Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024
“BẮT BỆNH” THIẾU NIỀM TIN MỘT CÁCH MÙ QUÁNG!
KHÔNG ĐỂ ĐỨT GÃY TINH THẦN “XÂY” VÀ “CHỐNG”!
NỀN TẢNG VỮNG CHẮC KHÔNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC!
Cảnh tỉnh người lầm đường, nghiêm trị kẻ phá hoại sự bình yên các buôn làng
Sau năm 1975, không ít đối tượng tại địa phương và nơi khác tới Lâm Đồng
sinh sống, có tư tưởng chống đối, thù địch đã móc nối với các tổ chức khủng bố,
phản động lưu vong ở nước ngoài ráo riết hoạt động, chống Đảng và Nhà nước
quyết liệt dưới nhiều hình thức.
Đối diện với từng chồng
hồ sơ dày cộm, Thiếu tá Bùi Cao Cường, Phó Đội trưởng Đội Chống phản động và
Chống khủng bố, Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng giới thiệu rạch ròi
về từng đối tượng, từng vụ án xâm phạm tới an ninh quốc gia tại Lâm Đồng đã bị
Công an đấu tranh bóc gỡ, xử lý hoặc làm suy yếu, tan rã trong thời gian qua.
Theo Thiếu tá Bùi Cao Cường, Lâm Đồng có nhiều đối tượng là cơ sở nội địa của
các tổ chức khủng bố, phản động có trụ sở ở nước ngoài.
Thượng tá Lê Công Duy,
Phó trưởng Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Lâm Đồng cho biết, địa phương có
nhiều đối tượng liên quan tới các tổ chức phản động, khủng bố, hoạt động rất
tích cực. Tổ chức khủng bố này lôi kéo được nhiều người tham gia với 40
đối tượng là cơ sở nội địa, hiện đã bị Công an đấu tranh, bóc gỡ toàn bộ. Trong
đó, 27/40 đối tượng có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lâm Đồng, số còn lại ở các
địa phương khác nhưng có hoạt động trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
Nhờ kịp thời phát hiện,
vô hiệu hóa âm mưu tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch,
phản động, khủng bố; linh hoạt đấu tranh, cảm hóa, giáo dục, từ năm 2021 tới
nay, tỉnh Lâm Đồng không phát sinh thêm thành viên của tổ chức “Chính phủ Quốc
gia Việt Nam lâm thời”. Hoạt động của tổ chức này trên địa bàn Lâm Đồng ngày
càng suy yếu. 18/19 đối tượng có liên quan tới các tổ chức phản động, khủng bố
ở nước ngoài đang sinh sống tại Lâm Đồng đã có thái độ chuyển biến tích cực,
đối tượng còn lại “lưng chừng”. Tám đối tượng chuyển tới địa phương khác sinh
sống cũng đã có thái độ chuyển biến tốt.
Kết quả đấu tranh của
Công an tỉnh Lâm Đồng với loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia đã góp phần
cùng Công an cả nước bóc trần sự thật về các tổ chức phản động, khủng bố, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cảnh tỉnh những người còn u mê,
tin và nghe theo sự xúi giục, kích động bịp bợm của những đối tượng cầm đầu các
tổ chức trên./.
Sưu tầm
Tái diễn luận điệu xuyên tạc công tác xử lý cán bộ sai phạm
Trên tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, thời gian qua,
công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng được thực
hiện hết sức quyết liệt, nghiêm minh. Sức nóng của chiến dịch “đốt lò” đã lan
tỏa mạnh mẽ, đi vào chính các cá nhân trong cơ quan có chức năng phòng, chống
tham nhũng. Tuy nhiên, lợi dụng việc xử lý cán bộ sai phạm, đặc biệt là cán bộ
cấp cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đối tượng xấu tung ra nhiều luận
điệu tiêu cực, sai trái, đánh lạc hướng dư luận.
Vừa qua, Cơ quan An
ninh điều tra Bộ Công an đã thực hiện tống đạt quyết định khởi tố bị can, thi
hành lệnh bắt bị can để tạm giam, khám xét chỗ ở đối với bị can Nguyễn Văn Yên
(nguyên Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương) để điều tra về tội “Chiếm đoạt tài
liệu bí mật nhà nước” theo quy định tại Điều 337, Bộ luật Hình sự. Tuy
nhiên, các đối tượng xấu đã lợi dụng sự quan tâm, chú ý của dư luận để “bẻ
lái”, “đánh võng” thông tin, tung ra nhiều luận điệu độc hại, sai trái. Một
mặt, chúng rêu rao cho rằng tham nhũng ở Việt Nam đã lâm vào tình trạng mất
kiểm soát, ăn sâu vào bộ máy của Đảng, Nhà nước, không thể loại bỏ tận gốc nếu
không thay đổi thể chế chính trị.
Trong bối cảnh toàn
Đảng, toàn dân đang tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam thực sự
trong sạch, vững mạnh toàn diện, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng
càng được đẩy mạnh trên tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại
lệ”. Một trong những phẩm chất quan trọng mà mỗi cán bộ, đảng viên phải có
là: “Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách
nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái
về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm,
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Về trách nhiệm
nêu gương, cán bộ càng cao càng phải gương mẫu.
Tham nhũng là hiện
tượng xã hội tiêu cực, gắn liền với sự phân hóa quyền lực, được biểu hiện thông
qua việc người có chức vụ, quyền hạn sử dụng quyền lực được giao để thực hiện
hành vi vụ lợi, sai trái, xâm phạm đến lợi ích của tập thể. Không chỉ riêng Việt
Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều phải đối diện với nguy cơ tham nhũng xảy
ra.
Với vai trò là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động
và của dân tộc Việt Nam, ngay từ những ngày đầu thành lập, dưới sự rèn luyện,
giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng
thực sự trong sạch, vững mạnh, theo đúng tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn
minh”. Mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực đều được đưa ra xử lý nghiêm minh, bảo
đảm tính răn đe. Nhờ đó, từ một Đảng cách mạng non trẻ, trải qua các thời kỳ
cách mạng, Đảng ta không ngừng phát triển, trưởng thành, luôn được nhân dân tin
tưởng, ủng hộ, giao quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội./.
Sưu tầm
Minh chứng phản bác các nhận định sai lệch trong “báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2024” của USCIRF
Việt Nam luôn nỗ lực và đã đạt được những thành tựu
quan trọng trong bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của người dân. Điều này không chỉ được thể hiện trong các quy định của
Hiến pháp, pháp luật mà còn được minh chứng sống động trong thực tế đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo trên nhiều khía cạnh. Những nỗ lực và thành tựu của Việt
Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Trong
các giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, xem đây là vấn đề mang tính chiến
lược, quan trọng trong tiến trình xây dựng, bảo vệ đất nước. Ngay từ buổi đầu
thành lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Thực dân và
phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương và đồng bào giáo để cai trị, tôi đề
nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" và điều
này đã trở thành nguyên tắc trong chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng,
Nhà nước ta qua các thời kỳ lịch sử.
Để
thể chế hóa các quan điểm, chủ trương Đảng, Nhà nước, hệ thống pháp luật của Việt
Nam liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được phát triển, hoàn thiện.
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) và các bản Hiến
pháp sau này đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trọng những
quyền cơ bản của con người.
Năm
2023, Ban Tôn giáo Chính phủ tạo điều kiện cho hơn 300 lượt chức sắc, chức việc,
nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn
giáo ở nước ngoài; tạo điều kiện cho 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt
động tôn giáo. Việt Nam cũng đã hỗ trợ cấp phép cho các tổ chức tôn giáo tổ chức
đăng cai các sự kiện tôn giáo lớn như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak, Hội
nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu của Giáo hội Công giáo Việt Nam; Hội nghị
Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo Châu Á vì hòa bình của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, Lễ hội "Xuân yêu thương" của các hội thánh Tin Lành Việt Nam.
Về
chính sách đối ngoại tôn giáo của Việt Nam từ năm 2023 đến nay, nổi bật là quan
hệ hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican. Tháng 7/2023, hai bên đã thống
nhất Quy chế hoạt động của Đại diện Thường trú và Văn phòng Đại diện Thường trú
ở Việt Nam. Ngày 23/12/2023, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Marek
Zalewski làm đại diện Tòa thánh Vatican thường trú tại Việt Nam. Ngày 31/1/2024,
Tổng Giám mục Marek Zalewski đã đến Việt Nam đảm nhiệm chức vụ này. Từ ngày
9-14/4/2024, Tổng Giám mục, Bộ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Vatican Paul Richard
Gallagher đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam và rất ấn tượng về những thành
tựu phát triển kinh tế, đối ngoại của Việt Nam, tin tưởng vào mối quan hệ Việt
Nam - Tòa thánh Vatican sẽ đạt được những thành tựu phát triển mới.
Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của mỗi người dân nhưng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã nêu rõ
quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các
giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn
cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội hay tinh thần hoặc các
quyền liên quan và quyền tự do của người khác.
Vậy nên, việc các cá nhân, tổ chức lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam để tuyên truyền, phát triển các tà đạo, tổ chức
hoạt động trái pháp luật như "Hội thánh của Đức Chúa trời mẹ",
"Tân Thiên Địa", tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình, "Giê
Sùa", "Bà Cô Dợ", "Tin lành Đấng Christ" cần phải đấu
tranh, ngăn chặn. Điều này cũng phù hợp thực tế chung của các nước nhằm bảo đảm
an ninh, trật tự, góp phần giữ gìn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Sưu tầm
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2024
Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Theo Người, tự phê bình và phê bình giúp xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống
nhất trong Đảng, gột rửa, lọc bỏ những sai lệch. Qua đó, tạo chất kết dính
trong nội bộ, là phương thuốc hay nhất để chữa nhiều chứng bệnh, bồi bổ cơ thể
của Đảng ngày thêm cường tráng. Mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho
phần tốt của mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần bị mất đi.
Mọi người học tập ưu điểm của nhau, sửa chữa những khuyết điểm, giúp nhau cùng
tiến bộ. Nêu ưu điểm trước, vạch khuyết điểm sau và phải tiến hành đồng thời,
không được coi nhẹ một mặt nào, “phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm
của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân
mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau”.
Hồ Chí
Minh cho rằng, tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
Vì vậy, phải kiên trì, thường xuyên, liên tục, mạnh dạn thừa nhận khuyết điểm
của mình để sửa chữa, khắc phục. Bác đã dạy: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm
của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch
rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết
điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng
tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (2). Mỗi người cần phải có thái độ,
phương pháp đúng, trên tình thương yêu giai cấp, tự phê bình mình cũng như phê
bình người, phải triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt, đồng thời
không dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc chứ không phê
bình người, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, ba hoa, phải thực hành
khẩu hiệu “chí công vô tư”. Người được phê bình phải cầu thị, nghiêm túc tiếp
thu ý kiến phê bình của đồng chí mình, phải có ý chí quyết tâm khắc phục sai
lầm, khuyết điểm.
Các cấp
ủy thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trực thuộc trong sạch vững mạnh, trong
đó có lãnh đạo, chỉ đạo và thường xuyên tiến hành bồi dưỡng chi ủy, chi bộ các
nội dung liên quan đến tự phê bình và phê bình. Nhất là việc quán triệt và thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng
hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh
đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối
sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Nhờ vậy,
tự phê bình và phê bình trở thành hoạt động thường xuyên góp phần đấu tranh với
những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước
ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.
Tuy
nhiên, việc tiến hành tự phê bình ở nhiều cấp ủy, chi bộ vẫn còn những hạn chế,
nhất là kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) chưa đạt yêu
cầu đề ra. Tình trạng tự phê bình và phê bình nhiều nơi còn mang tính hình
thức; còn nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự
giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao... Để
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là ở cấp chi bộ đáp
ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các chi bộ phải nâng cao
hơn nữa chất lượng tự phê bình và phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những
giải pháp sau:
Một là,
nâng cao trách nhiệm bí thư chi bộ, mở rộng dân chủ, duy trì chặt chẽ
chế độ tự phê bình và phê bình.
Tự phê
bình và phê bình là một quy định, nội dung quan trọng sinh hoạt của cấp ủy, tổ
chức Đảng nói chung và chi bộ nói riêng. Bí thư, phó bí thư chi bộ nhất thiết
phải duy trì có hiệu quả hoạt động này. Song song với tự phê bình và phê bình
xoay quanh thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, các chi bộ và từng đảng
viên cần phải tự phê bình và phê bình gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XII) của Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nắm vững 27
biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống; “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra. Người chủ trì sinh hoạt
phải khéo léo gợi mở vấn đề, khuyến khích các đảng viên mạnh dạn thảo luận,
trình bày ý kiến của bản thân, phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên
bày tỏ hết ý kiến của mình. Các ý kiến phải được tôn trọng, tổng hợp, xem xét
trước khi đưa ra quyết định. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, dân chủ phải đặt trong
tổ chức, có kỷ luật, kỷ cương. Tuyệt đối không được lợi dụng dân chủ trong sinh
hoạt để đả kích, nói xấu nhau, hoặc dân chủ hình thức, mang tính chất xuôi
chiều.
Hai là,
tự phê bình và phê bình phải trung thực, thẳng thắn, khách quan gắn với xử lý
kỷ luật nghiêm minh.
Thực
hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, cán bộ, đảng
viên vi phạm phải có hình thức, biện pháp xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm
công khai, minh bạch, công bằng. Tự phê bình và phê bình phải gắn liền với xử
lý nghiêm vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Với thái độ nhìn thẳng vào
sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, không nể nang, né tránh, không
có vùng cấm.
Bốn là,
kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện tự phê bình và phê bình.
Công
tác kiểm tra, giám sát thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, là nội dung quan
trọng bảo đảm nghị quyết của Đảng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Để thực
hiện tốt nội dung này, các cấp ủy chi bộ cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát cụ
thể đối với từng chi bộ trong Đảng bộ mình. Nội dung cần gắn chặt kết quả thực
hiện tự phê bình và phê bình với phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán
bộ, đảng viên trước tổ chức Đảng và quần chúng. Việc duy trì nền nếp chế độ,
nguyên tắc, thủ tục, nội dung và thực hiện dân chủ trong tự phê bình và phê
bình, nhận thức thái độ, động cơ trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình,
tính đấu tranh để xây dựng chi bộ… Qua kiểm tra đã chỉ ra những hạn chế, khuyết
điểm, kịp khắc phục những khâu yếu, mặt yếu và đề ra các giải pháp giúp cấp ủy,
chi bộ và đảng viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao chất lượng
tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của chi bộ.
Quán
triệt và thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở chi
bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và
năng lực cầm quyền của Đảng ở cơ sở; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tư cách đảng
viên, nâng cao uy tín của Đảng, đem lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Sưu tầm
Từ ý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 19 tháng 12 năm 1946,
sau Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước bước
vào cuộc kháng chiến trường kỳ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Giữa bộn bề
công việc, lo lãnh đạo quân, dân ta phá tan cuộc “tấn công mùa đông” của thực
dân Pháp lên Chiến khu Việt Bắc, tổ chức kháng chiến toàn dân, toàn diện suốt
từ Bắc chí Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương vẫn ban hành các chủ
trương, chính sách chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ. Chính phủ ban hành
chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ, có chính sách “ưu
đãi các chiến sĩ bị thương và gia đình liệt sĩ’... Ngày 8-1-1947, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết “Thư khen ngợi các chiến sĩ bị thương và sự tận tâm của các y
sĩ, khán hộ, cứu thương” với tấm lòng cảm thông và thán phục. Từ tháng 6-1947,
từ Phủ Chủ tịch đầu tiên ở “Thủ đô gió ngàn” trên đồi Khau Tý, ATK Định Hóa,
Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị với Chính phủ: chọn một ngày trong
năm làm “Ngày Thương binh”. Từ ý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Ban vận
động “Ngày Thương binh” được thành lập. Đồng chí Lê Thành An, nguyên Phó trưởng
phòng Thương binh, Cục Chính trị nhớ lại: sau khi Ban vận động tổ chức Ngày
Thương binh toàn quốc được thành lập, vào khoảng 7 giờ tối một ngày đầu tháng
7-1947, khoảng 20 người trong Ban Vận động họp tại nhà một người dân tại xã Lục
Ba, huyện Đại Từ, Thái Nguyên, do đồng chí Lê Tất Đắc, Phó Chính trị Cục, Bộ
Quốc phòng phụ trách công tác tuyên truyền và hậu phương binh sĩ, chủ trì. Cùng
dự họp có: đồng chí Trần Huy Liệu, Tổng bộ Việt Minh; đồng chí Hoàng Tuấn, Nha
Thông tin; đồng chí Nguyệt Tú, đại diện Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc; đồng
chí Đào Duy Kỳ, đại diện Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc và một số đồng chí
khác nữa. Sau khi bàn bạc, mọi người thống nhất chọn ngày 27-7-1947 (có 3 con
số 7 để dễ nhớ) làm Ngày Thương binh, để báo cáo lên Trung ương và Hồ Chủ tịch.
Ngay sau đó, đồng chí Lê Tất Đắc cao hứng ứng tác:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Hai bảy, tháng bảy nhớ Ngày Thương binh”.
Đồng chí Lê Tất Đắc còn khéo vận dụng ca
dao để phổ biến, tuyên truyền chủ trương hưởng ứng Ngày Thương binh:
“Bữa ăn chín cũng như mười
Mỗi nhà nuôi lấy một người thương binh”
Trước khi Ngày Thương binh chính thức
được công nhận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Thường trực Ban Tổ chức
“Ngày Thương binh toàn quốc”. Bức thư có đoạn viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy,
giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha
mẹ, anh em, vợ con thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà
cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để
chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà
nay một số thành ra thương binh.
Thương binh là những người đã hy sinh
gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của
Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí bị ốm yếu, què quặt.
Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết
ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy.
Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta
đã từng mỗi tuần nhịn một bữa ăn, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống
nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để
giúp chiến sĩ bị thương.
Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào
ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ lòng yêu mến thương binh.
(...) Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm
sẻ áo của đồng bào ta, tôi tin chắc rằng: “Ngày Thương binh” sẽ có kết quả mỹ
mãn.
Tôi xin xung phong gửi 1 chiếc áo lót
lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, 1 tháng lương của tôi, 1 bữa ăn của tôi, và
của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy
đồng (1.127 đ)”
Bác Trần Văn Phúc, cán bộ hưu trí, ở phố
Đình, thị trấn Đại Từ, Thái Nguyên, nguyên là Bí thư đảng ủy xã Hùng Sơn thời
kỳ ấy, kể lại:
Vào hồi 7 giờ sáng ngày 27-7-1947, tôi
được đồng chí Hồ Công Luận, Chủ tịch xã, giao nhiệm vụ:
Hôm nay cấp trên tổ chức Ngày Thương
binh toàn quốc, anh và các đồng chí bộ đội lo khánh tiết, kỳ đài để tổ chức
buổi lễ.
Tôi đưa các anh bộ đội vào khu vực xã
Bàn Cờ để dọn dẹp xung quanh gốc đa và bãi mít tinh. Tôi đi mượn cái án thư của
cụ Từ Liêm làm bàn cho Ban Tổ chức. Khu vực kỳ đài, ở ngay dưới gốc đa có treo
cờ Tổ quốc, ảnh Bác Hồ và khẩu hiệu “Lễ công bố Ngày Thương binh toàn quốc”.
Lúc bấy giờ cây cối xung quanh địa điểm tổ chức Lễ mít tinh còn rậm rạp, tiện
cho việc giữ bí mật. Tự vệ, bộ đội đào sẵn nhiều hầm hào tránh bom. Đại biểu
đoàn thể, bộ đội tập hợp thành từng khối, nhân dân các xã Lục Ba, Minh Tiến,
Yên Lãng, Hùng Sơn đứng xung quanh...”.
Đồng chí Lê Tất Đắc, Nguyên thứ trưởng
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, người chủ trì buổi mít tinh hôm đó kể lại:
Vào 6 giờ tối ngày 27-7-1947 bắt đầu
buổi mít tinh. Có khoảng 300 đại biểu tham dự. Tôi thay mặt Ban Tổ chức đọc Thư
của Bác Hồ gửi nhân Ngày Thương binh toàn quốc. Đồng chí Lê Tỵ, đại biểu thương
binh phát biểu. Bà Ba Huy (tức Nguyễn Thị Đích), Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc xã
Lục Ba, nơi có trại an dưỡng số 1, thành lập tháng 6-1947, dành cho thương
binh, người hăng say vận động phụ nữ giúp đỡ bộ đội, thương binh, phát biểu nói
lên tình cảm, trách nhiệm của phụ nữ và nhân dân đối với thương binh. Sau này
bà Ba Huy được Bác Hồ gửi thư khen. Buổi mít tinh kết thúc trong tiếng hô vang
dậy: “Hồ Chủ tịch muôn năm”; “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Bắt
đầu từ từ đó, Ngày Thương binh 27-7-1947 trở thành ngày mà tất cả mọi người
dân, mọi cơ quan, đoàn thể trong nước bày tỏ tình cảm “Uống nước nhớ nguồn”,
“Đền ơn đáp nghĩa” với thương binh, gia đình liệt sĩ.
Tháng 7 năm 1954 sau chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ với thắng lợi to lớn đồng thời cũng không ít bộ đội
ta thương vong, nhiều gia đình đã mất đi người con, người chồng, người cha,
người thân yêu của mình, để nhớ ơn các thương binh, gi đình liệt sĩ, theo đề
nghị của Bác Hồ, Chính phủ ta và chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm giải
quyết vấn đề binh sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955,
ngày 27 tháng 7, Ngày Thương binh toàn quốc đã được đổi thành Ngày Thương binh-
Liệt sĩ.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh
-Liệt sĩ, (27-7-1947 -2 7-7-1997) tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên, nơi chứng kiến sự ra đời và lần đầu tiên tổ chức Lễ kỷ
niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban
nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã khánh thành Khu kỷ niệm 27-7 và dựng bia kỷ niệm
với nội dung được khắc trên bia: “Nơi đây, ngày 27 tháng 7 năm 1947, 300 cán
bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố
bức thư của Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời của Ngày Thương binh- Liệt sĩ”. Cũng tại
nơi này, vào dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Thương binh- Liệt sĩ, đã được Nhà nước ta
công nhận là “Di tích lịch sử quốc gia”.
Đến nay, sau 70 năm, Khu Di tích lịch sử
Quốc gia, nơi lần đầu tiên công bố, mít tinh chào mừng Ngày Thương binh - Liệt
sĩ toàn quốc tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, Thái Nguyên vẫn còn đó
những nhân chứng, vật chứng sống cho một truyền thống của dân tộc: uống nước
nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây. Tại đây vẫn còn cây đa cổ thụ xum xuê,
tươi tốt. Mọi người ở đây thường vẫn gọi đó là “Cây đa 27-7”.
Sưu tầm
Vẫn nóng bỏng tính thời sự tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”
Tháng 10-1947, tại Việt Bắc với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
hoàn thành tác phẩm: Sửa đổi lối làm việc. Mục đích của tác phẩm là: Nâng cao
trình độ lý luận, tư tưởng và tình cảm cách mạng, phẩm chất đạo đức, tác phong
công tác của người cán bộ, năng lực lãnh đạo đáp ứng các yêu cầu mới của cách
mạng. Những nội dung của tác phẩm là những căn dặn thiết thực của Người đối với
mỗi đảng viên, cán bộ ngày nay.
Về công tác cán bộ
Hồ Chí Minh khẳng định: Muôn việc thành
công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Theo Người: Có cán bộ tốt, việc
gì cũng xong. Ngay từ khi
chính quyền cách mạng nhân dân được thành lập, Hồ Chí Minh đã mời những nhân
sĩ, học giả, trí thức của xã hội cũ ra làm việc và tham gia vào công tác chính
quyền. Tất cả những ai có chuyên môn, cần dùng vào lĩnh vực nào nếu có nhiệt
tâm đều được trọng dụng. Đồng thời với đào tạo và rèn luyện đội ngũ cán bộ cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư làm công bộc cho dân, Hồ Chí Minh kêu gọi các
ngành, các cấp và địa phương tìm và tiến cử nhân tài kiến quốc. Người nhắc nhở:
Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự,
văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến. Nhưng vì cách
lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế
cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài,
chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi
ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.
Đối với phẩm chất đạo đức của người cán
bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh nêu ra 5 tiêu chí ngắn gọn, súc tích, tiêu biểu của
người cán bộ đảng viên gồm: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Phẩm chất đạo đức
trên đã thể hiện khái quát các mối quan hệ xã hội của người cán bộ, đảng viên
với Tổ quốc, với nhân dân, với đoàn thể và cá nhân.
Việc chọn người và thay người cũng là
một khâu quan trọng trong công tác lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chúng ta phải
có kế hoạch, chính sách đối với cán bộ già, cán bộ trẻ. Già làm được việc gì
thì giao việc ấy, không thì đối đãi thỏa đáng, cán bộ trẻ có tài, đức thì phải
mạnh dạn đề bạt.
Về
phương pháp làm việc và kiểm soát của người cán bộ lãnh đạo
Theo Hồ Chí Minh, cần áp dụng những
phương pháp sau:
Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng.
Trước khi đưa ra bất kỳ một quyết định nào, người lãnh đạo không được quan liêu
mà phải căn cứ vào thực tế, nắm chắc hoàn cảnh để xem xét quyết định của mình
có hợp lý không. Tiếp theo đó cần phải áp dụng hiểu biết của mình một cách năng
động. Sau khi nắm rõ tình hình cần tổ chức bàn bạc một cách kịp thời và dân chủ
trong tập thể lãnh đạo. Khi tập thể lãnh đạo đã hoàn toàn thống nhất ý kiến,
người lãnh đạo chủ yếu cần phải có lòng tin và quyết đoán đưa ra quyết định
cuối cùng.
Phải tổ chức thi hành cho đúng. Công
việc khó đạt kết quả tốt nếu chỉ có một người lãnh đạo quyết định. Muốn việc
tiến triển tốt và hiệu quả, người lãnh đạo cần tổ chức được lực lượng, đóng vai
trò hạt nhân đoàn kết tạo nên sức mạnh thành công.
Phải tổ chức kiểm soát. Người căn dặn:
Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi
hành hay không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách
là khéo kiểm soát, vì vậy người lãnh đạo phải kiểm tra, kiểm soát thường xuyên.
Về
nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mối quan hệ
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Bác chỉ rõ: Có kinh nghiệm mà không có lý
luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ, lý luận cốt áp vào công việc thực tế,
lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Người cán bộ phải ra sức
học tập lý luận, đồng thời luôn luôn biết tổng kết kinh nghiệm trong công tác.
Phê bình và tổng kết kinh nghiệm là quy luật phát triển của cách mạng.
Về
phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng
Người căn dặn: Trước hết là nói, viết
sao cho có hiệu quả để ai cũng dễ nghe, dễ hiểu. Đổi mới công tác tuyên truyền,
giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với
việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác
xây dựng đảng của các cấp.
Theo Hồ Chí Minh, sửa đổi lối làm việc
sẽ giúp phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém trong
lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn của đảng cầm quyền. Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm
việc đúng hơn, khéo hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
70 năm đã trôi qua nhưng tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vẫn nóng hổi tính thời sự. Chúng ta đang tích cực thực hiện 2 nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII với nhiều nội dung về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên. Những nội dung trong tác phẩm của Bác là căn cứ để Đảng ta có những quyết sách đúng đắn, phù hợp, xây dựng Đảng vững mạnh, tiếp tục đưa nước ta ngày một phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Sưu tầm

