạn, đặc biệt là trong công tác phân giới cắm mốc, ta đã cơ bản hoàn thành với Trung Quốc; với Lào đã hoàn thành ở giai đoạn hai là tăng dày và tôn tạo các mốc giới; với Campuchia, hai bên đã thống nhất phân giới cắm mốc và hoàn thành được 84% đường biên giới trên đất liền. Như vậy, cơ bản công tác biên giới được thực hiện tương đối tốt với các Điều ước về biên giới lãnh thổ. Công tác quản lý đường biên, mốc giới trên thực địa cũng cơ bản được thực hiện tốt.

Tình hình biên mậu nhìn chung được duy trì, ngoại trừ trong thời gian xảy ra đại dịch Covid-19, trên các tuyến biên giới, hoạt động giao thương bị ảnh hưởng, nhất là hoạt động xuất nhập cảnh bị ảnh hưởng đáng kể; các hoạt động khác diễn ra bình thường. Ở một số khu vực biên giới, tại các cửa khẩu quốc tế, hoạt động xuất nhập cảnh, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng được thực hiện bài bản và từng bước hiện đại hóa.

Công tác quản lý an ninh trật tự, phòng chống tội phạm ở khu vực biên giới đã được lực lượng chức năng của ta và các lực lượng chức năng của các nước bạn đặc biệt quan tâm, không chỉ trong thời gian dịch bệnh mà ngay cả khi chưa có dịch hoặc sau khi đại dịch Covid-19 đã được kiểm soát. Có thể nói đây cũng là một trong những điểm sáng trong công tác biên giới của chúng ta.

- Ông đánh giá thế nào về sự phối hợp giữa các lực lượng chức năng của nước ta với các nước có chung đường biên giới với Việt Nam trong thời gian qua?

Ở các cấp cơ sở đã có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của các nước bạn trong công tác biên giới nói chung và trong thực hiện các Điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ. Chính quyền địa phương cũng như là các cơ quan chức năng, trực tiếp là Bộ đội Biên phòng đã có sự phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với các cơ quan chức năng và chính quyền của phía bạn thông qua rất nhiều cơ chế khác nhau như: các cơ chế giao ban, trao đổi thông tin thường xuyên; cơ chế trao đổi thông tin khi có sự kiện biên giới; cơ chế tuần tra chung; các hình thức giao lưu hữu nghị, kết nghĩa giữa Bộ đội Biên phòng với các lực lượng biên phòng, lực lượng chức năng phía bạn; hay về mặt chính quyền thì có cơ chế kết nghĩa ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và thậm chí là cấp thôn, bản… Tất cả các cơ chế này giúp tạo nên các hình thức phối hợp thường xuyên, khá chặt chẽ giữa ta với các nước bạn, tất nhiên là ở mỗi nơi thì tính chất và mức độ phối hợp có sự khác biệt.

Sẽ tái giám sát để công tác biên giới lãnh thổ ngày càng tốt hơn

- Từ chuyên đề giám sát cho thấy có những khó khăn, hạn chế gì trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa ta với ba nước láng giềng trong thời gian qua, thưa ông?

Qua giám sát, chúng tôi thấy rằng, mặc dù việc thực hiện các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa ta với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã đạt được rất nhiều kết quả tích cực, song bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn, hạn chế nhất định. Cụ thể, việc phân giới cắm mốc chưa hoàn thành được ở một số khu vực; việc quản lý đường biên, mốc giới ở một số khu vực còn gặp nhiều khó khăn do đặc thù địa bàn, ví dụ là ở những vùng núi, rẻo cao của Tổ quốc, không có người dân sinh sống, đường sá đi lại khó khăn dẫn tới những khó khăn chung cho các lực lượng chức năng trong việc tuần tra, bảo vệ đường biên, mốc giới.

Ở một số khu vực đường biên, mốc giới có sự thay đổi vì nhiều lý do: địa hình, khí hậu, thời gian… Một số khu vực đường biên giới ở sông suối thì cột mốc hoặc các cọc dấu có thể bị thay đổi do xói mòn, sạt lở hoặc xuống cấp nghiêm trọng. Đoàn giám sát thấy rằng, cần quan tâm hơn nữa tới các biện pháp gia cố để giữ vững đường biên, cột mốc.

Về công tác quản lý đường biên giới, nhìn chung đã được lực lượng chức năng của chúng ta triển khai quyết liệt, tuy nhiên lực lượng còn rất mỏng, đường biên giới thì dài, đường tuần tra biên giới xuống cấp, chưa được đầu tư tương xứng và phương tiện quản lý biên giới chưa được đổi mới kịp thời.

Cũng qua giám sát cho thấy, việc phát huy vai trò của các cửa khẩu, nhất là các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trong thúc đẩy giao thương, giao lưu nhân dân ở một số khu vực còn hạn chế. Một trong những nguyên nhân là do một số nội dung của các Điều ước quốc tế quy định chưa rõ hoặc đã quy định nhưng chưa được cụ thể hóa. Đơn cử, vấn đề đi lại qua biên giới đối với cư dân ở khu vực biên giới đã được quy định trong các điều ước quốc tế giữa ta với các nước láng giềng.

Theo đó, hai bên thống nhất việc cấp giấy chứng nhận nhằm tạo thuận lợi cho cư dân ở khu vực biên giới của hai nước qua lại giữa hai bên, nhưng trên thực tế, quy định này lại chưa cụ thể hóa là mẫu giấy chứng nhận để một bên công nhận là như thế nào. Hay liên quan tới vấn đề kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới, thực tiễn cho thấy đời sống của một bộ phận cư dân ở khu vực biên giới, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, dẫn tới mức độ gắn bó của nhân dân biên giới với khu vực biên giới đây đó còn có mức độ. Xuất phát từ thực tế này, Đoàn giám sát cho rằng, chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa tới phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới để bà con khu vực biên giới yên tâm bám đất, bám nương để nhân dân biên giới thực sự là những “cột mốc sống”, là lực lượng tại chỗ tham gia bảo vệ đường biên, mốc giới.

- Từ những thực trạng trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia mà Đoàn giám sát thấy được qua chuyên đề giám sát, Ủy ban Đối ngoại đã đưa ra những kiến nghị chính sách gì, thưa ông?

Báo cáo giám sát đã đưa ra một số nhóm kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương: Nhóm kiến nghị thứ nhất là cần tăng cường nguồn lực đầu tư, nhất là các chính sách đặc thù nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới, quan tâm trực tiếp đến người dân sống ở khu vực biên giới. Nhóm kiến nghị thứ hai là tăng cường đầu tư cho các công trình biên giới như: đường tuần tra biên giới, hệ thống đường biên - mốc giới, các kè sông suối... để bảo đảm sự ổn định, vững chắc của đường biên và mốc giới. Nhóm kiến nghị thứ ba liên quan đến việc phát huy vai trò, chức năng của các cửa khẩu, cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu chính… để các cửa khẩu thật sự là những cửa ngõ thông thương, thúc đẩy trao đổi thương mại phát triển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy giao lưu nhân dân ở khu vực biên giới. Ở đây có cả vấn đề về chính sách liên quan đến qua lại cho không chỉ cư dân biên giới mà còn các hoạt động xuất nhập cảnh nói chung. Nhóm kiến nghị thứ tư là đổi mới, tăng cường trang bị thiết bị hiện đại cho các lực lượng trực tiếp làm công tác quản lý biên giới. Đây cũng là nội dung rất cần thiết để bảo đảm đường an ninh, trật tự biên giới. Đường biên giới của chúng ta rất dài, vì vậy, nếu quản lý theo cách truyền thống thì sẽ ngày càng khó hơn và chắc chắn sẽ cần những trang thiết bị hiện đại hơn để thực hiện quản lý biên giới, bảo vệ đường biên, mốc giới hiệu quả hơn.

Tới đây, Ủy ban Đối ngoại cũng sẽ xin chủ trương của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tiếp tục có các hoạt động "hậu giám sát", nhằm tiếp tục giám sát việc thực hiện các kiến nghị của Đoàn giám sát liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ đường biên giới cũng như việc thực hiện các Điều ước quốc tế về biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Đối với những hạn chế, tồn tại mà Đoàn giám sát đã phát hiện, các cơ quan đã thống nhất đây là những vấn đề cần phải giải quyết thì sau khi Đoàn giám sát kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, Ủy ban Đối ngoại sẽ tái giám sát để tiếp tục đánh giá xem những vấn đề đó đã được giải quyết như thế nào; các giải pháp, kiến nghị đã được thực hiện như thế nào; khó khăn, vướng mắc ở đâu để tiếp tục có giải pháp tháo gỡ. Thông qua đó, các địa phương, đơn vị có liên quan có các biện pháp tuyên truyền cần thiết tới cấp ủy, chính quyền, Nhân dân để nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp cơ sở, để bảo đảm thực hiện thống nhất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác biên giới lãnh thổ, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới với ta

TRUYỀN THÔNG UKRAINA LẠI TIẾP TỤC BÔI NHỌ, XÚC PHẠM HÌNH ẢNH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 


Trước tiên, chúng ta quay lại chút về quá khứ.

Ngày 7/11/2017, kênh 24 (24 Канал) của Ukraina đã phát một bộ phim dài 12 phút 48 giây, có tên :"Хо Ши Мін – "богоподібний старець-диктатор" з більшовицьким серцем", có nghĩa là "Hồ Chí Minh- ông già độc tài thần thánh với trái tim bolshevich". Cũng trong ngày này, kênh 24 đã đưa bộ phim này lên kênh Youtube của mình, sau đó đã thu hút hàng vạn người xem và hàng trăm bình luận.

Kênh 24 chính thức phát sóng ngày 1/3/2006, là kênh truyền hình tin tức 24/24 đầu tiên của Uka, là thành viên của tập đoàn truyền thông Lux (Люкс) có chủ sở hữu là vợ của Andrey Sodovoy, nguyên thị trưởng Lvov, ứng viên tranh cử tổng thống Uka năm 2019. Năm 2022, người dẫn chương trình truyền hình của kênh này Fakhrudin Sharafmal đã kêu gọi "giếtnhững đứa trẻ Nga để sau đó chúng không trảthù» 😞

Bài viết về bộ phim này ngày 18/3/2022 của mình có đoạn :

"Nội dung bộ phim này mình đã xem qua, và may mắn sao, trong quá trình này có một người em, tiến sĩ học Odessa về, biết tiếng Ukraina cũng xem và cho biết rõ hơn về nội dung phim. Đoạn đầu của bộ phim, như chính lời giới thiệu của kênh 24 là tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ nhỏ, sang Pháp cho đến khi đến với chủ nghĩa Mác Lenin. Phần sau, là một sự xuyên tạc về cuộc đời của Bác, như lời của kênh 24, khi viết Bác trở thành đặc vụ của Moskva đỏ (Хо Ши Мін спочатку став агентом "червоної" Москви), khi kể về hành trình cách mạng của Bác. Bộ phim cũng xuyên tạc về đời tư của Bác và số lượng các nạn nhân của Cải cách ruộng đất vv...vv...

2. Tưởng mọi việc đã dừng ở đó, khi dư luận VN đã tỏ rõ thái độ phản đối kênh truyền hình này với bộ phim xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhưng không, mới đây nhất, cụ thể là 6 ngày trước, kênh Youtube

FREEДOM. LIVE của Ukraina lại tiếp tục phát một bộ phim mới, dài 16 phút 11 giây, có tên :" Дядюшка ХО: что скрывается за ПРОПАГАНДИСТСКИМ образом ХО ШИ МИНА? | Последний день диктатора", nghĩa là "Bác Hồ: Điều gì che giấu sau hình tượng truyên truyền Hồ Chí Minh?. Ngày cuối cùng của nhà độc tài".

Kênh Youtube này, qua tìm hiểu thuộc sở hữu của trang https://uatv.ua/. Trang này tự giới thiệu là Kênh truyền hình quốc tế Ukraine FREEDOM dành cho những người nói tiếng Nga và đang tìm kiếm sự thật về những gì đang xảy ra ở Uka, Đông Âu, Nga và thế giới, nhằm phổ biến thông tin cân bằng khách quan về tình hình ở Uka và các quốc gia nói tiếng Nga. Đối tác truyền thông của trang này có một số trang, trong đó có website của tổng thống Uka, và trang của Bộ tái hòa nhập các lãnh thổ bị chiếm đóng tạm thời của Uka. Tên miền .ua chứng tỏ nó được đăng ký chính thức ở nước này.

Bộ phim này mình đã xem qua, và không khỏi bàng hoàng vi sự bịađặt, xuyêntạc của các nhà tuyên truyền đối ngoại của Ukraina về vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam. Về đời tư, về quá trình hoạt động cách mạng của Người. Mục đích của các nhà làm phim là quá rõ ràng, khi chỉ chuyên tâm phỏng vấn những nhà đối kháng của chế độ như Dương Thu Hương, Lê Công Định, Đặng Bích Phượng...Họ nói những gì, chắc bạn đọc cũng đã đoán được ra.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao, với mục đích gì mà một kênh truyền hình quốc tế của Uka, với đa số nội dung là chống lại nước Nga lại có thể đầu tư làm một bộ phim xuyên tạc như vậy về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam?

Mình không thể không liên tưởng đến những sự việc diễn ra trong 2 năm trở lại đây ở Uka, khi đã có một cuộc trưng cầu ý kiến để đổi tên trường Hồ Chí Minh ở Kiev (đã thất bại) và đã có quyết định của Chính quyền Kiev tước danh hiệu Công dân danh dự Kiev của đồng chí Trường Chinh (sau đó phải thu hồi lại).

Tháng 4/2022, đã có một cuộc họp báo diễn ra tại Moskva. Bà Maria Zakharova-phát ngôn viên BNG Nga đã trả lời câu hỏi của các nhà báo.

Tạp chí “Đời sống quốc tế”(Международная жизнь) khi đó có hỏi:

“Bà có thể nói gì về phản ứng ở Việt Nam trước việc các ấn phẩm của truyền thông Uka, trong đó Hồ Chí Minh được so sánh với Pol Pot và bị đổ lỗi cho cái chết của hàng trăm ngàn thường dân?”

Bà Maria Zakharova trả lời:

“Đó là một chuyện thật tồi tệ (Это отвратительная история). Xét về một khía cạnh, điều này là bình thường đối với chế độ Kiev và đối với những người đi theo xu hướng xuyên tạc lịch sử. Lần này, nó lại đụng chạm đến Việt Nam, đất nước đã trải qua một chặng đường khó khăn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và đã đạt được những thành công đáng kể về kinh tế - xã hội.

Đối với nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh, Người là lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc đã được toàn thế giới công nhận, là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông đã nhiều lần đến thăm đất nước chúng tôi, là người bạn lớn của đất nước chúng tôi. Thực tiễn (nguyên bản: Ví dụ) Liên Xô đã truyền nhiều cảm hứng cho ông.

Ngày nay, Hồ Chí Minh, với tư cách là một nhân vật lịch sử, được đồng bào của ông yêu mến vô bờ bến, uy tín của Người là điều hiển nhiên trong cộng đồng tiến bộ quốc tế.

Đây là một vị anh hùng dân tộc, nếu như ta chưa nói đến tầm vóc quốc tế của ông. Ông là một người được nhiều thế hệ và nhiều tầng lớp nhân dân, công chúng của một quốc gia cụ thể thừa nhận. Không cần các phương tiện truyền thông của chế độ Kiev thò mũi vào đó với các tiêu chuẩn luật lệ của họ. Thêm một lần nữa, hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa lại xuất hiện ở đây, nó được chế độ ở Kiev“dung nạp” hoặc “lây truyền” kể cả mọi thứ liên quan đến nó. Lật bên phải và lật bên trái là sự bôi nhọ quá khứ của các quốc gia khác”.

Uka có thể bài trừ những di sản của ông cha, có thể lật đổ hàng trăm hàng nghìn bức tượng các chiến sĩ Hồng quân giải phóng quê hương khỏi ách phatxit, có thể dựng tượng tôn vinh phatxit Bandera....nhưng đừng quá trớn, động chạm đến vị lãnh tụ của Việt Nam.

Ngạn ngữ Ukraina có câu:" "Топчи правду в калюжу, а всеж вона чиста буде"(Giẫm đạp sự thật trong vũng bùn, nhưng nó vẫn sẽ trong sạch).

Những ai muốn xuyên tạc, đổi trắng thay đen hãy luôn nhớ tới điều đó !

Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí đặc biệt của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người rất coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Người thường xuyên động viên tuổi trẻ tu dưỡng đạo đức, không ngừng học tập vươn lên để xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà.

Quan điểm Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên

Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm sức vì sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam thành lớp chiến sĩ cách mạng kiên cường, anh dũng. Xuất phát từ sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, khách quan vai trò, vị trí của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, Người đặc biệt quan tâm vấn đề giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên, “đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên"(1). Đây chính là sự tổng kết lý luận và thực tiễn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra từ lịch sử nhân loại, dân tộc và cũng là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá thanh niên với tất cả những ưu điểm vốn có của họ, coi họ là “bộ phận quan trọng của dân tộc”, là “lực lượng nòng cốt để xây dựng xã hội mới”. Người cho rằng, thanh niên chính là lực lượng xung kích trong mọi công việc. “Việc gì khó có thanh niên, ở đâu khó có thanh niên”(2) và để kế thừa được truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước, kế thừa sự nghiệp cách mạng, nhất thiết thanh niên phải có đạo đức cách mạng. Trong mối quan hệ giữa đạo đức với tài năng, Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là gốc, nó quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết, nhờ đó mà đạo đức góp phần to lớn vào việc quyết định sự thành bại của cách mạng nước ta.

Chính vì vậy, Người luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Một mặt, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò và sức mạnh của thanh niên, nhưng mặt khác, Người cũng thẳng thắn nêu lên những nhược điểm, những thiếu sót của thanh niên. Đó là sự thiếu từng trải, thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, một số chưa chịu khó học tập, mắc bệnh hình thức, bệnh cá nhân, tự cao, tự đại… Người yêu cầu mọi thanh niên phải chống tâm lý tư lợi, ham sung sướng, tránh khó nhọc, chống thói quen xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay; chống bệnh lười biếng, xa xỉ; chống kiêu ngạo, giả dối, hình thức, khoe khoang… Phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu là con đường để tự hoàn thiện nhân cách của thanh niên. Muốn làm được điều đó, thanh niên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện và học tập để làm người và phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho tuổi trẻ là nhằm giúp họ trở thành những công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ xứng đáng của đất nước và là người cách mạng chân chính… Đó là những con người “vừa có đức, vừa có tài” hoặc “vừa hồng, vừa chuyên”. Bởi, trong mối quan hệ đức - tài, hồng - chuyên, Người coi “đạo đức là cái gốc của người cách mạng” và Người dạy, thanh niên ta phải thấm nhuần tinh thần làm chủ nước nhà và phải trau dồi đạo đức của người cách mạng. Đặc biệt, mục đích quan trọng hàng đầu của giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên là để tạo nguồn cán bộ cho cách mạng.

Người căn dặn kỹ, phải giáo dục họ “luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”(3), đó chính là những giá trị tốt đẹp trong phẩm chất của một người cách mạng chân chính. Giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng cống hiến hết mình để bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc, cho nhân dân, xây dựng và phát triển đất nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người”(4).

Thanh niên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong thời kỳ mới, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(5). Mục tiêu đặt ra là: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hoá, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể trở thành những công dân tốt của đất nước”(6).

Thực hiện lời dạy của Chủ tich Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta coi công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, Đảng thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo, phát triển toàn diện thế hệ trẻ cả về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe và nghề nghiệp. Đồng thời tạo mọi điều kiện để thanh niên có việc làm, phát huy tài năng, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác thanh niên và giáo dục thế hệ trẻ đã được triển khai, đạt nhiều kết quả. Hệ thống pháp luật, công tác quản lý nhà nước về thanh niên ngày càng được hoàn thiện. Giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ không ngừng được tăng cường và đổi mới. Nhờ đó trong các thời kỳ cách mạng, thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, có tinh thần yêu nước, hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, kế tục và phát huy truyền thống cách mạng của thế hệ đi trước. Thông qua các hoạt động giáo dục, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước đã tạo môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách. 

Thanh niên Việt Nam ngày nay có hạnh phúc được sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Họ đã và đang thừa hưởng những thành quả đấu tranh do cha ông để lại. Họ đang đi theo con đường mà dân tộc, Đảng, Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Họ cũng đang tiếp tục thực hiện những quan điểm định hướng cho việc giáo dục đào tạo thanh niên của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xứng đáng trở thành những chủ nhân tốt của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới. Nhìn chung, thế hệ trẻ Việt Nam được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ngày một tốt hơn; phần lớn thanh niên tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, thanh niên ngày nay đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi, đi đầu trong các phong trào thi đua sôi nổi, như các phong trào: “thanh niên lập nghiệp”, “tuổi trẻ giữ nước”, “thanh niên tình nguyện”..., góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Thế hệ thanh niên ngày nay đã kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang xuất hiện những nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ thuật có đức, có tài trong độ tuổi thanh niên. Nét nổi bật của thanh niên nước ta là ý chí vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.

Tuyệt đại bộ phận thanh niên vẫn là cánh tay đắc lực của Đoàn, cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành mạnh, biết vươn lên. Thanh niên sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ dám đấu tranh để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự công bằng, lên án cái xấu, cái ác như tham nhũng, lãng phí… Những tấm gương cao đẹp hy sinh thân mình vì hạnh phúc của nhân dân luôn được tuổi trẻ ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Điều đó cho thấy, thanh niên nước ta ngày nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mong ước.

Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức của hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt những âm mưu thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng, sa ngã, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước, không muốn tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội, không muốn phấn đấu vào Đoàn, vào Đảng. Một số thanh niên phạm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Nhiều vụ án được khám phá trong thời gian gần đây cho thấy tỷ lệ phạm tội trong thanh niên có chiều hướng gia tăng. Điều nguy hiểm hiện nay là đã xuất hiện một bộ phận thanh niên tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất, coi trọng đồng tiền; tỏ ra lười học tập và rèn luyện, không có động cơ học tập đúng đắn, thiếu sự tự giác phấn đấu rèn luyện…

Một số giải pháp tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên hiện nay

Để thực hiện lời dạy của Bác Hồ về rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, quán triệt sâu sắc hơn nữa chủ trương của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ theo tinh thần Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015-2030”. Tổ chức đoàn, hội chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Trước những diễn biến của thời đại ngày nay, cần chú trọng nội dung giáo dục thanh niên về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường giáo dục cho thanh niên nắm vững tính cách mạng, khoa học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc; về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế trong sáng của thanh niên; về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, củng cố tổ chức đoàn vững mạnh, làm cơ sở để thực hiện tốt chức năng giáo dục thanh niên. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh “phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(7). Để tập hợp, thu hút được đông đảo thanh niên, trước hết, Đoàn phải chủ động xây dựng chương trình hành động, kế hoạch công tác ngay từ đầu năm, ký kết chương trình liên tịch phối hợp hoạt động với các tổ chức đoàn thể - hội nhằm cụ thể hóa nghị quyết của cấp ủy đảng, lãnh đạo của địa phương, đơn vị mình và của đoàn cấp trên, nghị quyết đại hội đoàn cấp mình. Chủ động tham mưu cho cấp ủy đảng về cơ chế, nội dung trong công tác đoàn và phong trào thanh niên, trong chỉ đạo các hoạt động phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể, hội để thực hiện tốt công tác thanh niên; đặc biệt, phải chủ động nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng, nhu cầu tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, đề xuất của từng đoàn viên thanh niên để khuyến khích thanh niên tự giác tham gia các hoạt động đoàn.

Ba là, tăng cường giáo dục cho thanh niên hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường; giáo dục, xây dựng tình bạn, tình yêu chân chính, trong sáng, lành mạnh; xây dựng ý thức công dân, chấp hành pháp luật, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giá trị nhân văn cao đẹp của con người Việt Nam..., làm cho thanh niên có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về những vấn đề lý luận, thực tiễn xã hội đặt ra, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bốn là, gắn bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên với các phong trào thực tiễn. Đặc biệt là triển khai hiệu quả ba phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” cho phù hợp với đặc thù của từng nhóm thanh niên ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Cùng với đó, các cấp ủy, chính quyền và nhất là tổ chức đoàn các cấp cần tổ chức và có cơ chế khuyến khích thanh niên tích cực hơn nữa trong việc tham gia vào các hoạt động có ích cho xã hội như: giúp đỡ người neo đơn, hiến máu nhân đạo, thanh niên tình nguyện, các hoạt động uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa... Tham gia những hoạt động đó sẽ cho giúp thanh niên sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn cho bản thân và có ích cho cộng đồng. 

Năm là, các cấp ủy đảng, tổ chức đoàn cần phát huy vai trò của thanh niên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức, lối sống, hình thành cho thanh niên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho thanh niên. Bên cạnh đó, cần quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của thanh niên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luyện đạo đức, lối sống.

Mỗi thanh niên cần xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng. Thanh niên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”.

 

KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG - CUỘC KHỞI NGHĨA ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM DO PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO

 


Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm, gìn giữ đất nước Việt Nam có nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu chống ngoại xâm, bảo vệ và thống nhất đất nước, trong đó nổi bật là cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng.

Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, con gái quan Lạc tướng Mê Linh (miền Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện, người làng Nam Nguyễn - Ba Vì - Sơn Tây - Hà Nội. Chồng mất sớm, bà Man Thiện một mình nuôi dạy hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị; bà dạy cho con nghề trồng dâu, nuôi tằm; dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khỏe và võ nghệ.

Trưng Trắc là một phụ nữ đảm đang, dũng cảm, mưu trí. Chồng bà là Thi Sách, con trai quan Lạc tướng huyện Chu Diên (Hà Nội). Gia đình Thi Sách là một gia đình yêu nước, có thế lực ở đất Chu Diên.

Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn được nhân dân Mê Linh tin phục. Từ lâu, hai chị em bà vẫn căm thù cuộc sống bạo ngược của viên thái thú nhà Đông Hán là Tô Định. Chính sách bạo ngược này thực ra là chính sách áp bức, bóc lột của nhà Đông Hán với toàn bộ người Âu Lạc, từ lạc tướng cho đến nô lệ.

Cuộc hôn nhân giữa Trưng Trắc và Thi Sách làm cho thế lực của bà - thế lực đối lập với chính quyền do Tô Định là đại biểu - lại càng lớn mạnh. Để tước bớt thế lực của gia đình Trưng Trắc đã lan ra khắp miền đất Vĩnh Phúc, Tô Định đã tìm cách giết chết Thi Sách. Hành vi bạo ngược của Tô Định không làm cho Trưng Trắc sờn lòng, mà trái lại càng làm cho bà thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, áp bức của nhà Đông Hán, khôi phục độc lập, "đền nợ nước, trả thù nhà".

Bà Trưng đã đặt nợ nước lên trên thù chồng. Trên dàn thề trước ba quân, bà nêu rõ 4 mục tiêu của cuộc khởi nghĩa:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này.

Tháng 2 năm Canh Tý (năm 40), Trưng Trắc cùng với em gái là Trưng Nhị phát động khởi nghĩa ở cửa sông Hát (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ - Hà Nội). Những người yêu nước khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa ở Mê Linh. Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến về xuôi, tiến đánh Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) - thủ phủ của chính quyền nhà Đông Hán ở Giao Chỉ. Chế độ áp bức của nhà Hán bị quật đổ, Luy Lâu được giải phóng.

Từ lâu người Việt Nam và các tộc người khác ở quận Giao Chỉ, quận Cửu Chân (nay là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), quận Nhật Nam (nay là miền đất từ dãy Hoành Sơn đến Quảng Nam) vô cùng căm giận chế độ áp bức, bóc lột tàn tệ của nhà Đông Hán. Cho nên khi chính quyền nhà Đông Hán bị đánh đổ ở Luy Lâu thì nhân dân trong các quận này hào hứng tham gia cầm vũ khí chống lại lũ quan lại và quân lính nhà Đông Hán.

Được nhân dân khắp nơi ủng hộ, hưởng ứng, nghĩa quân của Hai Bà Trưng đi đến đâu, chính quyền và quân đội nhà Đông Hán tan vỡ đến đấy. Các dân tộc Mán, Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông) đều hưởng ứng. Bọn Tô Định, Thứ sử, Thái thú của nhà Đông Hán thấy nghĩa quân nổi lên như vũ bão, đều hoảng sợ và theo nhau bỏ chạy về Trung Quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, các cuộc khởi nghĩa địa phương được thống nhất thành một phong trào nổi dậy rộng lớn của quần chúng ở khắp nơi, từ miền xuôi đến miền ngược, bao gồm cả người Việt và các dân tộc khác trong nước Âu Lạc cũ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã giải phóng được 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó. Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập. Trưng Trắc được suy tôn làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh:

Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.

Hiểu rõ sự thống khổ của nhân dân nên khi lên ngôi vua, mặc dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng Trưng Vương đã có những quyết sách quan trọng như: ra lệnh miễn thuế khóa cho nhân dân trong hai năm, xóa bỏ chế độ lao dịch và binh pháp cũ... Anh hùng dân tộc Trưng Vương đã lập nên và giữ vững nền độc lập, quyền tự chủ dân tộc trong gần 3 năm.

Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã lật nhào chính quyền nhà Đông Hán ở Giao Chỉ và Cửu Chân. Tin này đưa về triều đình nhà Hán. Vua Quang Vũ nhà Hán chuẩn bị cuộc phản công. Năm 42, Quang Vũ sai Phục ba tướng quân là Mã Viện, Lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem quân ở các miền Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô sang nước Âu Lạc đánh Trưng Vương.

Bộ binh của Mã Viện và thủy binh của Đoàn Chí gặp nhau ở Hợp Phố. Ở đây Đoàn Chí mắc bệnh rồi chết, Mã Viện thống suất cả thủy binh của Đoàn Chí. Mã Viện cùng quân đội men theo bờ biển tiến vào Âu Lạc. Đầu tiên quân Hán vào miền đất là tỉnh Hồng Quảng.Từ Hồng Quảng, quân Hán ngược sông Bạch Đằng tiến đến Lục Đầu, sau đó tiến vào Lãng Bạc - Tiên Du - Bắc Ninh.

Được tin quân xâm lược nhà Hán do Mã Viện chỉ huy tiến vào Lãng Bạc, Trưng Vương cùng em là Trưng Nhị đem quân từ Mê Linh đánh Mã Viện. Tại đây đã diễn ra một cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân ta và bè lũ xâm lược. Quân của Trưng Vương chiến đấu rất dũng cảm, song do thế yếu nên bị thua, phải lui về Cẩm Khê (Yên Lạc - Vĩnh Phúc). Mã Viện đem quân đuổi theo. Sau gần 1 năm anh dũng chống địch, cuối cùng vì sức yếu, quân ta tan vỡ. Hai Bà Trưng về Hát Môn (Phúc Thọ - Hà Nội) rồi gieo mình xuống dòng Hát giang tự tận. Đến đây cuộc kháng chiến do Hai Bà Trưng lãnh đạo về căn bản đã thất bại, nhưng ở nhiều nơi nhân dân và nghĩa quân vẫn tiếp tục chống giặc. Ở quận Cửu Chân, một bộ phận của nghĩa quân do Đô Đương chỉ huy vẫn tiếp tục chiến đấu chống quân xâm lược nhà Đông Hán.

Tháng 11/43, Mã Viện mở đường qua Tạc Khẩu (Yên Mô - Ninh Bình) tiến quân vào Cửu Chân đàn áp nghĩa quân. Các thủ lĩnh địa phương cùng nhân dân nơi đây tiếp tục chiến đấu anh dũng. Hàng trăm thủ lĩnh, hàng ngàn nghĩa quân bị Mã Viện tàn sát. Đất nước ta lại mất quyền độc lập.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy chỉ đưa lại độc lập cho đất nước trong gần 3 năm nhưng ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa ấy lại vô cùng vĩ đại, tiếng vang của nó đời đời bất diệt.

Hai Bà Trưng là biểu tượng của ý chí hiên ngang và khí phách quật cường của dân tộc ta; thể hiện truyền thống yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt Nam "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh" trong những năm 40 sau Công nguyên. Phụ nữ Việt Nam ngay từ thời cổ đại không những khẳng khái, bất khuất mà còn có khả năng lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Cuộc khởi nghĩa của hai Bà là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do phụ nữ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nổ ra làm chấn động cả cõi Nam. Từ trong ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy tỏa ra chân lý lịch sử: "Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng tự mình đã dựng nên, làm chủ đất nước và số phận mình. Không một sức mạnh nào tiêu diệt được nó". Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm, lúc công khai của nhân dân Việt Nam. Đấy là một phong trào nổi dậy của toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ.

Cuộc khởi nghĩa của hai Bà tiêu biểu cho ý chí vươn lên của dân tộc ta, khai mào cho xu thế phát triển của lịch sử Việt Nam. Nó có tác dụng mở đường, đặt phương hướng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau này. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một trang sử vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó làm rạng rỡ dân tộc ta nói chung và làm vẻ vang cho phụ nữ nói riêng. Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về Hai Bà Trưng!

Những chiến sĩ lái xe đường Trường Sơn

 



- Trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những đoàn xe vận tải luôn là mục tiêu đánh phá số 1 của máy bay địch...

Những nhiệm vụ “cảm tử”

Mỗi lần trở lại với tuyến đường 20 Quyết Thắng, hình ảnh những chiếc xe vận tải xuyên qua làn mưa bom, bão đạn của đế quốc Mỹ trên tuyến đường này năm xưa lại trở lại vẹn nguyên trong ký ức của cựu chiến binh Lê Hồng Huân. Năm 1963, chàng thanh niên Lê Hồng Huân tạm biệt Thủ đô lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện, ông nhận nhiệm vụ lái xe vận tải tại Đại đội 4, Tiểu đoàn vận tải 52 với nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường 20 Quyết Thắng. Tuyến đường có cụm trọng điểm liên hoàn gồm cua chữ A, ngầm Tà Lê và đèo Phu La Nhích (gọi tắt là A-T-P). Đây là “túi bom”, “tọa độ lửa” mà không quân Mỹ tạo ra để ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam của ta. “Có thể thấy rõ, bom đạn làm cho những quả đồi bị bạt thấp hẳn đi, mặt đường bị cày đi xới lại, cây cối cháy rụi, rừng già biến thành đồi trọc… Cảnh tượng hoang tàn như vùng đất chết”, ông Huân kể lại.

Năm 1967, Đại đội 4 của ông Huân được lệnh vận chuyển một lô hàng qua A-T-P với khối lượng cần 4 chuyến xe mới chở hết. Ông Huân báo cáo cấp trên nhận trách nhiệm một mình vận chuyển lô hàng mà không cần điều động cùng lúc 4 chiếc xe, vì dễ làm lộ mục tiêu cho máy bay địch đánh phá và cũng để đồng đội có thời gian nghỉ ngơi. Trong một đêm, với 4 chuyến hàng, 8 lượt đi, về qua A-T-P, ông Huân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm an toàn phương tiện, hàng hóa và con người. Đây là một kỷ lục được lan truyền rộng rãi trên khắp những cung đường vận tải của bộ đội Trường Sơn. Sau chiến công này, ông được đồng đội đặt biệt danh là “Con sóc Hà Nội - Con sóc Trường Sơn”.

Cũng trong năm 1967, tiểu đội xe do ông Lê Hồng Huân làm tiểu đội trưởng được giao nhiệm vụ thí điểm chạy xe cả ban ngày lẫn ban đêm qua A-T-P do yêu cầu đẩy nhanh tiến độ đưa hàng hóa chi viện cho chiến trường và làm cho địch không đoán định được việc tổ chức vận tải của ta. Chiếc xe cũng được bố trí súng máy 14,5mm trên thùng để sẵn sàng đánh trả máy bay, bảo vệ hàng hóa. Đây có thể nói là một nhiệm vụ “cảm tử” vì vận chuyển ban ngày rất dễ bị lộ, trở thành mục tiêu đánh phá của địch. Và rồi người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Với chiến công của mình, ông Huân được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được kết nạp Đảng. Cũng chính chiếc xe GAZ-63 do ông Huân điều khiển là chiếc xe đầu tiên của Đoàn 559 được thí điểm sử dụng đèn gầm “Con rùa” để chạy ban đêm.

Trên đường Trường Sơn huyền thoại vào những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, có lẽ không ai là không biết đến Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Tiến (Trung đội 3, Đại đội 2, Tiểu đoàn 101, Binh trạm 31). Hình ảnh sống động về chiếc xe vận tải Zil 157 của ông chính là cảm hứng để nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác bài thơ “Tiểu đội xe không kính” nổi tiếng. Ngày cũng như đêm, dù có hôm bị sốt rét ác tính, ông vẫn cần mẫn chở từng chuyến hàng vượt qua mưa bom, bão đạn. Theo yêu cầu của đơn vị, mỗi chiến sĩ thực hiện 3 đêm/1 chuyến, nhưng bằng sự anh dũng và nỗ lực không mệt mỏi, ông đã liên tục trong 1.000 ngày đêm vận chuyển vượt chỉ tiêu 300%. Có tháng, ông vận chuyển 32 chuyến, đưa hàng đến địa điểm tập kết an toàn.

Mưu trí lừa máy bay địch

Được tôi luyện trong bom đạn, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Tiến nắm rõ những quy luật đánh phá của máy bay địch để tìm phương án đối phó. Ông kể, để không bị máy bay địch phát hiện, nếu trong điều kiện có ánh trăng thì xe không bật đèn gầm, chiến sĩ lái xe chỉ dựa vào đôi mắt. Đặc biệt, khi đi qua sông thì xe phải tắt hết đèn để tránh bị máy bay địch phát hiện do ánh sáng phản chiếu trên mặt nước. Khi xe vượt dốc cũng phải tắt hết đèn... Đặc biệt, một lần ông đã “chống lệnh” cấp trên để bảo đảm an toàn cho người, phương tiện, hàng hóa. Hôm đó, đơn vị chở hàng tiếp cận trọng điểm đánh phá của địch lúc gần 19h. Xe của ông dẫn đầu cả đoàn. Lúc này, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh tiếp tục lên đường nhưng ông Tiến không đồng ý vì ông biết quy luật thường đến 19h máy bay địch sẽ ném bom đánh phá khu vực này. Quả đúng vậy, đến 19h, hàng đàn máy bay Mỹ ào đến trút bom lên trọng điểm. Hôm sau, đích thân Chính ủy Binh trạm 31 đã tặng ông Tiến bằng khen và một chiếc đồng hồ, phần thưởng xứng đáng cho người chiến sĩ lái xe có nhiều kinh nghiệm, bản lĩnh...

Năm 1970, tình nguyện nhập ngũ với lá đơn được ký bằng máu, cựu chiến binh Nguyễn Khắc Bổng được học lái xe 6 tháng rồi nhận công tác tại Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 536, Sư đoàn vận tải 471. Quá trình lái xe vận tải trên đường Trường Sơn, ông đã tham gia chuyển hàng hóa, đạn dược cho hai chiến dịch lớn là Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Đối với ông Bổng và những chiến sĩ lái xe trong thời kỳ này, đối thủ cần cảnh giác nhất là loại máy bay C-130 của Mỹ. Loại máy bay này thường xuyên tuần tiễu trên không, khi phát hiện dấu hiệu xe vận tải thì lập tức sử dụng pháo, súng máy tự động có độ chính xác cao để tiêu diệt mục tiêu. Có những lần xe bị trúng đạn bốc cháy, ông Bổng còn lao vào cứu những thùng đạn, bất chấp hiểm nguy.

Không để xe, hàng hóa trở thành bia bắn di động cho máy bay địch, ông Bổng và đồng đội đã nghĩ ra nhiều phương pháp ngụy trang cho xe. “Để đối phó với những vũ khí công nghệ cao của địch, kinh nghiệm lái xe của tôi là cứ di chuyển khoảng 10-20km thì dừng xe, tắt máy cho động cơ nguội bớt nhằm hạn chế nguy cơ bị máy dò nhiệt trên máy bay địch phát hiện”, ông Bổng kể.

Không quản ngại vất vả, hy sinh, những chiến sĩ lái xe trên đường Trường Sơn đã vận dụng sáng tạo kinh nghiệm trong chiến đấu, vượt qua bom đạn, vũ khí công nghệ cao của địch, đưa hàng hóa, đạn dược từ hậu phương chi viện cho chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước... "Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/Chỉ cần trong xe có một trái tim” - nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết về họ như thế - để rồi, những trái tim ấy mãi nóng hổi đến ngày hôm nay…