Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 


Thứ nhất, quan điểm về hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là nội dung rất quan trọng của nhiệm vụ đối ngoại. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Tới Đại hội XIII có sự bổ sung: “Triển khai đồng bộ sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”. Đảng ta coi hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác từng bước mở rộng, nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng, thực hiện các chuẩn mực chung bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc.

Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn các đặc điểm của môi trường quốc tế cũng như các hệ thống công cụ, quyền lực được sử dụng để chi phối, kiểm soát trong quá trình hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế không giới hạn trong một phạm vi và một lĩnh vực nào của đời sống quốc tế mà nó lan tỏa ở mọi cấp độ, mọi lĩnh vực trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Tham gia vào mọi mặt đời sống quan hệ quốc tế là phải tham gia vào các quá trình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Hội nhập quốc tế vừa là đòi hỏi khách quan của thời cuộc nói chung, vừa là nhu cầu nội tại của mỗi nước, trong đó có nước ta.

Thứ ba, giữ vững độc lập tự chủ, chủ quyền quốc gia trong hội nhập

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khảng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả với lợi ích quốc gia dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia”. Đảng ta ngày càng nhận thức rõ, trong quá trình hội nhập quốc tế vấn đề bức thiết đặt ra là phải giữ vững độc lập tự chủ của đất nước, phải xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đây là mối quan hệ cơ bản, đa diện, đa chiều trong khi tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, nước ta lại hội nhập ngày càng rộng, càng sâu vào các lĩnh vực của đời sống quốc tế. Việc ký kết và thực hiện hàng loạt những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới càng đòi hỏi việc giải quyết, xử lý mối quan hệ này một cách bài bản, linh hoạt và hiệu quả.

 

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ PHƯƠNG CHÂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ ĐỐI NGOẠI

 

Thứ nhất, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Từ việc coi “đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại”, Đảng ta đã từng bước chuyển sang định hướng đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ. Từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, “là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”: Đa dạng hóa, đa phương hóa, đan xen lợi ích với các đối tác giúp cho việc tăng cường độc lập, tự chủ thông qua sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa nước ta và các nước; về mặt kinh tế, giúp ta tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác nhất định. Về chính trị, đa dạng hóa và đa phương hóa giúp ta tránh bị lôi kéo, ép buộc trong quan hệ với các nước khác. Chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và mọi vùng lãnh thổ trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị – xã hội.

Thứ hai, nhận thức mới về “đối tác, đối tượng”. Đảng ta đổi mới nhận thức một cách rõ ràng, chuyển cách nhìn biện chứng và thực tế chuyển từ tư duy bạn, thù sang tư duy đối tác và đối tượng trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc trong từng hoàn cảnh cụ thể; thấy rõ sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng, đối tác; xác định lấy đối tác làm cơ sở để thiết lập quan hệ quốc tế rộng rãi; đồng thời đấu tranh với đối tượng, với mặt đối tượng. Phương châm “đối tác – đối tượng” thể hiện tư duy mềm dẻo là cơ sở để xử lý một cách hiệu quả các quan hệ lợi ích đa chiều, chằng chịt và phức tạp hiện nay trên trường quốc tế. Khi đã là bạn, là đối tác tin cậy với các nước, để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, cần nhận rõ trong đối tác có đối tượng và trong đối tượng có đối tác. Phương châm này giúp ta tận dụng cơ hội hợp tác, đồng thời thấy rõ hơn về sự khác biệt về lợi ích để tìm các giải pháp khả thi nhất đưa quan hệ đi lên, không bỏ lỡ cơ hội hợp tác nhưng cũng không lơ là mất cảnh giác. Đây cũng là một định hướng quan trọng để nhiệm vụ đối ngoại gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, hợp tác và đấu tranh. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về thời đại và tình hình thế giới, khu vực, Đảng ta xác định phương châm và định hướng cho nhiệm vụ đối ngoại là hợp tác và đấu tranh. Dòng chủ lưu trong giai đoạn hiện nay của thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong khi nhận rõ hợp tác và phát triển là xu thế và thay cho đối đấu là hợp tác, thì đồng thời không mơ hồ chỉ thấy hợp tác một chiều. Hợp tác đồng thời phải đi đôi với đấu tranh, cạnh tranh để bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia; đồng thời đấu tranh, cạnh tranh để hợp tác, không dẫn tới đối đầu.

Thứ tư, kiên quyết, kiên trì. Đây cũng là một trong những phương châm, định hướng quan trọng mà Đảng ta lần đầu tiên chỉ rõ trong Đại hội XII: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Lịch sử cho thấy, giữa các quốc gia láng giềng thường có những mâu thuẫn, xung đột về lợi ích hoặc tranh chấp lãnh thổ do lịch sử để lại. Giải quyết các vấn đề đó phải có sự nỗ lực và thiện chí của tất cả các bên liên quan bằng nhiều phương án, giải pháp và nhất là không thể ngày một, ngày hai đã có thể ổn thỏa nên nhất định phải kiên quyết, kiên trì. Đây cũng là vấn đề mang tính nguyên tắc đặt ra đối với nhiệm vụ đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình” và “bảo vệ vững chắc Tổ quốc”. Nếu giữ vững được môi trường hòa bình thì chúng ta sẽ thêm bạn, bớt thù, đóng góp trực tiếp vào việc bảo vệ Tổ quốc từ xa và giữ nước từ khi nước chưa lâm nguy.

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ NỘI DUNG CỦA NHIỆM VỤ ĐỐI NGOẠI


Thứ nhất, Đảng ta nhận thức và đi tới xác định ngày càng cụ thể những nội dung cụ thể của nhiệm vụ đối ngoại. Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới”.

Thứ hai, quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng ta là triển khai thực hiện nhiệm vụ đối ngoại để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đối ngoại để phục vụ đối nội. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy các quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, xác định rõ mục tiêu tối thượng và mục tiêu hàng đầu của nhiệm vụ đối ngoại. Nhận thức của Đảng ngày càng rõ hơn và sâu sắc hơn khi xác định mục tiêu tối thượng khi thực hiện nhiệm vụ đối ngoại là lợi ích quốc gia, dân tộc, mục tiêu phát triển được đặt lên hàng đầu; vai trò của nhiệm vụ đối ngoại với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc được đặc biệt coi trọng. Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Thứ tư, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại theo cả chiều rộng và chiều sâu: Để triển khai nhiệm vụ đối ngoại ngày càng hiệu quả hơn, Đảng ta coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và đưa các mối quan hệ hợp tác vào chiều sâu, mỗi bước mở rộng quan hệ hợp tác đều gắn với việc làm sâu sắc hơn, hiệu quả hơn, đều nhằm củng cố thực lực trong nước và bảo vệ vững chắc chế độ của nước ta. Vì vậy, Đảng ta xác định một cách cụ thể, xác thực trong nhiệm vụ đối ngoại: “Chú trọng quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”.

Cùng với việc cụ thể hoá nhiệm vụ công tác đối ngoại, Đảng ta xác định rõ hơn vai trò của hoạt động đối ngoại. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”.

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC VỀ NỘI DUNG CỦA NHIỆM VỤ ĐỐI NGOẠI

Thứ nhất, Đảng ta nhận thức và đi tới xác định ngày càng cụ thể những nội dung cụ thể của nhiệm vụ đối ngoại. Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới”.

Thứ hai, quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng ta là triển khai thực hiện nhiệm vụ đối ngoại để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đối ngoại để phục vụ đối nội. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm thúc đẩy các quan hệ kinh tế, tăng cường hợp tác kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ ba, xác định rõ mục tiêu tối thượng và mục tiêu hàng đầu của nhiệm vụ đối ngoại. Nhận thức của Đảng ngày càng rõ hơn và sâu sắc hơn khi xác định mục tiêu tối thượng khi thực hiện nhiệm vụ đối ngoại là lợi ích quốc gia, dân tộc, mục tiêu phát triển được đặt lên hàng đầu; vai trò của nhiệm vụ đối ngoại với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc được đặc biệt coi trọng. Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Thứ tư, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại theo cả chiều rộng và chiều sâu: Để triển khai nhiệm vụ đối ngoại ngày càng hiệu quả hơn, Đảng ta coi trọng việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và đưa các mối quan hệ hợp tác vào chiều sâu, mỗi bước mở rộng quan hệ hợp tác đều gắn với việc làm sâu sắc hơn, hiệu quả hơn, đều nhằm củng cố thực lực trong nước và bảo vệ vững chắc chế độ của nước ta. Vì vậy, Đảng ta xác định một cách cụ thể, xác thực trong nhiệm vụ đối ngoại: “Chú trọng quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác lớn, đối tác quan trọng. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh. Mở rộng, làm sâu sắc hơn và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”.

Cùng với việc cụ thể hoá nhiệm vụ công tác đối ngoại, Đảng ta xác định rõ hơn vai trò của hoạt động đối ngoại. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”.

VAI TRÒ TO LỚN CỦA CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

 


Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những yếu tố quan trọng có tính quyết định cho sự thành công đó chính là thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới và của đường lối đối ngoại, mở cửa hội nhập quốc tế.

Có thể khẳng định những thành công của chặng đường gần 40 năm đổi mới đất nước luôn đồng hành với quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế. Đảng ta, người phát động và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế đã tỏ rõ bản lĩnh và trí tuệ trong việc đón bắt cả ba yếu tố: thiên thời - địa lợi - nhân hòa để đưa đất nước ta vươn tầm cao mới. Đổi mới như một sức sống mãnh liệt ngày càng lan tỏa, ngày càng đi vào bề rộng và chiều sâu của đời sống xã hội, làm mới mẻ, rõ ràng, mạch lạc hơn cách nhìn nhận; đổi mới cách nghĩ, cách làm để biết mình, biết người hơn; khắc phục những nhận thức lệch lạc, từng bước hình thành, xác lập những mục tiêu, bước đi cũng như cách thức phát triển đất nước phù hợp với xu thế của thời đại và đặc thù của đất nước.

Mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế chính là sự vươn xa, tiếp thu chắt lọc cái hay, cái đẹp của nhân loại để tôn tạo đất nước, biến khó thành dễ, biến cái chưa thể thành có thể, nhân lên sức mạnh đang có, tiếp thu thêm nguồn lực mới phong phú từ bên ngoài. Đi đôi với việc phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, động viên mọi nguồn lực bên trong, mở rộng quan hệ đối ngoại để khai thác những điều kiện thuận lợi mới trong quan hệ với bên ngoài, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Xác định rõ sự nghiệp đổi mới đất nước song hành với nhiệm vụ mở cửa, đối ngoại, hội nhập quốc tế nên sau 5 năm phát động công cuộc đổi mới, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời ký quá độ nên Chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng ta nêu rõ: Mục tiêu chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991, Cương lĩnh của Đảng năm 2011 đã xác định rõ và cụ thể nhiệm vụ đối ngoại là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trước sau như một ủng hộ các Đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tăng cường hiểu biết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Phấn đấu cùng các Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh”.

Như vậy, Cương lĩnh 2011 của Đảng đã xác định một cách cơ bản, toàn diện nhiệm vụ đối ngoại từ nguyên tắc, mục tiêu, phương châm và định hướng lớn cũng như những nội dung cụ thể. Đó là những vấn đề căn cốt để Đảng tiếp tục đổi mới tư duy, phát triển nhận thức và sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn trong quá trình triển khai nhiệm vụ, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Căn cứ vào định hướng và những nội dung cốt yếu của Cương lĩnh, các đại hội XI, XII, XIII của Đảng từng bước cụ thể hoá và phát triển về nhận thức cũng như thực thi trong từng nhiệm vụ cụ thể và đã đạt được những kết quả to lớn. Phát triển về nhận thức nội dung của nhiệm vụ đối ngoại, phương châm và định hướng trong quá trình triển khai nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế; Thành công to lớn trong thực tiễn triển khai đồng bộ nhiệm vụ của công tác đối ngoại vì mục tiêu tối thượng là lợi ích quốc gia – dân tộc do Cương lĩnh của Đảng đề ra, trong thời gian qua, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn.

XÂY DỰNG NỀN NGOẠI GIAO TOÀN DIỆN, HIỆN ĐẠI

 


Để thực hiện chủ trương đúng đắn này của Đại hội XIII, ngành ngoại giao cần phát huy vai trò tiên phong trong xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại bởi ngành ngoại giao là lực lượng chủ lực và xung kích trên mặt trận đối ngoại. Vì vậy, một trong những nội dung trọng tâm của Hội nghị Ngoại giao 31 là thảo luận phương hướng, kế hoạch, nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển ngành ngoại giao toàn diện, hiện đại.

Trên tinh thần bám sát chủ trương, đường lối Đại hội XIII của Đảng, chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc và Hội nghị Ngoại giao 31, từ những kết quả, kinh nghiệm, bài học trong thời gian qua, công tác ngoại ngoại giao trong thời gian tới cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tính toàn diện của ngoại giao Việt Nam trước hết thể hiện ở chủ thể thực hiện, bao gồm không chỉ Bộ Ngoại giao mà cả các bộ, ngành liên quan; trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế-xã hội; với tất cả đối tác, địa bàn và khu vực. Nhiều năm nay, ngành ngoại giao đã và đang triển khai đồng bộ và gắn kết chặt chẽ các trụ cột, binh chủng ngoại giao, bao gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, nhằm thực hiện nhiệm vụ giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao vị thế đất nước.

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước trong giai đoạn mới cùng với những biến chuyển sâu sắc của tình hình thế giới đang đặt ra yêu cầu về mở rộng nội hàm, lĩnh vực hoạt động của ngành ngoại giao. Trong phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm kiếm các đối tác mới, hướng đi mới”.

Như vậy, bên cạnh các lĩnh vực truyền thống, ngành ngoại giao phải chủ động, tích cực tìm cách làm mới, hướng đi mới, lĩnh vực mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước như ngoại giao công nghệ, ngoại giao số, ngoại giao môi trường, ngoại giao y tế, ngoại giao năng lượng... Vì vậy, lãnh đạo các bộ, ngành liên quan chia sẻ với ngành ngoại giao những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp về thúc đẩy triển khai đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, y tế… cũng như gợi mở hướng đi, cách làm, nhất là cơ chế phối hợp giữa ngành ngoại giao và các bộ, ngành liên quan trong các lĩnh vực quan trọng nói trên.

Thứ hai, tính hiện đại của ngoại giao Việt Nam thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống, bản sắc ngoại giao của dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại của Đảng ta qua các thời kỳ và tinh hoa ngoại giao thời đại. Vận hành ngành ngoại giao trong khuôn khổ thể chế ngày càng hoàn thiện; tổ chức bộ máy tinh gọn, hợp lý, hiệu quả với phương thức hoạt động khoa học, chuẩn hóa và số hóa, có năng lực đổi mới, sáng tạo và chủ động thích ứng với chuyển biến mau lẹ của tình hình. Đây là những yêu cầu cao nhưng rất cấp thiết, đòi hỏi không chỉ có quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của ngành ngoại giao, mà cả sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành. Chúng tôi rất mong các đồng chí thảo luận phương hướng, giải pháp về kiện toàn tổ chức bộ máy, khuôn khổ thể chế, pháp luật, phương thức vận hành của ngành ngoại giao, cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động đối ngoại, nhất là việc vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách, quy định chung của Đảng và Nhà nước về cải cách, hiện đại hóa nền hành chính cho phù hợp với điều kiện đặc thù của ngành ngoại giao, để hướng tới một ngành ngoại giao hiện đại, chuyên nghiệp.

Thứ ba, vấn đề then chốt là đội ngũ cán bộ bởi cán bộ là cái gốc của mọi việc, thành hay bại đều do cán bộ. Nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước và chủ trương xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại đặt ra yêu cầu rất cao về xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức và trí tuệ; hiện đại, chuyên nghiệp về phong cách và phương pháp làm việc, có trình độ đạt tới tầm khu vực và quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu này, cần có nguồn lực đầu tư xứng đáng cùng với hệ thống cơ chế chính sách bài bản, đồng bộ.


 

CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC TÌM CÁCH LÀM MỚI, HƯỚNG ĐI MỚI, LĨNH VỰC MỚI CỦA NGÀNH NGOẠI GIAO

 


Cùng với đất nước, ngành ngoại giao đang bước vào giai đoạn chiến lược mới. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Đây là một chủ trương mới, phản ánh sự trưởng thành của ngoại giao cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng là yêu cầu vừa cấp bách, vừa mang tính chiến lược, lâu dài đối với đối ngoại nói chung, ngành ngoại giao nói riêng và phù hợp với xu thế phát triển của các nền ngoại giao trên thế giới. Theo đó, ngành ngoại giao cần chủ động, tích cực tìm cách làm mới, hướng đi mới, lĩnh vực mới của ngành ngoại giao để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI

 


Một trong những điểm rất mới của Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng như các nội dung của Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức là khẳng định đối ngoại Nhân dân là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân có nhiệm vụ tiên phong trong việc tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế uy tín của đất nước. Với tinh thần như vậy, đối ngoại nhân dân sẽ phải tập trung vào một số trọng tâm.

Theo tinh thần của Tổng Bí thư đã chỉ đạo, chúng ta phải mạnh dạn đổi mới cả về tư duy, phương thức và nội dung của đối ngoại nhân dân. Các hoạt động đối ngoại nhân dân phải vừa phát huy hòa bình, đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước nhưng vừa huy động một cách tốt nhất các nguồn lực bên ngoài cả về vốn, tri thức, công nghệ để phục vụ cho các mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

Những đổi mới này không chỉ trong các hoạt động đối ngoại song phương mà phải phát huy sự chủ động, sáng tạo, tích cực của các tổ chức nhân dân Việt Nam tại các diễn đàn nhân dân đa phương để tranh thủ được nhiều hơn nữa sự ủng hộ quốc tế cho Việt Nam, vừa bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích quốc gia dân tộc của Việt Nam nhưng đồng thời cũng đóng góp tiếng nói của chúng ta vào việc thúc đẩy luật pháp quốc tế, củng cố môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ cho sự phát triển của dân tộc và các nước.

Để đóng góp vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế ứng phó lại những thách thức đang nổi lên, đối ngoại nhân dân cần nỗ lực hơn nữa để đào tạo xây dựng được đội ngũ đối ngoại nhân dân cả về tổ chức, phương tiện làm việc và đặc biệt là con người.

Như Tổng Bí thư nói, phải có được những cán bộ làm đối ngoại nhân dân thực sự có lập trường, bản lĩnh vững vàng, kiên quyết, kiên định bảo vệ các lợi ích quốc gia dân tộc nhưng đồng thời phải là những người có cách ứng xử văn hóa, có hiểu biết sâu sắc về văn hóa của các nước để có thể tìm những điểm tương đồng, hạn chế tối đa bất đồng. Nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân là cầu nối xây đắp tình hữu nghị, vì vậy phải tìm cách giải quyết những mâu thuẫn, khác biệt và đó cũng chính là nhiệm vụ tạo lập và giữ gìn môi trường hòa bình, hữu nghị, tạo nền tảng thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các quốc gia. Đó cũng chính là để ngăn ngừa xung đột, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Để công tác đối ngoại nhân dân hoàn thành được nhiệm vụ này, cần sự quan tâm của các cấp, các ngành để tạo được các nguồn lực cho đối ngoại nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho đối ngoại nhân dân phát huy được ưu thế của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


 

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHƯNG PHẢI MANG ĐẬM BẢN SẮC CỦA DÂN TỘC

 


Bài phát biểu của Tổng Bí thư hết sức toàn diện và sâu sắc, vừa mang tính khái quát rất cao nhưng đồng thời cũng chỉ ra những nhiệm vụ rất rõ ràng, cụ thể cho toàn ngành đối ngoại, cho tất cả các cơ quan, các tổ chức làm nhiệm vụ đối ngoại cũng như từng cán bộ đối ngoại, từng nhà ngoại giao. Bài phát biểu có nhiều nội dung sâu sắc từ việc khái quát lại truyền thống lịch sử của đất nước, truyền thống ngoại giao nhân văn, hòa hiếu, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc ta cũng như những thành tựu ngoại giao của thời đại Hồ Chí Minh và những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo của Đảng ta; những bài học kinh nghiệm mà chúng ta đã rút ra trong việc triển khai đường lối đối ngoại trong suốt cả chiều dài lịch sử của đất nước.

Đặc biệt, Tổng Bí thư đã chỉ rõ những nhiệm vụ của ngành đối ngoại trong thời gian tới. Một trong những điểm nổi bật đó là bài phát biểu của Tổng Bí thư nêu đậm nét bản sắc của nền ngoại giao Việt Nam, yêu cầu xây dựng và phát triển nền ngoại giao Việt Nam hiện đại nhưng phải mang đậm bản sắc của dân tộc, bản sắc của truyền thống văn hóa, văn hiến của dân tộc, truyền thống chống giặc ngoại xâm bất khuất, kiên cường.

Tổng Bí thư gợi mở rất rõ những nhiệm vụ của ngành đối ngoại trong thời gian tới, đặc biệt là chúng ta phải có cách làm mới, tư duy mới vượt ra khỏi những tư duy cũ để thích ứng được với tình hình mới. Đồng thời chúng ta vẫn phải kiên định bám sát nguyên tắc, mục tiêu mà Đảng đã đề ra. Vì vậy, những chỉ đạo của Tổng Bí thư có ý nghĩa rất sâu sắc đối với những người làm công tác đối ngoại trong thời gian tới.

NHỮNG NÉT MỚI HỘI NGHỊ ĐỐI NGOẠI TOÀN QUỐC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 


Hội nghị được tổ chức trong bối cảnh rất mới. Thứ nhất là đất nước ta hiện nay có tiềm lực, cơ đồ và vị thế rất khác so với trước như lời của Tổng Bí thư là chưa có bao giờ có được như hôm nay. Đồng thời, chúng ta đã tổ chức thành công Đại hội Đảng lần thứ XIII, đề ra các phương hướng và mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 với mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành một nước phát triển có thu nhập cao. Tất cả các ngành, các lĩnh vực đang nỗ lực hoàn thành chương trình, chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra.

Công tác đối ngoại xác định rất rõ nhiệm vụ và vai trò tiên phong trong việc tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước và nâng cao vị thế uy tín của đất nước. Trong bối cảnh mới của tình hình trong nước, quốc tế, nhiệm vụ mới đề ra cho công tác đối ngoại được thể hiện rất rõ trong những nội dung đã được trao đổi tại Hội nghị và cũng thể hiện rất rõ trong phát biểu chỉ đạo quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

HỘI NGHỊ ĐỐI NGOẠI TOÀN QUỐC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG - HỘI NGHỊ LỊCH SỬ

 


Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được coi là hội nghị lịch sử vì đây là lần đầu tiên một hội nghị đối ngoại được tổ chức toàn quốc, được truyền trực tiếp đến không chỉ tới các cơ quan làm công tác đối ngoại mà tới tất cả các cấp, các ngành trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta. Qua hội nghị, chúng ta đạt được sự thống nhất cao, đầy đủ và sâu sắc về tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong chiến lược tổng thể phát triển đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là thông điệp mạnh mẽ của chúng ta với bạn bè quốc tế và bà con người Việt Nam ở nước ngoài về các chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới. Đó là chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, hữu nghị và hợp tác.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÔNG CHỈ LÀ MÊ TÍN DỊ ĐOAN...

     Mới sáng sớm, bà Mùi đã tất bật chuẩn bị quần áo, bánh kẹo, hoa quả... và cả tiền đặt lễ, liên tục giục con gái út trang điểm khẩn trương không “cô” bận lại nhỡ việc. Thấy thế, ông Chín lên tiếng:
- Hai mẹ con định đi đâu mà không bàn với tôi một tiếng.

Bà Mùi nói gắt từ trong buồng ra:

- Ui dào, hôm qua ông đi cùng hội cây cảnh, rồi sang nhà ông Nam ăn uống mãi muộn mới về nên tôi chưa kịp nói. Chẳng là bà Lan ở cuối ngõ rủ tôi sang xã bên có “cô đồng” xem bói linh lắm. Tôi tính xem đường tài lộc của gia đình, tiện xem cho con Nga nhà mình luôn. Không hiểu nó vận hạn gì mà ngã xe đạp điện hai lần, có gì nhờ “cô” giải hạn cho.

Ông Chín hiểu ra đầu đuôi câu chuyện. Ông nhẹ nhàng kéo bà Mùi ngồi xuống ghế:

- Bà uống chén nước, bình tĩnh, rồi tôi nói cho bà nghe. Việc đầu năm đi du xuân tại lễ hội, thăm viếng chùa chiền, đình, đền, miếu... là nét đẹp văn hóa của dân tộc, Nhà nước ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đấy là những quyền cơ bản của người dân được nêu rõ trong Hiến pháp. Tuy nhiên, xem bói biến tướng trở thành hành vi mê tín dị đoan với những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính, xử lý hình sự đấy, bà ạ!

- Thì tôi chỉ xem vận hạn của gia đình, xem cho con. Mà ông xem “phây” chưa, “cô” có nhiều người theo dõi, tin tưởng lắm.

Bà Mùi vừa nói vừa mở điện thoại tìm “phây của cô đồng” cho ông Chín xem.

- Bà xem tin tức trên ti vi mà không nhớ à? Vừa rồi, có một số trường hợp lợi dụng mạng xã hội để xem số mệnh, dự đoán về công việc, tình duyên, gia thế đã bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính 7,5 triệu đồng về hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín dị đoan, không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hơn nữa, lợi dụng vấn đề này, các đối tượng xấu, thù địch, phản động rêu rao rằng người dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước; hoặc là quy chụp nước ta vi phạm quyền con người đấy bà ạ! Con nhà mình bị ngã là do lỗi chủ quan chứ. Một lần đang đi thì nghe điện thoại rồi tự ngã; lần cuối năm đi vào ngõ không quan sát, không còi báo hiệu rồi đâm vào anh giao hàng. Cái cần là gia đình mình phải giáo dục cho con tính cẩn thận, chấp hành quy định khi tham gia giao thông, chứ không phải xem bói!

Đến lúc này, mặt bà Mùi ngẩn ra vì nhận thấy mình đã sai. Bà Mùi nói nhỏ:

- Cũng chỉ vì tôi lo lắng thái quá, thiếu hiểu biết mà suýt nữa thì “tiền mất tật mang”. Cũng may ông khuyên can tôi kịp thời và chưa chia sẻ bài của "cô đồng" này trên “phây”, không thì hệ lụy không biết thế nào.

Ông Chín lý giải thêm:

- Bây giờ hoạt động lợi dụng tâm linh để trục lợi ngày càng tinh vi; rồi còn có cả những đối tượng xấu mượn cớ này để xuyên tạc, chống phá. Mỗi người dân chúng ta cần nâng cao nhận thức, tránh nhẹ dạ cả tin, bị đối tượng xấu lợi dụng, bà ạ!

- Ông nói rất phải. Lát nữa nhờ ông đi cùng tôi sang nhà bà Lan nói chuyện cho bà ấy hiểu để không tin, không nghe theo những hoạt động mê tín dị đoan nữa, ông nhé!
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

NGĂN CHẶN ÂM MƯU DÙNG SÁCH BÁO, SỐ ĐỘC ĐỂ CHUYỂN HÓA TƯ TƯỞNG LỆCH LẠC!

         Với âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng, một trong những phương thức mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng là phát hành các sách, báo có nội dung độc hại, xuyên tạc, phản động. Đáng phê phán là một số cá nhân do nhận thức chính trị hạn chế, thiếu hiểu biết và hám lợi đã “nối giáo cho giặc” khi công khai tán phát, mua bán sách, báo xấu độc. Vì thế, việc ngăn chặn sự thẩm lậu, đấu tranh trực diện với sách, báo xấu độc cần nhất là chủ động, thường xuyên, kịp thời, đi vào thực chất!

Âm mưu đầu độc nhận thức
Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...

Khác với loại hình tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, phim; sách, báo xấu độc xâm nhập âm thầm, dùng lý lẽ bề ngoài tưởng chừng rất khách quan, khoa học nhưng ngầm ẩn những dụng ý vô cùng thâm hiểm. Chỉ cần độc giả là người thiếu hiểu biết về chính trị, không kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, có ẩn ức, bất mãn trong đời sống rất dễ bị tiêm nhiễm, dần dần “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chẳng hạn, khá nhiều sách, báo dưới cái mác nghiên cứu khoa học lịch sử đã “bắn vào quá khứ” khi lập luận rằng: Không cần tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ, không cần có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam cứ “ngoan ngoãn” ở trong “vòng tay bảo hộ” của mẫu quốc Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thì đất nước sẽ phát triển, dân trí nâng cao; rồi sau đó thông qua phương cách hòa bình để có được nền độc lập thì sẽ tốt hơn là phải cầm súng suốt mấy chục năm, làm “kéo lùi lịch sử”. Luận điệu này với những người trưởng thành có hiểu biết lịch sử, có tư duy biện chứng khoa học thì đích thực là phản động, phi thực tế và phản khoa học. Tuy nhiên, nếu là một người trẻ mới mười tám, đôi mươi, sinh ra trong hòa bình thì chưa chắc đã đủ bản lĩnh, trình độ để nhận diện đây là “tà thuyết”.

Theo số liệu của Bộ Công an, tính từ năm 2009 đến 2022, lực lượng an ninh chính trị nội bộ đã phối hợp thu thập, nghiên cứu hơn 500 đề tài, bản thảo; kiến nghị không cho xuất bản hoặc sửa chữa lại nội dung trước khi xuất bản 350 đề tài, bản thảo; ngừng phát hành, thu hồi, tiêu hủy 150 ấn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, vi phạm; xử phạt vi phạm pháp luật trên lĩnh vực xuất bản hơn 760 trường hợp. 

Khi những ý đồ thâm hiểm không phát huy dưới dạng “chính ngạch”, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động thông qua phương thức cũ đó là tán phát sách, báo xấu độc theo con đường “tiểu ngạch”, nhất là trên không gian mạng. 

Sách, báo xấu độc chủ yếu được xuất bản dưới chế độ cũ trước năm 1975, sau này in ấn ở hải ngoại. Dù là thể loại hư cấu hay phi hư cấu, sách, báo xấu độc đều có chung một số đặc điểm về nội dung, đó là: Ra sức cổ vũ quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi người dân không chấp nhận Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phủ định lý luận về chủ nghĩa xã hội và sự đúng đắn tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đòi xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của các anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng; khoét sâu vào những mặt trái của xã hội nhằm phủ nhận thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân...

Đáng lo ngại là một số cá nhân chuyên kinh doanh sách, báo, dịch vụ in ấn nhận thấy sách, báo xấu độc bị cấm phổ biến, lưu hành là “hàng hiếm” nên đã sưu tập, tái sản xuất, bày bán công khai trên mạng xã hội dưới dạng sách in và sách điện tử. Chỉ cần đặt hàng trên mạng xã hội, bất cứ tác phẩm xấu độc nào trong vài giờ đã có thể chuyển đến tận tay người có nhu cầu.

Vấn đề đáng bàn là vì sao sách, báo xấu độc do các tác giả phản động lại có thể “đội mồ sống dậy” lưu hành dễ dàng mà các cơ quan chức năng chưa kịp thời ngăn chặn?

Kết hợp giữa phòng và chống hiệu quả
Chúng ta cần xác định phương thức tán phát, phổ biến sách, báo xấu độc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ. Cho nên, đấu tranh với sách, báo xấu độc là việc làm lâu dài, thường xuyên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt cần chú ý kết hợp giữa phòng và chống một cách linh hoạt, tùy từng trường hợp cụ thể để mang lại hiệu quả thực chất.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”. 

Quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, với lĩnh vực xuất bản, ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho rằng: Trước hết, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, cơ quan chủ quản trong công tác xuất bản với yêu cầu giữ vững tôn chỉ, mục đích, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản, thẩm định kỹ nội dung bản thảo, tránh để xảy ra sai sót nội dung nghiêm trọng về chính trị.

Cùng với đó, công tác hậu kiểm cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn triệt để các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định Luật Xuất bản; các cơ quan bảo vệ pháp luật triển khai đồng bộ các giải pháp đấu tranh, xử lý những ấn phẩm lưu hành bất hợp pháp, nhất là các ấn phẩm có nội dung xấu độc. Riêng với các địa chỉ lưu giữ, tán phát xuất bản phẩm xấu độc trên không gian mạng, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng an ninh chính trị nội bộ, an ninh mạng tập trung sử dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn hoạt động và sức phổ biến, tiếp cận đến với người đọc.        

Theo ông Nguyễn Thái Bình, Phó giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, vấn nạn sách, tài liệu xấu độc được in ấn, mua bán công khai hiện nay là nguy cơ dẫn đến mất kiểm soát vì vô tình tạo thói quen, hành vi vi phạm pháp luật cho bạn đọc, người sử dụng thiếu hiểu biết. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, xử lý bảo đảm đủ răn đe với những hành vi vi phạm pháp luật. Với những nhóm người có chủ ý thu lợi cá nhân hoặc có kế hoạch, chủ động tán phát sách, báo xấu độc cần phải bị xử lý hình sự để răn đe những đối tượng khác. Với những cá nhân nhỏ lẻ, nếu chỉ hám lợi đơn thuần thì sớm tiếp cận, nhắc nhở.

Ông Nguyễn Thái Bình cũng nhấn mạnh đến vai trò của các cấp ủy Đảng cần chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên để cán bộ, đảng viên không tìm hiểu, không tiếp cận với sách, báo xấu độc; xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên phổ biến, giới thiệu sách, báo xấu độc dưới bất cứ hình thức nào. Đặc biệt, đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần phải chủ động trong truyền thông chính sách, giúp cho người dân hiểu và làm việc theo pháp luật. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hoạt động tuyên truyền miệng để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không mua bán, tàng trữ, sử dụng, phổ biến sách, báo xấu độc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện nội dung xấu độc, tham gia đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một giải pháp mà các chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản, phát triển văn hóa đọc nhiều lần nhắc đến, đó là: Ngành xuất bản cần tiếp tục nỗ lực xuất bản, giới thiệu nhiều sách, báo có nội dung lành mạnh, nhân văn, có giá trị học thuật dưới nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn, gắn với phát triển văn hóa đọc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua đó, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, tác động tích cực để xây dựng nhận thức đúng đắn, bồi đắp tâm hồn, nâng cao dân trí cho nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.
Yêu nước ST.

BỘ CÔNG AN THÔNG BÁO VỀ 2 TỔ CHỨC KHỦNG BỐ!

     Ngày 6-3, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo 2 tổ chức đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố!
Thứ nhất, là tổ chức khủng bố “Nhóm hỗ trợ người Thượng” có tên tiếng Anh là “Montagnard Support Group, Inc.”, viết tắt MSGI; do các đối tượng Y Mut Mlô và Y Duen Bdăp (nguyên là thành viên tổ chức “Quỹ người Thượng - MFI” ở Mỹ) tuyên bố thành lập năm 2011 nhằm móc nối, lôi kéo người dân tộc thiểu số sử dụng bạo lực, tiến hành khủng bố, kích động biểu tình, bạo loạn vũ trang đòi ly khai, tự trị, thành lập nhà nước riêng ở Tây Nguyên. Trụ sở đặt tại: P.O.BOX 668843, Charlotte, NC 28266, USA; các kênh truyền thông gồm: “www.montagnardsupportgroup.blogspot.com”; “Montagnard Support Group”.

Đối tượng cầm đầu, chỉ huy là Y Mut Mlô sinh năm 1960 tại Đắk Lắk (Chủ tịch); Y Duen Bdăp (Phó chủ tịch); Y Bion Mlô (phụ trách đối ngoại); Y Lhưl Byă (phụ trách truyền thông); các thành viên cốt cán khác gồm: Y Čhik Niê sinh năm 1968 tại Đắk Lắk; Y Chanh Byă sinh năm 1984 tại Đắk Nông; Y Bé Êban sinh năm 1982 tại Đắk Nông; Y Niên Êya sinh năm 1977 tại Đắk Nông, Y Sôl Niê sinh năm 1979 tại Đắk Lắk...

MSGI hoạt động theo phương thức bạo động; chủ trương lôi kéo, tuyển mộ thành viên ở trong nước, huấn luyện phương thức hoạt động, kích động biểu tình, bạo loạn vũ trang; tài trợ tiền, vũ khí, phương tiện, chỉ đạo tiến hành tấn công khủng bố, giết hại cán bộ và người dân, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân nhằm đòi ly khai, tự trị, thành lập “Nhà nước Đêga” ở Tây Nguyên.

Thứ hai, là tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý” có tên tiếng Anh là “Montagnard Stand for Justice - MSFJ”, do các đối tượng Y Quynh Bdap, Y Phik Hdok, Y Pher Hdrue, Y Aron Êban, H’ Sarina Krong, H’ Tlun Bdap, Y Ruing Knul, H Mla Hdruẽ thành lập tháng 7-2019 tại Thái Lan và hoạt động tại Mỹ từ tháng 4-2023. Trụ sở: Số 49/312 Kraorattana, Soi 6, Bang Rak Phatthana, huyện Bang Bua Thong, tỉnh Nonthaburi, 11110, Thái Lan; trang web và các kênh truyền thông: “msfjustice.org”, “Montagnard Stand for Justice”, “Người Thượng Vì Công Lý”, “Klei Kpă Ênô Kơ Anak Cữ Chiăng”, “BHRM Montagnards”, “MSFJ TV”.

Đối tượng cầm đầu là Y Quynh Bdap sinh năm 1992 tại xã Ea Bhôk, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, quốc tịch Việt Nam; Y Phik Hdok sinh năm 1993 tại buôn M’Duk, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Y Pher Hdrue sinh năm 1979 tại buôn Êa Khít, xã Êa Bhôk, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; H’ Biăp Krông sinh năm 1987 tại buôn Kwăng, xã Cư Bao, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk; Y Aron Êban sinh năm 1985 tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk...

MSFJ hoạt động theo phương thức tuyên truyền, lôi kéo, tuyển mộ thành viên, phân công nhiệm vụ, huấn luyện phương thức hoạt động; tài trợ tiền, chỉ đạo mua sắm vũ khí, phương tiện, tiến hành tấn công khủng bố, giết hại cán bộ và người dân, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân nhằm thành lập “Nhà nước riêng” ở Tây Nguyên.

Theo thông tin từ Bộ Công an, “Nhóm Hỗ trợ người Thượng - MSGI” và “Người Thượng vì công lý - MSFJ” là tổ chức khủng bố; do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do 2 nhóm này tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của “Nhóm Hỗ trợ người Thượng - MSGI” và “Người Thượng vì công lý - MSFJ”… là phạm tội “Khủng bố”, “Tài trợ khủng bố” và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẠN RẤT NÊN BIẾT!

         Khuyến cáo người dân thực hiện tốt 10 biện pháp để phòng tránh tội phạm trên không gian mạng!

Thứ nhất, bảo vệ thông tin cá nhân: Không công khai các thông tin như ngày tháng năm sinh, số CMND, CCCD, số điện thoại, số tài khoản ngân hàng... lên mạng xã hội để tránh bị các đối tượng lợi dụng khai thác, sử dụng vào mục đích lừa đảo, cần chọn lọc thông tin trước khi chia sẻ công khai lên mạng xã hội.

Thứ hai, kiểm tra và cập nhật: Thường xuyên kiểm tra và cập nhật các tính năng bảo mật, quyền riêng tư trên các tài khoản ngân hàng, tài khoản mạng xã hội và cần bảo mật tuyệt đồi thông tin các tài khoản trên, bao gồm: tên đăng nhập, mật khẩu, mã xác thực (OTP) hoặc số thẻ tín dụng... không cung cấp cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi chưa xác định được danh tính

Thứ ba, cẩn trọng xác minh: Đối với các tin nhẫn qua mạng xã hội vay tiền cần trực tiếp gọi điện thoại để xác nhận kỹ thông tin trước khi chuyển tiền.

Thứ tư, tìm hiểu kỹ thông tin khi kết bạn: Tìm hiểu kỹ thông tin khi kết bạn với những người lạ trên mạng xã hội, đặc biệt là những người hứa hẹn cho, tăng số tiền, tài sản lớn hoặc quá có giá trị lớn.

Thứ năm, trình báo tại cơ quan Công an nơi gần nhất: Khi nhận được cuộc gọi tự xưng là cán bộ các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là lực lượng Công an để thông báo, đe dọa mình có liên quan đến vụ án, vụ việc, cần liên lạc ngay với cơ quan Công an nơi gần nhất để trình bảo.

Thứ sáu, cẩn trọng khi thực hiện các giao dịch: Không truy cập các đường link trong tin nhẫn hay Email lạ không rõ nguồn gốc, không thực hiện giao dịch theo yêu cầu của các đối tượng lạ khi nhận được điện thoại, tin nhắn có nội dung liên quan đến giao dịch ngân hàng. Không cung cấp thông tin cá nhân, mã OTP, số tài khoản ngân hàng....

Thứ bảy, cẩn trọng trước lời mời chào hấp dẫn: Không nên nghe và làm theo những lời hướng dẫn, giới thiệu, dụ dỗ làm theo các cách thức làm việc nhẹ nhàng, kiếm tiền dễ dàng... Đặc biệt không nghe theo lời các đối tượng chuyển tiền vào tài khoản chỉ định. Cảnh giác trước các thông tin thông báo nhận thưởng qua mạng, yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân hoặc chuyển tiền để nhận thưởng.

Thứ tám, cẩn trọng khi cài ứng dụng, phần mềm: Không cài đặt trên điện thoại, máy tính các ứng dụng chưa được xác thực. Khi phát hiện SIM điện thoại bị vô hiệu hóa, cần liên hệ ngay nhà mạng để yêu cầu hỗ trợ, xác mình. Nếu bị mất điện thoại, cần nhanh chóng bảo cho nhà mạng để khóa SIM kịp thời

Thứ chín, quản lý đăng ký tài khoản ngân hàng: Không mở hồ, cho thuê, bản tài khoản ngân hàng. cho người khác. Khi phát hiện đối tượng có hành vì mua bán, cho thuê tài khoản ngân hàng cần báo ngay cho cơ quan Công an nơi gần nhất.

Thứ mười: Cẩn trọng đối với các Website, ứng dụng giả mạo: Tuyệt đối không truy cập website, ứng dụng trong tin nhắn nhận được, trang web có nội dung A không rõ ràng, giả mạo dịch vụ chuyển tiền quốc tế, trang web ngân hàng...
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TIỀN LƯƠNG PHẢI GẮN VỚI VỊ TRÍ CÔNG TÁC TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG!

Đó là một trong những nội dung được thống nhất tại Hội nghị xây dựng các bảng lương mới và chế độ phụ cấp đặc thù của lực lượng vũ trang và cơ yếu, do Ban Chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương lực lượng vũ trang và cơ yếu tổ chức, chiều 5/3!
Dưới sự đồng chủ trì Thượng tướng Vũ Hải Sản - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (Trưởng ban Chỉ đạo) và Thượng tướng Trần Quốc Tỏ - Thứ trưởng Bộ Công an (Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo), hội nghị có sự tham dự của đại biểu lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nghị quyết của Chính phủ về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang (LLVT), người lao động trong doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ được giao, Ban Chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương LLVT và cơ yếu đã báo cáo, đề xuất về các bảng lương mới, chế độ phụ cấp đặc thù của LLVT và cơ yếu để các cơ quan liên quan cùng thống nhất.

Theo đó, việc cải cách chính sách tiền lương phải gắn với thúc đẩy cải cách hành chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, đảm bảo tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiền lương phải gắn với vị trí công tác, thể hiện được thứ bậc trong lãnh đạo, chỉ huy và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của chức vụ, chức danh đảm nhiệm.

Bảng lương của LLVT phải phù hợp với tổ chức, biên chế và tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang. Tiền lương phải gắn theo vị trí việc làm, yêu cầu về trình độ đào tạo của vị trí việc làm, chức danh, chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trong lực lượng vũ trang.

Đồng thời, phải bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa tiền lương của các đối tượng trong LLVT với cán bộ, công chức hành chính Nhà nước và giữa các đối tượng trong lực lượng vũ trang; giữ vững ổn định chính trị, tư tưởng trong LLVT.

Thống nhất cùng một mức lương được hưởng ở các chức vụ tương đương giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an như hiện hành, đặc biệt ở cấp địa phương; xây dựng bảng lương mới bảo đảm thuận lợi cho chuyển xếp lương cũ sang lương mới, mức lương mới không thấp hơn mức lương cũ...

Trên cơ sở báo cáo và ý kiến của các đại biểu Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tại hội nghị, Thượng tướng Vũ Hải Sản và Thượng tướng Trần Quốc Tỏ yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp thu, rà soát, bổ sung, chỉnh sửa để việc xây dựng bảng lương mới và chế độ phụ cấp đặc thù của LLVT và cơ yếu bảo đảm chất lượng, hiệu quả, sớm trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định./.
Yêu nước ST.

Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta.

Sau 37 năm đổi mới, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền dân chủ và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Điều đó được thể hiện sinh động trên thực tế và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, với mưu đồ chính trị, các thế lực thù địch, phản động chẳng những không thừa nhận, mà còn ra sức chống phá, với những luận điệu xuyên tạc đến mức lố bịch, họ cho rằng: ở Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Có thể nói, tôn giáo ở Việt Nam được ví như bức tranh thu nhỏ của tôn giáo trên thế giới, từ các hình thức sơ khai, như: Tô tem giáo, Ma thuật giáo, Saman giáo đến các tôn giáo lớn, được hình thành từ rất sớm, có tổ chức chặt chẽ, như: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, Hồi giáo,… trong đó có những tôn giáo du nhập từ bên ngoài, nhưng cũng có nhiều tôn giáo nội sinh, như: Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiền phái Trúc Lâm, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, v.v. Loại hình tổ chức của các tôn giáo cũng đa dạng: có những tôn giáo chỉ có một tổ chức duy nhất (Phật giáo, Công giáo) và cũng có những tôn giáo có rất nhiều tổ chức khác nhau (Tin Lành, Cao Đài), v.v. Nếu như nhiều quốc gia thường có một tôn giáo giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội, thì ở Việt Nam có nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng cùng tồn tại và bình đẳng về vị thế, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, ảnh hưởng quyết định đến đời sống xã hội Việt Nam.

Lợi dụng đặc điểm đó, các thế lực thù địch, phản động luôn coi vấn đề dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” trong mưu đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Họ câu kết với các phần tử cơ hội chính trị, chống đối, cực đoan lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chính trị hóa, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ở trong nước, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của chính quyền một số địa phương trong thực hiện các chính sách về kinh tế, xã hội, một số chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để lồng ghép yếu tố chính trị, kích động, gây ra điểm nóng tôn giáo, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, ngăn cấm xây sửa cơ sở thờ tự, cản trở hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, v.v. Ở ngoài nước, một số nhóm, cá nhân người Việt lưu vong thông qua các trang mạng thường xuyên đăng tin, bài vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do tôn giáo, kích động nhân dân mà trước hết là tín đồ tôn giáo đấu tranh “đòi tự do tôn giáo”, “nhân quyền”, kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước lên tiếng can thiệp. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đưa ra các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo trên thế giới, trong đó có nêu một số nội dung nhận định thiếu khách quan, sai lệch dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tế tại Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế khi chính quyền sách nhiễu các tổ chức tôn giáo ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số khu vực ở Đồng bằng sông Cửu Long; sách nhiễu những thành viên của các nhóm tôn giáo tham gia vào các hoạt động vận động nhân quyền hoặc có liên hệ với các cá nhân và tổ chức chỉ trích chính quyền; cản trở việc thực hành tôn giáo của phạm nhân. Đồng thời, nêu quan ngại về một số trường hợp “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”,... đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo - SWL”. Lợi dụng việc đó, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị “té nước theo mưa”, ra sức xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phê phán chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Ngày 09/3/2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ ra mắt “Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là tài liệu chính thống, kịp thời cung cấp những thông tin cơ bản về tôn giáo, chính sách tôn giáo ở Việt Nam và những thành tựu, cũng như thách thức của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; một trong những công cụ chuyển tải thông tin trung thực tới các nước, các tổ chức quốc tế quan tâm đến lĩnh vực nhân quyền, tôn giáo, làm cơ sở tham chiếu, chứng minh cho nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua đó, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. 

Những thành tựu thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta cho thấy, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của  nhân dân là quan điểm, chính sách xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Quan điểm đó được thể hiện trong các văn bản của Đảng ngay từ khi mới thành lập, nhất là trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ về công tác tôn giáo được ghi dấu bằng nhiều nghị quyết, tiêu biểu như: Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới”, Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, v.v. Trong đó, khẳng định rõ: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; coi trọng giữ gìn và “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước”; “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật”1.

Quan điểm nhất quán ấy đã được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và các chính sách nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thực tế của người dân, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm 1946) và các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau này, đều  khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người. Hiến pháp (năm 2013) ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Thực hiện các nguyên tắc đã được hiến định, Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Trong đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được kỳ họp thứ 2, Quốc hội (khóa XIV) thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 là dấu son trong lộ trình cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với đời sống thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, khẳng định với quốc tế rằng, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong đảm bảo quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Các cấp tiếp tục tham mưu, triển khai thực hiện hiệu quả Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cùng với đó, quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng hiến chương, điều lệ, pháp luật của Nhà nước; chủ động giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo chính đáng của quần chúng tín đồ; kịp thời nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tổ chức tôn giáo, quần chúng tôn giáo và có hướng giải quyết thấu đáo các vụ việc phát sinh. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Quy tắc ứng xử chung trong không gian công cộng,

Quy tắc ứng xử chung trong không gian công cộng, gồm 3 điều:

1/ Tự giác tuân thủ, chấp hành quy định pháp luật: Tự giác tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật về không gian công cộng; Tuân thủ nội quy, quy tắc, quy định tại không gian công cộng; Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; Thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luận;

2/ Tôn trọng bản thân mình và mọi người trong không gian công cộng: Luôn ứng xử thân thiện, nhã nhặn, đúng mực, lịch sự; Luôn biết nói “cảm ơn” và “xin lỗi” phù hợp; Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự và nhân phẩm người khác; Tôn trọng sự khác biệt và tự do cá nhân theo quy định của pháp luật; Không phân biệt, miệt thị giới tính, dân tộc, vùng miền, tôn giáo, xuất thân, giàu nghèo, người khuyết tật, người dễ bị tổn thương;

3/ Bảo vệ môi trường không gian công cộng: Tôn trọng, bảo vệ cảnh quan, môi trường không gian công cộng cho bản thân, cộng đồng, xã hội và vì thế hệ tương lai; Không gây ô nhiễm môi trường không gian công cộng bằng khói bụi, khí độc, nguồn nước bẩn, mùi khó chịu, tiếng ồn ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của cộng đông; Sử dụng sản phẩm, phương tiện thân thiện với môi trường không gian công cộng; Gìn giữ, bảo tồn và xây dựng không gian công cộng luôn xanh, sạch, đẹp, thân thiện, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Không gian công cộng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam, đặc biệt trong mối quan hệ tương tác giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên… Thông qua không gian công cộng con người có điều kiện thể hiện bản sắc, xây dựng và phát triển mạng lưới xã hội, tạo dựng nên một xã hội văn minh.

Vai trò của không gian công cộng trong đời sống

 Văn hóa ứng xử là một chủ đề rất rộng lớn, bao hàm nhiều khía cạnh và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Trong đó không gian công cộng là một dạng xã hội thu nhỏ, phản ánh trình độ phát triển xã hội. Theo PGS.TS Trịnh Văn Tùng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Không gian công cộng từ xưa đến nay đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của chúng ta, với sự tương tác giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với tài sản công cộng; là nơi lưu giữ các ký ức chung và là nơi tạo dựng các biểu tượng gắn kết cộng đồng cư dân nông thôn hoặc đô thị”.

Dựa vào tính chất người ta chia không gian công cộng thành hai loại gồm: Không gian thực, có tính địa vực như đình làng, chợ quê…; không gian ảo, phi địa vực như các diễn đàn trên facebook, zalo, trang blog, youtube… Ở nông thôn không gian công cộng đường làng, cây đa, bến nước, sân đình, giếng làng; ở đô thị là công viên, ghế đá, sân khu tập thể, vỉa hè, quảng trường…

Về vai trò của không gian công cộng, PGS.TS Trịnh Văn Tùng cho biết, không gian công cộng thường có 4 vai trò chính, gắn với tất cả các khía cạnh của đời sống - xã hội. Vai trò chính trị, là nơi thể hiện quyền lực của người dân với nhà nước, là nơi thể hiện sự tự do. Vai trò xã hội, là nơi thúc đẩy sự đoàn kết, hội nhập và phát triển xã hội; nơi thể hiện quyền an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; nơi để mỗi người học hỏi và thích nghi với cộng đồng, nơi giao tiếp và trao đổi thông tin. Vai trò văn hóa, là nơi kiến tạo nên bản sắc của địa phương. Vai trò kinh tế, là nơi cập nhật thông tin kinh tế; nơi để các doanh nghiệp đưa tin và quảng cáo…

Ngoài ra văn hóa ứng xử của người dân ở không gian công cộng được xem là lĩnh vực của đời sống văn hóa sinh động, tác động lớn tới các giá trị và chuẩn mực của văn hóa Việt Nam. Thông qua những ứng xử văn minh mang tính chân - thiện - mỹ nơi không gian công cộng, một xã hội trật tự và hài hòa được hình thành. Vốn xã hội được thiết lập, duy trì và củng cố thông qua những hoạt động diễn ra tại không gian công cộng.

Công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Hà Nội

Thành phố tập trung đầu tư phát triển một số lĩnh vực giàu tiềm năng, lợi thế của Thủ đô như: Du lịch văn hóa; Nghệ thuật biểu diễn; Thủ công mỹ nghệ; Thiết kế; Quảng cáo; Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Điện ảnh; Thời trang; Ẩm thực; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Truyền hình và Phát thanh; Xuất bản...phù hợp với thực tiễn Thủ đô và từng giai đoạn cụ thể.

Mục tiêu đến năm 2025, ngành công nghiệp văn hóa Thủ đô trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; hoàn thành rà soát, tích hợp quy hoạch phát triển công nghiệp văn hóa vào Quy hoạch Hà Nội đến 2030, tầm nhìn đến 2050; cải thiện hạ tầng tương đối đồng bộ, hiện đại, ưu tiên bố trí quỹ đất theo quy hoạch phân khu 2 bên bờ sông Hồng để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với phát triển du lịch.

Mục tiêu đến năm 2030, ngành công nghiệp văn hóa Thủ đô cơ bản trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác. Hà Nội nằm trong nhóm các thành phố có ngành công nghiệp văn hóa phát triển hàng đầu có thương hiệu, sản phẩm uy tín, khả năng cạnh tranh cao với các Thành phố trong khu vực; là “Thành phố sáng tạo” có sức ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á. Phấn đấu doanh thu từ các ngành công nghiệp văn hóa tăng dần qua từng năm, đóng góp khoảng 8% GRDP của Thành phố.

Mục tiêu đến năm 2045, ngành công nghiệp văn hóa Thủ đô là ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển toàn diện, là động lực phát triển các ngành, lĩnh vực khác, là tiền đề để xây dựng Hà Nội có chất lượng cuộc sống cao; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, bền vững; trở thành “Thành phố sáng tạo” của khu vực châu Á, thành phố kết nối toàn cầu, trung tâm văn hóa, du lịch lớn đặc sắc, có sức cạnh tranh quốc tế. Hình thành một số công trình văn hóa mới cho Thủ đô và Việt Nam, mang tính biểu tượng văn hóa có tầm cỡ khu vực và thế giới. Phấn đấu đóng góp khoảng 10% GRDP của Thành phố.

Triển vọng phát triển công nghiệp văn hóa

Với đặc trưng sáng tạo và công nghệ, công nghiệp văn hóa là hướng đi mới, thậm chí tạo nên hướng đột phá trong phát triển kinh tế tri thức, kinh tế văn hóa để phát triển kinh tế theo chiều sâu.

Công nghiệp văn hóa sẽ đưa đến sự thay đổi cơ cấu các ngành có liên quan, tiếp đó là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế. Sự xuất hiện của các trung tâm sản xuất công nghiệp văn hóa làm thay đổi cơ cấu vùng kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có sự chuyển dịch thích hợp, gắn với quá trình chuyển đổi mô hình các đơn vị sự nghiệp văn hóa cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các doanh nghiệp văn hóa, bao gồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này.

Đánh giá về triển vọng của ngành công nghiệp văn hóa với phát triển bền vững, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng: Công nghiệp văn hóa góp phần tái tạo các thành phố, cải thiện cuộc sống đô thị, giảm khoảng cách phát triển giữa các vùng và khu vực trong cả nước; bảo tồn, tái sinh và phát huy vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống như di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống, thủ công truyền thống; thúc đẩy hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế đất nước; góp phần thúc đẩy hòa nhập và cố kết xã hội…

Công nghiệp văn hóa mặc dù mới được chú trọng phát triển ở Việt Nam, đã có những đóng góp ban đầu vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thị trường công nghiệp văn hóa của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé, chưa phát huy hết tiềm năng vốn có, đó là vấn đề đặt ra và cũng là cơ hội để ngành này phát triển trong tương lai.