Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

 Sửa đổi Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam:

RÚT NGẮN THỜI GIAN THĂNG QUÂN HÀM SĨ QUAN CẤP UÝ LÀ HỢP LÝ, HỢP TÌNH

Toàn quân vừa tiến hành tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và phần lớn các ý kiến đều đề nghị cần sửa đổi luật này cho phù hợp với tình hình mới; đồng thời khắc phục một số bất cập phát sinh trong quá trình thi hành luật hiện nay.

Tại Hội nghị tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam do Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 10-6 vừa qua, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã khẳng định: Việc sửa đổi một số điều của Luật Sĩ quan hiện hành là cần thiết, nhằm bảo đảm quyền lợi tốt hơn, tác động tích cực đến quá trình thực hiện nhiệm vụ của sĩ quan, góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo đó, hội nghị đã thống nhất đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Sĩ quan hiện hành và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập hiện nay, như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan; trần quân hàm cấp tướng; rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ, chính sách đối với sĩ quan; sĩ quan dự bị...

Đây là thông tin được cán bộ, chiến sĩ toàn quân cùng thân nhân, gia đình hết sức quan tâm. Đặc biệt, việc đề xuất rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ được các đối tượng liên quan trực tiếp đồng tình, mà cử tri và nhân dân cả nước đều thấy rõ sự cần thiết và ủng hộ, bởi những lý do sau:

Một là, theo quy định hiện hành, thời hạn xét thăng quân hàm từ thiếu úy lên trung úy là 2 năm; trung úy lên thượng úy và thượng úy lên đại úy là 3 năm.

Như vậy, trong điều kiện bình thường, sĩ quan phát triển tuần tự từ thiếu úy lên đại úy mất 8 năm và sau ít nhất 13 năm công tác (từ lúc học sĩ quan), ở tuổi ngoài 30 mới có quân hàm đại úy. Thực tế cho thấy, ở độ tuổi này sĩ quan phải làm việc với cường độ rất cao, đại đa số phải trực tại đơn vị và rất ít được về nhà nên cuộc sống gia đình vất vả cả về kinh tế và tinh thần.

Việc rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm sĩ quan cấp úy sẽ tạo động lực cho sĩ quan thêm yên tâm công tác, tích cực phấn đấu, nhất là giúp sĩ quan cấp úy (cùng với người thân) bớt so sánh về điều kiện sống và làm việc, công tác với bạn bè cùng lứa tuổi là cán bộ, công chức viên chức hay làm nghề tự do...

Hai là, thực tế nhiều năm qua, thu nhập của sĩ quan cấp úy thấp so với mặt bằng chung, ngoài lương thì hầu như không có khoản thu nhập nào khác, phụ cấp chức vụ và phụ cấp thâm niên của sĩ quan cấp úy rất ít (nhiều trường hợp là trợ lý, nhân viên không có phụ cấp chức vụ). Việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy sẽ giúp các sĩ quan trẻ được tăng lương sớm hơn, cải thiện thu nhập, bớt một phần khó khăn.

Ba là, những năm vừa qua, số thí sinh đăng ký tuyển sinh vào các trường sĩ quan có xu hướng giảm và điều rất đáng báo động là rất ít học sinh giỏi đăng ký học sĩ quan. Nguyên nhân chủ yếu là thu nhập của sĩ quan không cao, trong khi điều kiện công tác và thời gian làm việc gò bó, vất vả, xa gia đình...

Thậm chí, có tình trạng một số học viên sĩ quan và sĩ quan trẻ còn muốn xin chuyển ngành, xuất ngũ. Thực tế này ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bởi nhân lực chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò quyết định sức mạnh của mọi tổ chức. Nếu rút ngắn thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy sẽ góp phần khắc phục được tình trạng này, tạo động lực thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào công tác trong Quân đội. 

Ba lý do chính nêu trên đã cho thấy sự cần thiết của việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy. Bên cạnh đó, việc rút ngắn thời hạn thăng quân hàm cấp úy còn là cơ sở để sĩ quan có đủ thời gian phát triển đến những bậc quân hàm cao hơn theo quy định của Luật Sĩ quan, bởi thực tế có những sĩ quan giữ chức vụ có trần quân hàm cao nhưng chưa đến hạn xét thăng quân hàm thì đã đến tuổi nghỉ hưu (nhất là với các sĩ quan trước đó bị chậm quân hàm vì giữ chức vụ chưa có trần quân hàm dù đã đến niên hạn).

Cuối cùng, điều rất cần phải nói thêm là thực tế công việc của sĩ quan cấp úy rất vất vả, nhất là với sĩ quan giữ chức trung đội trưởng, trực tiếp quản lý, huấn luyện chiến sĩ. Thời gian làm việc của đội ngũ “đầu binh cuối cán” gần như 24/24 giờ và kéo dài quanh năm, trừ ít ngày nghỉ phép; không chỉ trực tiếp làm công tác quản lý, chỉ huy bộ đội, mà còn phải trực tiếp huấn luyện đơn vị rất nhiều nội dung (không có chế độ phụ cấp “đứng lớp” như đối với giáo viên)... Vì thế, chủ trương rút ngắn thời hạn thăng quân hàm sĩ quan cấp úy không chỉ hợp lý mà còn rất hợp tình, thể hiện sự quan tâm chăm lo cho cán bộ cơ sở, là yếu tố động viên sĩ quan trẻ nỗ lực phấn đấu, cống hiến.

HUY QUANG

 GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT, GIỮ NGHIÊM KỶ LUẬT QUÂN ĐỘI LÀ THIẾT THỰC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nền nếp, thói quen trong mọi hành vi, hoạt động của mỗi công dân và các tổ chức trong xã hội, cần phải thường xuyên quan tâm chăm lo nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Đây không chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, mà còn là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội và của mỗi người dân. Đảng ta đã xác định: “Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật”. Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước càng phải tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội nhằm góp phần bảo vệ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực tế những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và coi trọng bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật như một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng quân đội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Hiện nay, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có nhiều tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật càng trở nên cấp thiết nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu và chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Bồi dưỡng ý thức pháp luật là khâu rất quan trọng để đưa pháp luật thực sự đi vào đời sống xã hội trong lĩnh vực hoạt động quân sự. Thông qua bồi dưỡng ý thức pháp luật làm cho mọi người có trình độ văn hóa pháp lý cần thiết, trên cơ sở đó xác định đúng trách nhiệm, nghĩa vụ và tự giác chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ quân đội; tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động.

Quán triệt và cụ thể hóa các chương trình của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, các đơn vị trong toàn quân đã triển khai nghiêm túc, đầy đủ nội dung quy định; hoàn thành việc phổ cập những kiến thức cơ bản về pháp luật và phổ biến kịp thời các nội dung pháp luật có liên quan tới mọi quân nhân như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hôn nhân và gia đình; đồng thời, trang bị những kiến thức pháp luật trực tiếp liên quan đến chức năng nhiệm vụ đơn vị, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân như: Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi), Luật Sĩ quan, Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn, Pháp lệnh dân quân, tự vệ… Nội dung quan trọng trong các bộ luật có liên quan trực tiếp đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp vận dụng trong sinh hoạt, học tập và công tác như Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Giao thông đường bộ, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và biện pháp phòng ngừa trong quân đội.

Bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật được thực hiện dưới nhiều hình thức như tuyên truyền thông qua đài truyền thanh nội bộ, qua chế độ thông báo chính trị, nói chuyện thời sự, các hoạt động “sân khấu hóa”, diễn đàn thanh niên, văn hóa văn nghệ, tọa đàm khoa học… nhằm thực hiện lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành. Thông qua các hoạt động tích cực nêu trên, công tác bồi dưỡng ý thức pháp luật đã thu được những kết quả nhất định. Tình hình chấp hành pháp luật, kỷ luật quân đội có nhiều chuyển biến tiến bộ do trình độ nhận thức pháp luật, ý thức chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được nâng cao. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật trong mấy năm qua vẫn chưa ngang tầm với yêu cầu thực hiện quản lý quân đội bằng pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội.

Trong những năm tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục triển khai quán triệt thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), trong đó xác định rõ mục tiêu “đến năm 2030, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”. Đồng thời, đề ra một trong những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng là: “Ðẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về Hiến pháp và pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”; “tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật”; “đổi mới cơ chế thi hành pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với thực hiện pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả”. Để triển khai kịp thời hiệu quả các chủ trương, đường lối được đề ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có những chỉ thị cần thiết để triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quân đội. Các văn bản đó sẽ là cơ sở định hướng quan trọng trong việc tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội. Là nội dung quan trọng của công tác giáo dục, huấn luyện, bồi dưỡng ý thức pháp luật nhằm làm cho mọi người có trình độ giác ngộ cao về chính trị, tuyệt đối trung thành, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, lối sống trong sáng, ý thức kỷ luật nghiêm. Với ý nghĩa đó, quân đội phải tăng cường bồi dưỡng ý thức pháp luật cho tất cả các đối tượng. Trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, tích cực đổi mới nội dung bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp với từng đơn vị, từng đối tượng trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Ý thức pháp luật được cấu thành bởi các yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, do vậy nội dung bồi dưỡng phải đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành, đặc biệt coi trọng trang bị và nâng cao tri thức pháp luật, khơi dậy sự giác ngộ và tình cảm tốt đẹp của quân nhân đối với pháp luật. Trong quá trình thực hiện, phải luôn bám sát vào nội dung các văn bản, chỉ thị và hướng dẫn của cơ quan cấp trên về pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật quân đội; căn cứ vào đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ đơn vị để xác định nội dung bồi dưỡng cho phù hợp. Cần chú trọng đến các nội dung có liên quan đến quốc phòng, an ninh, hoạt động quân sự; các văn bản liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ công dân nói chung và quân nhân nói riêng. Đối với cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm quy định những điều điều đảng viên không được làm; những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý vi phạm kỷ luật và những vấn đề quan trọng, bức xúc mới nảy sinh trong thực tiễn mà đơn vị đang tập trung tháo gỡ như: quy định về cấm quân nhân uống bia, rượu trong giờ hành chính, cấm say trong mọi lúc mọi nơi, cấm căng tin trong đơn vị bán bia, rượu; bắt buộc mọi quân nhân đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy tham gia giao thông đường bộ… Đây là những nội dung quan trọng trong bồi dưỡng ý thức pháp luật, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đơn vị quân đội. Nội dung này không chỉ giúp quân nhân chấp hành nghiêm pháp luật, hạn chế tội phạm xảy ra, mà còn thiết thực chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội và góp phần xây dựng Nhà nước vững mạnh toàn diện, quản lý xã hội bằng pháp luật.

Hai là, kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng ý thức pháp luật cho phù hợp để quân nhân dễ tiếp thu, dễ nhớ, dễ vận dụng.

Các văn bản quy phạm pháp luật thường có nhiều thuật ngữ khó, nội dung nhiều và không dễ tiếp thu, trong khi đó thời gian dành cho bồi dưỡng ý thức pháp luật là có giới hạn. Do vậy, thường xuyên kết hợp nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp, tạo ra nhiều “kênh” thông tin về pháp luật cho quân nhân là rất cần thiết. Ngoài việc bồi dưỡng pháp luật theo chương trình, kế hoạch hàng năm của cơ quan chính trị, còn cần phải thường xuyên lồng ghép bồi dưỡng ý thức pháp luật với các hình thức hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị; tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về pháp luật; giữ nghiêm kỷ luật trong các ngày nghỉ cuối tuần, hoạt động dã ngoại và hoạt động ngoại khóa; tổ chức các hoạt động thi đua đột kích trong các tháng cao điểm về chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật theo từng chủ đề một cách sinh động; ngoài ra, phải thường xuyên tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đọc báo, nghe đài, xem tivi về các chuyên mục tìm hiểu, giải đáp pháp luật…

Ba là, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và uốn nắn kịp thời những sai phạm của các đối tượng thuộc quyền.

Trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, cần đưa các nội dung giáo dục pháp luật thành chế độ nền nếp hoạt động của đơn vị; coi kết quả bồi dưỡng ý thức pháp luật là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên, đoàn viên hằng năm. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải thực sự là tấm gương sáng về ý thức chấp hành pháp luật, giữ nghiêm kỷ luật để chiến sĩ học tập, làm theo. Đó là những việc làm thiết thực góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong quân đội ta hiện nay./. 

MIỀN TRUNG

 “NÓI MIỆNG, AI CŨNG NÓI ĐƯỢC. TA CẦN PHẢI THỰC HÀNH”


Trong Bài nói chuyện tại Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, Bác Hồ đã chỉ rõ: “… Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm.

Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân”. Bài nói được đăng trên Báo Cứu quốc, số 136 (06/01/1946), cách đây hơn 74 năm, trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, đang đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức lớn, đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta phải củng cố, xây dựng, phát huy cao độ vai trò các tổ chức, các lực lượng, nhất là vai trò gương mẫu, đi đầu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kháng chiến, kiến quốc.

Lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉnh huấn, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ trong các trường quân sự của Đảng, Nhà nước phải gương mẫu đi đầu trong hành động, tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, gắn bó giúp nhân dân, chống mọi biểu hiện: Nói nhiều, nói suông; nói không đi đôi với làm, đoàn kết chiến đấu chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ thành quả cách mạng. Thấm nhuần lời dạy của Người, ngay từ đầu năm 1946, Trường Cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh và các trường quân sự đã được lãnh đạo, chỉ huy trong các nhà trường quân đội quán triệt sâu sắc, chuyển hóa thành kế hoạch hành động cách mạng, thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo cán bộ quân sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cách mạng.

Hiện tại, lời năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các nhà trường quân đội nghiên cứu học tập, vận dụng sáng tạo vào giáo dục-đào tạo, với phương châm gắn nhà trường với đơn vị; lý luận với thực hành, lấy thực hành làm chính; nêu cao vai trò gương mẫu của đội ngũ giảng viên, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ sĩ quan quân đội vừa "hồng", vừa "chuyên", đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.


QĐND

Nghệ thuật sử dụng tam thập lục kế trong chiến tranh của ông cha ta

 

 

Tam thập lục kế hay Tam thập lục sách là cuốn sách ghi lại 36 kế sách nổi tiếng của Trung Quốc. Hiện chưa rõ ai là tác giả chính thức của cuốn sách. Có ý kiến cho rằng Tam thập lục kế do Tôn Tử thời Xuân Thu chấp bút, cũng có ý kiến cho đó là trước tác của Gia Cát Vũ Hầu thời Tam Quốc. Tuy nhiên các ý kiến trên đều chưa có cơ sở khoa học vững chắc. Hiện nay, quan điểm phổ biến nhất cho rằng Tam thập lục kế được biên soạn bởi nhiều tác giả khác nhau trong suốt lịch sử Trung Quốc. Hiện không rõ Tam thập lục kế được truyền sang nước ta vào giai đoạn nào nhưng chắc chắn rằng trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tiếp thu những tinh hoa của cuốn sách này, sáng tạo và vận dụng theo cách của riêng mình. Bài viết dưới đây xin điểm qua một số kế “điển hình” trong cuốn sách trên mà các nhà quân sự nước ta sử dụng đã được sử sách ghi lại.

1. Kim thiền thoát xác

Kim thiền thoát xác nghĩa là con ve sầu vàng lột xác. Kế này dùng cho lúc nguy cấp, nguy hiểm đến tính mạng. Người thực hiện kế này ngụy trang thành một người khác để đánh lừa đối phương nhằm chạy trốn, chờ cơ hội khác “báo thù rửa hận”. Theo các sách như Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục… vào giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân Lam Sơn do lực lượng mỏng, không tinh nhuệ, lương thảo thiếu thốn nên thường xuyên thua trận. Trong một lần bị quân Minh vây đánh, tình thế hết sức nguy cấp, Lê Lợi đã hỏi các tướng lĩnh theo mình ai chịu thực hiện kế kim thiền thoát xác để cứu chúa. Lê Lai đã đứng ra nhận thực hiện kế này. Ông mặc áo bào của Lê Lợi, dẫn quân xông ra mở đường máu, thu hút sự chú ý của quân Minh tạo điều kiện cho Lê Lợi thoát thân. Sự hi sinh anh dũng của Lê Lai là một trong những nhân tố then chốt giúp nghĩa quân Lam Sơn không bị tan rã, sau đó phát triển lớn mạnh đánh tan quân Minh xâm lược giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ. Có thể nói đây là kế “kim thiền thoát xác” thành công nhất trong lịch sử quân sự nước nhà, là nền tảng dựng nên một triều đại mới.

2. Mĩ nhân kế

Mĩ nhân kế là cách dùng gái đẹp để làm xoay chuyển, thay đổi tình thế mà những phương thức khác không thể thực hiện được. “Anh hùng nan quá mĩ nhân quan”, trong lịch sử quân sự thế giới, đây là một trong những kế sách cổ xưa nhất và cũng hiệu quả nhất từ trước đến nay. Phù Sai mất nước vào tay Câu Tiễn một phần là do Tây Thi, Đổng Trác chết thảm bởi nhan sắc chim sa cá lặn của Điêu Thuyền. Cha ông ta trong quá trình dựng nước và giữ nước ở những tình thế nhất định cũng sử dụng kế sách này. Khi vó ngựa quân Nguyên Mông ồ ạt như bão lũ tràn xuống xâm lược, để làm chậm bước tiến quân của địch, tạo cho đại quân có thêm thời gian tổ chức lực lượng, chuẩn bị chiến đấu vua Trần Thánh Tông đã phải gả em gái út của mình là công chúa An Tư cho Thoát Hoan. Kế hoạch đã thành công mĩ mãn. Tốc độ tiến quân của quân Nguyên Mông chậm lại. Sau này dưới tài thao lược “dụng binh như thần” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và tinh thần chiến đấu quả cảm anh dũng vô song của đội quân “Sát Thát”, nhà Trần đã đánh tan quân Nguyên Mông xâm lược, một lần nữa giải nguy cho đất nước khỏi vó ngựa Mông Cổ. Trong một tình huống khác, mặc dù không bị quân giặc xâm lược nhưng nhằm tạo thế bang giao, thu phục nhân tâm của người Chiêm, vua Trần Anh Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Cuộc hôn nhân này đã giúp Đại Việt không những ổn định mà cỏn mở rộng bờ cõi ra phía Nam nhờ của hồi môn của công chúa Huyền Trân là hai châu Ô, Lý vua Chiêm trao tặng.

3. Tiên phát chế nhân

Tiên phát chế nhân là kế ra tay trước để giành chiếm ưu thế, đoạt lợi, giành lấy chiến thắng. Nhà quân sự đầu tiên và có lẽ cũng là duy nhất đến thời điểm này sử dụng kế tiên phát chế nhân ở nước ta là danh tướng Lý Thường Kiệt. Sau thất bại ở lần xâm lược thứ nhất, nhà Tống vẫn nuôi mộng xâm lăng Đại Việt. Vua quan nhà Tống đã huy động hàng chục vạn quân, xây dựng các căn cứ quân sự, hậu cần giáp biên giới để tập kết lực lượng, tích trữ lương thảo, phục vụ trực tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt. Trước mưu đồ xâm lược ngày càng lộ rõ của nhà Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động đề xuất với triều đình nhà Lý đem quân đi đánh phủ đầu, đập tan ý đồ xâm lược của quân địch. Vậy là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước nhà, quân đội nhà Lý đã Bắc phạt, chủ động công kích một quân đội mạnh hơn nhiều lần. Ông dẫn 10 vạn quân tinh nhuệ, bất ngờ mở cuộc tiến công sang phía Nam đất Tống, nhanh chóng tiêu diệt các đồn, trại của giặc, triệt phá các căn cứ quân sự, hậu cần quan trọng ở dọc biên giới từ cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu cho tới thành Ung Châu, buộc nhà Tống một lần nữa phải từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta. Những chiến thắng vang dội của quân đội nhà Lý đã chứng minh việc sử dụng kế tiên phát chế nhân của Lý Thường Kiệt là hoàn toàn đúng đắn, thích hợp và sáng tạo trong hoàn cảnh bấy giờ.

4. Khổ nhục kế

Người thực thi kế này phải tự hoặc để người khác hành hạ bản thân mình nhằm tiếp cận, chiếm vào lòng tin của kẻ địch để hoàn thành một âm mưu nào đó. Người thực thi kế khổ nhục dài nhất và cũng thành công nhất ở nước ta là Nguyễn Trãi, danh nhân văn hóa thế giới, nhà chính trị - quân sự kiệt xuất, “kiến trúc sư” trưởng của chiến thắng Lam Sơn. Sau khi nhà Hồ thua trận, đất nước bị nhà Minh thôn tính, nhân dân lầm lạc. Biết Nguyễn Trãi là người có tài, các tướng nhà Minh là Trương Phụ, Hoàng Phúc đã dụ ông ra làm việc cho chúng. Nguyễn Trãi không chịu, ông dùng khổ nhục kế, chấp nhận bị giam lỏng ở thành Đông Quan. Suốt mười năm trời sống trong cảnh “nhà một gian/ no nước uống/ thiếu cơm ăn”, Nguyễn Trãi đã hoàn thành Bình Ngô sách và chiếm được lòng tin của Hoàng Phúc. Sau đó, vào thời cơ thích hợp, lợi dụng lòng tin của viên tướng giặc này, Nguyễn Trãi đã bỏ trốn khỏi Đông Quan, tìm gặp Lê Lợi, mở ra một chương mới cho nghĩa quân Lam Sơn

5. Dĩ dật đãi lao

Dĩ dật đãi lao có nghĩa là “lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi mệt”, đợi quân địch mỏi mệt, nhuệ khí chiến đấu giảm sút rồi mới thừa cơ xuất kích để giành lấy thắng lợi. Kế dĩ dật đãi lao được nghĩa quân Lam Sơn áp dụng trong trận Chi Lăng - Xương Giang nổi tiếng. Khi hay tin Liễu Thăng, Mộc Thanh đem mười mấy vạn quân chia hai ngả ứng cứu Vương Thông, Lê Lợi đã bàn với các tướng lĩnh nên dùng kế dĩ dật đãi lao để hạ địch. Theo kế này, nghĩa quân Lam Sơn đã đón lõng Liễu Thăng ở biên ải. Và kết thúc của viên tướng nhà Minh đã xảy ra như những lời miêu tả trong Bình Ngô Đại Cáo “Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế/ Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu”.

6. Phủ để trừu tân

Phủ để trừu tân có nghĩa là rút lửa đáy nồi. Kế này dùng trong quân sự là nhắm vào hậu cần, quân lương, tiếp tế của địch khiến địch thiếu thốn buộc phải chấp nhận thất bại. Nhà Trần đã sử dụng kế này, đập tan tham vọng “báo thù, rửa hận” biến Đại Việt thành nô lệ của quân Nguyên Mông trong lần thứ ba xâm lược. Ở lần tấn công này, quân Nguyên đã lập thêm đạo thủy quân do Ô Mã Nhi thống lĩnh vừa nhằm tiến đánh theo đường thủy, vừa bảo vệ đoàn thuyền lương do tướng Trương Văn Hổ chỉ huy đi sau. Sở dĩ quân Nguyên vận lương bằng thủy quân là nhằm giải quyết tình trạng thiếu lương - một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của chúng trong hai lần xâm lược trước - khi phương án vận chuyển bằng đường bộ cho đạo quân lên tới 50 vạn đi vào nơi “xa xôi, hiểm trở” như Đại Việt là không “an toàn” và không đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên vua quan, tướng lĩnh nhà Trần đã sớm đoán và đập tan âm mưu chuyển lương bằng thủy quân của quân Nguyên. Sau thất bại không chặn được bước tiến của Ô Mã Nhi, tướng Trần Khánh Dư đã lập công chuộc tội bằng chiến thắng oanh liệt ở trận Vân Đồn. Ở trận này, đoàn thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã rơi vào bẫy do Trần Khánh Dư giăng sẵn trên cửa ải Vân Đồn. Kết quả toàn bộ thuyền lương của nhà Nguyên đã bị thủy quân nhà Trần đốt phá, cướp sạch. Chiến thắng Vân Đồn là chiến thắng bản lề, then chốt, mang tính chất “thay đổi cuộc chơi” giữa quân đội nhà Trần và quân Nguyên Mông. Mất lương thực, lại thêm nỗi ám ảnh về hai thất bại trước, quân Nguyên rệu rã tinh thần, rút lui nhanh chóng.

7. Điệu hổ li sơn

Điệu hổ li sơn là kế dụ, nhử địch ra khỏi nơi ẩn nấp, an toàn để dễ bề tấn công, tiêu diệt. Đây là kế người anh hùng Nguyễn Huệ áp dụng trong trận thủy chiến kinh điển Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm. Được Nguyễn Ánh cầu viện, năm 1784 quân Xiêm ồ ạt đổ bộ vào nước ta, đánh đâu thắng đấy, tình thế Đằng Trong rất nguy ngập. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ vào Nam dẹp loạn Xiêm. Sau khi nghiên cứu kĩ địa hình, tương quan lực lượng giữa hai bên, Nguyễn Huệ biết khó có thể đánh thắng quân Xiêm ở đại bản doanh của chúng nên đã dùng kế điệu hổ li sơn, khiêu khích, dẫn dụ quân Xiêm đến khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút để tiêu diệt. Trúng kế của Nguyễn Huệ, quân Xiêm hùng hổ tiến vào hiểm địa và ở khúc sông này quân Tây Sơn đã phô diễn sức mạnh hủy diệt của mình đánh cho quân Xiêm khiếp đảm, táng hồn không dám “ho he” giúp đỡ Nguyễn Ánh thêm một lần nào nữa.

Tam thập lục kế, binh pháp, trận đồ… xét đến cùng là những kinh nghiệm chiến trận được đúc rút thực tiễn. Kế sách là “chết”, là cái tĩnh tại, bất động trong sách vở. Điều quan trọng là cách vận dụng các kế sách trên chiến địa để đạt được thắng lợi cuối cùng. Qua những trận chiến ở trên, có thể thấy cha ông ta ngày trước đã rất linh hoạt, sáng tạo như thế nào trong dụng kế, tính mưu, điều binh, khiển tướng để bảo vệ cơ nghiệp của tổ tông, bảo vệ đất nước trước những đạo quân xâm lược hùng mạnh gấp nhiều lần. Những chiến thắng ấy, những cách thức vận dụng các mưu kế ấy mãi là bài học quý giá trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hôm nay./.

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC!

     Đạo đức, theo ý nghĩa thông dụng là tập hợp những quan điểm, tư tưởng, tình cảm thể hiện ra ở hành vi của một giai cấp, tầng lớp, của một người, một tổ chức xã hội hay nghề nghiệp nhất định (đảng chính trị, cơ quan nhà nước, hội, đoàn...) đối với thế giới tự nhiên, xã hội, con người!

Có thể hiểu Đạo là quy luật xảy ra xung quanh ta, không phụ thuộc vào ý muốn của cá nhân; nó là những nhân tố khách quan quy định các mối quan hệ của con người với gia đình (cha mẹ, anh em, chồng vợ, con cháu...); với học đường (thày trò, bè bạn...); với xã hội (công dân với nhà nước, đảng viên với Đảng, với đồng chí, đồng bào, đồng loại, với quốc gia, quốc tế) và con người với giới tự nhiên (môi trường, môi sinh, tài nguyên...).

Đức là sự hiểu đạo, là sự nắm vững và vận dụng quy luật, là cái chủ quan của con người khi ứng xử với thế giới khách quan. Đức thể hiện trình độ nhận thức, trước tiên là ở lời nói, ở thái độ, nhưng cuối cùng là ở hành động. Trình độ cao thì Đức dầy (đạo cao, đức trọng). Đức đi liền với hạnh (hành). Đức hạnh chính là năng lực, là hành động của con người, của tổ chức trước thế giới khách quan.

Mỗi một hình thái kinh tế-xã hội hình thành trên đó những kiểu đạo đức đặc thù của nó và cùng trong một xã hội, mỗi giai cấp, tầng lớp... xuất phát từ lợi ích của nó lại có một quan niệm khác nhau về đạo đức. Những giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, tiêu biểu cho xu hướng phát triển tiến lên của nhân loại thường có nhận thức và hành vi đạo đức tiến bộ, có sức cảm hoá và chi phối chung đối với đạo đức xã hội đương thời. Đó chính là một thứ đạo đức mới, đạo đức của một giai cấp đại diện cho sức phát triển tiên tiến và đang có sứ mệnh dẫn đầu cuộc cải biến cách mạng và kiến tạo xã hội mới-xã hội không có người bóc lột người.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức của giai cấp công nhân kết hợp nhuần nhuyễn với tinh hoa đạo đức truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam, nó là sự thể hiện bản chất, tư cách, sứ mệnh cao cả và bổn phận của Đảng đối với nhân dân, Tổ quốc. Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng ta là một đảng chân chính cách mạng “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(1). Người còn nói: Đảng cũng ở trong xã hội mà ra và Đảng là do mỗi một đảng viên, do nhiều đảng viên kết lại mà thành. Vì vậy, mỗi một đảng viên trước hết phải là một công dân có đạo đức (đạo đức làm người, đạo đức công dân) đồng thời phải thấm nhuần đạo đức cách mạng bởi theo logic của sự phát triển thì người ta ai cũng vậy, trước tiên là phải biết làm việc, có biết làm việc thì mới biết làm người và có biết làm một người chân chính thì mới biết làm một đảng viên, cán bộ tốt, tức là biết làm một chiến sĩ cách mạng, một đảng viên của một Đảng chân chính cách mạng.

Về đạo đức công dân, Hồ Chí Minh nói ngắn gọn: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân”(2). Khái niệm bổn phận có quan hệ chặt chẽ với khái niệm thân phận. Con người biết rõ được thân phận (cái tôi) của mình nhờ có sự phát triển về sinh lý, tâm lý và quan hệ xã hội. Cái tôi chỉ xuất hiện trong quan hệ với người khác, với cộng đồng (gia đình, dòng tộc, dân tộc, quốc gia...). Khi người ta tự ý thức được mình là ai, là thế nào và phải làm gì trong quan hệ ấy tức là lúc nó ý thức được bổn phận của mình. Ở đây Hồ Chí Minh muốn mỗi người Việt Nam, sau khi đã có chính quyền thì phải hiểu rằng thân phận của mình đã thay đổi từ là người nô lệ, mất nước trở thành người làm chủ đất nước nên phải có thái độ đúng trong quan hệ với Nhà nước của chính mình tức là ý thức về cái tôi - công dân, của một nước Việt Nam mới, một nước dân chủ cộng hoà. Mỗi công dân đều được hưởng quyền lợi của mình thì đồng thời cũng phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Đó là đạo đức công dân. Khái niệm bổn phận ở đây là để nhấn mạnh đến khía cạnh nghĩa vụ như là sự tất yếu của “cái tôi”, của đạo đức làm người, đạo đức công dân - một tất yếu của người làm chủ nước nhà.

Đạo đức công dân, theo Hồ Chí Minh, bao gồm:
    - Tuân theo pháp luật Nhà nước.
    - Tuân theo kỷ luật lao động.
    - Giữ gìn trật tự chung.
    - Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số lượng để xây dựng lợi ích chung.
    - Hăng hái tham gia công việc chung.
    - Bảo vệ tài sản công cộng.
    - Bảo vệ Tổ quốc (3).

Mỗi đảng viên trước hết phải là người có đạo đức công dân, gương mẫu làm tròn bổn phận công dân, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng.

Đạo đức cách mạng là hệ thống các mối quan hệ cơ bản và nội dung của các mối quan hệ đó mà người đảng viên phải nhận thức và rèn luyện để ứng xử với bản thân, với tổ chức, với nhà nước, với nhân dân và với đồng chí, đồng bào. Tất cả mọi cán bộ, đảng viên dù làm công tác đảng hay công tác chính quyền, dù ở bất cứ cương vị nào đều do yêu cầu của cách mạng mà tổ chức phân công. Theo Hồ Chí Minh, dù là chủ tịch nước, uỷ viên các cấp bộ Đảng hay bộ trưởng cho đến nhân viên lái xe, quét rác... tất cả đều phải rèn luyện đạo đức cách mạng, đều phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân.

Hồ Chí Minh không bàn về đạo đức một cách hàn lâm như các nhà đạo đức học. Những phạm trù đạo đức cách mạng mà Người sử dụng đều chứa đựng một nội dung cách mạng và khoa học trên cơ sở những giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu, phát triển những giá trị đạo đức cao đẹp của nhân loại. Với ý thức thực hiện một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức, tự mình nêu gương và đòi hỏi những ai đứng trong hàng ngũ cách mạng đều phải lấy đạo đức làm gốc, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống quan điểm đạo đức mới mà Người gọi là đạo đức cách mạng. Có thể khẳng định rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển một ngành đạo đức mới - đạo đức cách mạng Việt Nam - mà Người vừa là tác giả sáng tạo lý thuyết, vừa là nhà thực hành mẫu mực. Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, đồng thời Người là biểu tượng cao đẹp nhất về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về phạm trù “đạo đức”, Hồ Chí Minh đã rất chú trọng xác định nội hàm phổ biến của nó thể hiện ở cách dùng các từ có nghĩa tương đồng với nhau để diễn đạt sao cho dung dị, dễ hiểu, gắn liền với từng đối tượng cụ thể. Lúc đầu Người dùng khái niệm “tư cách”. Năm 1925, khi viết cuốn “Đường kách mệnh” (xuất bản năm1927), cuốn sách mở lòng cho các cán bộ lớp đầu tiên của Đảng, Người dành hẳn một chương viết về “Tư cách một người cách mệnh”. Đến năm 1947, khi viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người dùng cả hai khái niệm "Tư cách" và ‘"Đạo đức” với nội dung cơ bản giống nhau. Có khi Người lại nói “đạo đức cách mạng” là những” tính tốt” bao gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư hoặc nhân, nghĩa, trí dũng, liêm... Khi khuyên dạy các đối tượng như du kích, bộ đội, công an... Người thường dùng khái niệm tư cách như “tư cách đội viên du kích”, “tư cách người công an cách mạng”. Lại có khi Người dùng khái niệm “nhân cách” cũng với ý nghĩa như “tư cách” hoặc “đạo đức”. Ví dụ “Muốn giữ vững nhân cách, tránh khỏi hủ hoá thì phải luôn luôn thực hành bốn chữ…: cần kiệm, liêm chính”(4). Đến tháng 12-1958, Người cho in một chuyên luận trên Tạp chí Học tập (bút danh: Trần Lực) với tựa đề: “Đạo đức cách mạng”. Có thể nói, ở tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã nêu ra một cách đầy đủ, hoàn chỉnh, chính xác nhất về quan điểm đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa và biểu hiện của đạo đức cách mạng
- “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước”(5).

 - “Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá. Đó cũng là những biểu hiện của đạo đức cách mạng”(6).

Về hệ thống các phạm trù đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh không chú trọng lập ngôn, hầu như Người dùng lại tất cả những khái niệm, phạm trù đã có trong học thuyết Đức trị của Nho giáo như: trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nhân, nghĩa, tín, trí, dũng... Nhưng cái đặc sắc của Hồ Chí Minh là ở chỗ không những Người biết tiếp thu một cách chọn lọc những tinh hoa văn hoá, đạo đức Nho giáo mà Người còn loại bỏ những nội dung hẹp hòi, lỗi thời và đưa vào những phạm trù nói trên các nội dung hoàn toàn mới, phù hợp với thời đại mới. Có thể thấy rõ Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng về đạo đức, Người đã biến đổi, phát triển, thay thế tư tưởng đạo đức Nho giáo truyền thống thành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống các phạm trù đạo đức cách mạng thì phạm trù xuất phát là Trung thành. Xưa là trung với vua, trung thành nhiều khi mù quáng. Một thứ ngu trung mang nặng ý thức hệ phong kiến, coi sơn hà, xã tắc là của vua nên trung quân được coi là ái quốc. Với Hồ Chí Minh thì lòng trung thành tuyệt đối là trung với nước, với Tổ quốc và nhân dân. Lòng trung thành với Đảng cũng chính bởi Đảng đặt lợi ích của nhân dân, Tổ quốc lên trên hết, trung thành với Đảng là bởi vì Đảng trung thành với nhân dân. Trung thành đi kèm với xây dựng, bảo vệ chính quyền nhân dân, lấy nhân dân làm mục tiêu quyết định, chi phối mọi hành động. Lòng trung thành được thử thách rõ ràng nhất khi Tổ quốc bị xâm lăng thì dám hy sinh chiến đấu đánh đuổi bọn cướp nước và bọn tay sai bán nước để giành và giữ vững chủ quyền quốc gia. Lòng trung thành còn phải thể hiện ở tinh thần lao động sáng tạo xây dựng đất nước giàu mạnh và còn ở sự dũng cảm đấu tranh chống lại mọi bất công, tàn bạo, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng trong bộ máy chính quyền.

Theo Hồ Chí Minh, lòng trung thành - với nội hàm như trên - phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống quan điểm đạo đức cách mạng. Ví dụ, khi nói về phạm trù “liêm” Người đã phân tích như sau:

“Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan, không đục khoét dân gọi là liêm, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp…

Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ liêm có nghĩa rộng hơn, là mọi người đều phải liêm... Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm. Cũng như chữ kiệm phải đi đôi với chữ cần. Có kiệm mới liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm”(7).

Theo Hồ Chí Minh những biểu hiện dưới đây đều là bất liêm:
“Người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư.

Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian, bán lậu, chợ đen, chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.

Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu, bóp họng đồng bào.

Người cày ruộng, không ra công đào mương mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.

Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào.

Người cờ bạc chỉ mong xoay của người làm của mình.

Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc, nguy hiểm không dám làm là tham vật uý lao (tham vật chất, sợ lao động, ngại khó - TĐH chú thích).

Gặp giặc mà rút ra, không giám đánh là tham sinh uý tử (tham sống sợ chết; hèn, TĐH chú thích)(8).

Hồ Chí Minh đã kết luận như sau: “Do bất liêm mà đi đến tội trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp... Cụ Khổng Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Để thực hiện chữ liêm cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và pháp luật, từ trên xuống, từ dưới lên trên.

Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vị tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”(9).

Khi phân tích về chữ liêm, Hồ Chí Minh bao giờ cũng lưu ý đến ba điều cốt yếu sau đây: Một là, vai trò của nhân dân và trình độ của nhân dân trong việc làm cho bộ máy lãnh đạo, quản lý thật liêm khiết. “Quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót thì “quan dù không liêm cũng phải hoá ra liêm. Vì vậy dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm"(10). Hai là, vai trò của luật pháp. “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì"(11). Ba là, liêm luôn đi cùng với xỉ (xấu hổ). Xấu hổ là một đặc điểm thuộc bản tính người. Người biết xấu hổ thì là người có lòng tự trọng cao, là người có sức mạnh nội tâm để giữ cho bản thân tránh tham lam, tội lỗi: “Mỗi người phải nhận rằng tham lam là một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với nước, có tội với dân"(12). Muốn có đạo đức cách mạng thì, như Hồ Chí Minh đã căn dặn, mọi người từ cán bộ đảng viên cấp cao xuống đến cơ sở đều phải kiên quyết chống kẻ thù bên trong là chủ nghĩa cá nhân, đồng thời phải nghiêm khắc với bản thân mà suốt đời tu dưỡng rèn luyện để xứng đáng với tư cách là đảng viên của một đảng chân chính cách mạng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng được nhân dân tin yêu, quý trọng không chỉ vì những thành tựu vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Đảng đã mang lai cho dân tộc, mà còn vì Đảng, tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh, đã là một biểu tượng cao đẹp nhất của một kiểu đạo đức mới-đạo đức vì dân, trung với nước, hiếu với dân. Chúng ta, có thể mượn câu nói bất hủ sau đây của Nguyễn Ái Quốc khi Người nói về Lênin để hiểu rõ về một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm nên uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhân dân ta: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thày, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”(13). Đảng Cộng sản Việt Nam được suy tôn là Đảng của nhân dân các dân tộc Việt Nam vì, trước hết, Đảng ta là đạo đức./.
---------------------
(1, 7, 8, 9, 10, 11, 12) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2020, T 5, Tr 249, 240, 241.
(2, 3, 4) sđd, tập 7, tr.452, 347.
(5, 6) sđd, tập 9, tr.284.
(13) sđd, tập 1, tr.295.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG TA LÀ VĂN MINH!

         Nhiều nhà khoa học đã có những định nghĩa khác nhau về văn minh. Chúng tôi xin dẫn ra dưới đây một số định nghĩa đã được ghi trong Từ điển để chúng ta tham khảo giúp cho việc tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói: Đảng là văn minh!

Từ điển Chính trị do Nxb Tiến bộ (M) và Nxb Sự thật (H) đồng ấn hành năm 1988 ghi: Văn minh có 3 cách hiểu như sau:
- Đồng nghĩa với văn hoá;
- Trình độ, giai đoạn phát triển của nền văn hoá vật chất và tinh thần (văn minh cổ đại, văn minh hiện đại).
- Giai đoạn phát triển xã hội sau thời đại dã man.

Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của GS. Nguyễn Lân do Nxb Văn học, H. ấn hành năm 2007 cũng ghi 3 cách hiểu:

- Trình độ phát triển khá cao của nền văn hoá về tinh thần và vật chất trong xã hội loài người: “Văn hoá súc tích, tiên tiến tới một mức nào đó mới thành văn minh” (Trường Chinh).

- Cuộc sống cao đẹp đã xa thời dã man, mông muội: Trên đất nước ta đang diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa văn minh và bạo tàn (Hồ Chí Minh).

- Có trình độ văn hoá cao: Chúng ta sẽ xây lên một cuộc đời hoàn toàn mới, một xã hội phồn vinh, văn minh, hiện đại (Lê Duẩn).

Từ “văn minh”(civilization) xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào thế kỷ 18 nói lên niềm tin và khát vọng của con người vào tiến bộ xã hội. Sau đó dùng để chỉ những loại hình xã hội khác nhau kể từ khi con người ra khỏi thời tiền sử, đặc biệt để chỉ những nền văn minh cổ đại (Hy Lạp, Lưỡng Hà, Trung Hoa...). Từ văn minh cũng được đế quốc, thực dân dùng làm vũ khí chính trị che dấu mục đích xâm lược các thuộc địa dưới chiêu bài đi “khai hoá văn minh” cho các nước thuộc địa. Văn minh là một khái niệm động, nhiều nhà nghiên cứu đã ví văn minh như một cơ thể sống. Về đại thể, người ta cho rằng loài người đã trải qua ba giại đoạn văn minh chủ yếu: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Gần đây nhiều nhà khoa học cho rằng giai đoạn văn minh nào cũng bao hàm ba yếu tố: tự nhiên, kỹ thuật, con người nhưng mỗi giai đoạn văn minh lấy một trong ba yếu tố làm gốc, làm trục chính.

Sự bàn luận vẫn đang còn tiếp tục. Theo chúng tôi, trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, khi Người nói Đảng ta là văn minh thì không nên quá sa đà vào việc tranh luận có tính chất ngữ nghĩa mà cách tốt nhất là nên tôn trọng sự tồn tại các định nghĩa của khái niệm văn minh, nhưng quan trọng là xác đỉnh rõ nội hàm của nó và dụng ý của tác giả trong những văn cảnh khác nhau.

Chúng tôi nghĩ rằng câu nói của Hồ Chí Minh “Đảng ta là văn minh” có thể bao gồm một số nội dung sau đây:
- Đảng ta là văn minh bởi vì ở thời điểm khó khăn, đen tối, bế tắc nhất của xã hội Việt Nam (đầu thế kỷ 20), Đảng đã ra đời với tư cách là tổ chức chính trị tiền tiến có tính vượt trội (văn minh) so với mọi tổ chức chính trị đã xuất hiện trong cùng thời kỳ đó. Nó là con đẻ của sự vận động lịch sử và sự xuất hiện của bản thân nó chính là để đáp ứng yêu cầu khách quan, tất yếu của lịch sử dân tộc, gánh vác sứ mệnh dẫn dắt nhân dân đoàn kết đứng lên đấu tranh tự giải phóng cho mình khỏi cuộc đời nô lệ, khỏi mọi ách áp bức, bất công và tàn bạo, giành lấy chủ quyền. Đảng tự nguyện nhận làm bộ tham mưu tối cao và đội tiền phong dũng cảm trong cuộc đấu tranh ấy của nhân dân.

- Đảng ta là văn minh bởi vì nó là một tổ chức chính trị chân chính, trung thực, trung thành, quang minh chính đại, chung thuỷ, trước sau như một đều nhất quán một tinh thần yêu chuộng hoà bình, tôn trọng công lý và chính nghĩa, vì độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình và có quan hệ chân thành, bình đẳng, hữu nghị, hợp tác cùng có lợi với các dân tộc và tất cả các quốc gia trên thế giới. Đảng văn minh là bởi Đảng kiên quyết cự tuyệt thói cơ hội, mị dân, giáo điều, bảo thủ, dối trá, lừa gạt, thất tín, tiền hậu bất nhất, nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo...

- Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng là một tổ chức cách mạng, kiên trì cải tạo xã hội cũ, phá bỏ mọi cái lạc hậu; kiên trì chống lại cuộc sống mất nhân tính; nó nhân danh chính nghĩa và vì chính nghĩa mà chống phi nghĩa, tức là đấu tranh chống mọi biểu hiện của cái ác. Vì vậy, bản thân Đảng là một lực lượng tiên tiến, là bộ phận tinh hoa của xã hội, là một tập thể đại diện cho văn minh và nhân danh văn minh để chống dã man, tàn bạo.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì bản chất của Đảng, mục tiêu lý tưởng của Đảng không phải chỉ nhằm đập tan, phá bỏ cái cũ xấu xa, lạc hậu mà chủ yếu là kiến tạo và dựng xây một xã hội mới tốt đẹp, nhân đạo hoàn bị tiến tới một nền văn minh mới - văn minh cộng sản chủ nghĩa - với ba yếu tố đảm bảo:

Tự nhiên được bảo vệ và tái tạo hoà hợp với con người, tự nhiên nhờ có con người mà nhân đôi mình lên và cùng với con người là chủ thể của cái đẹp;

Một xã hội mà nền khoa học và công nghệ phát triển cao (nền kinh tế tri thức), sản phẩm được làm ra bởi trí tuệ con người hướng tới mức của cải ngày càng thoả mãn cho mọi nhu cầu của toàn xã hội;

Nhân dân hoàn toàn làm chủ xã hội; con người được tự do phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và nhân cách, con người thực sự được làm chủ vận mệnh của mình trong một xã hội “người yêu người sống để yêu nhau”.

Như vậy là toàn bộ hoạt động của Đảng thực chất là đều hướng vào làm cho “văn hoá súc tích, tiên tiến tới mức đã trở thành văn minh”.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng bao gồm những phần tử ưu tú của xã hội kết thành một tổ chức có năng lực trí tuệ cao, có trình độ văn hoá tiêu biểu của thế giới đương đại, có trình độ lý luận tiên phong đủ sức làm một đảng tiên phong dẫn đường cho quần chúng trong các giai đoạn phát triển của lịch sử, tức là trong những bước ngoặt của phong trào cách mạng Đảng phải đủ sức đưa ra những kiến giải đúng đắn, hợp tình, hợp lý về những vấn đề mà thực tiễn đang đòi hỏi phải giải quyết. Nói cách khác, Đảng là văn minh có nghĩa là Đảng như người thuyền trưởng và các thủy thủ thông tuệ, đủ trí khôn và lòng dũng cảm chèo lái con thuyền cách mạng qua mọi thác ghềnh để hoà vào dòng chảy chung của nhân loại, đưa dân tộc phát triển bền vững, sánh vai cùng các cường quốc 5 châu. Một đảng như thế tức là bản thân nó phải là một tập thể bao gồm hầu hết những đảng viên hồng thắm, chuyên sâu, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, tài đức vẹn toàn, gương mẫu cho quần chúng, dẫn dắt quần chúng, “lo trước thiên hạ, vui sau mọi người”.

Đảng văn minh chính vì Đảng không ngừng phấn đấu để luôn xứng đáng là người dẫn đường cho quần chúng đồng thời “là người con hiếu thảo của nhân dân”.

- Đảng ta là văn minh là bởi vì trong tổ chức và hoạt động, Đảng phải không ngừng rèn luyện cho mình cách ứng xử văn minh.

Trước khi qua đời Hồ Chí Minh đã dự báo về thời gian giải phóng hoàn toàn miền Nam và Người đã để lại một bản Di chúc với những căn dặn sâu sắc, toàn diện có giá trị như là linh hồn và đề cương thu gọn của bản Cương lĩnh xây dựng đất nước sau ngày thống nhất. Hai vấn đề quan trọng bậc nhất của một Đảng cầm quyền được viết rõ trong Di chúc của Hồ Chí Minh đều thuộc về cách ứng xử văn minh của Đảng: “Trước hết nói về Đảng” và “Đầu tiên là công việc đối với con người”.

Biểu hiện quan trọng nhất của văn minh là cách con người ứng xử với nhau như thế nào. Dưới đây xin điểm lại mấy nét cơ bản trong cách ứng xử của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
* Ứng xử nội bộ
“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triến sự đoàn kết và thống nhất của Đảng...”(1). Đó là nguyên tắc ứng xử quan trọng nhất trong nội bộ Đảng, làm nên bộ mặt văn minh tinh thần của Đảng và là mấu chốt của công tác xây dựng đảng.

“Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(2). Đây là cách ứng xử văn minh giữa những người đồng chí, những người chiến sỹ cùng có lý tưởng cao đẹp, cùng nguyện chiến đấu hy sinh suốt đời vì một nghĩa lớn là độc lập cho Tổ quốc và hạnh phúc cho đồng bào, do đó phải sống với nhau sao cho có tình, có nghĩa bởi như Hồ Chí Minh đã từng nói nếu đọc bao nhiêu sách Mác-Lênin mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì không thể coi là người đảng viên của Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin được. Có tình đồng chí thương yêu là phải giúp nhau cùng tiến bộ, là phê bình chân thành, là đòi hỏi đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm. Thành kiến, trù dập, tranh giành địa vị, bổng lộc, tư túng, bè cánh, yêu nên tốt, ghét nên xấu... là những hành vi không văn minh, là trái với tư cách của một Đảng chân chính cách mạng. Tất cả những gì trái với đạo đức cách mạng đều trái với văn minh, đối lập với văn minh và là sự phá hoại văn minh. Vì vậy có thể nói Đảng ta là văn minh là bởi vì Đảng ta có đạo đức cách mạng. Những ai vô đạo thì cũng là kẻ vô văn, là kẻ thù của cách mạng như Hồ Chí Minh từng chỉ rõ.

* Ứng xử với xã hội:
Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Đây là giai đoạn khác về cơ bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng: Đảng lãnh đạo Nhà nước, Nhà nước thể chế hoá các chủ trương đường lối của Đảng bằng hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Do vậy trình độ văn minh của Đảng ở giai đoạn này thể hiện ở việc lãnh đạo xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện làm thay Nhà nước, không đứng trên Nhà nước mà Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Một vấn đề lớn nhất của lãnh đạo là quan tâm đến con người, là thu hút nhân tâm, là an sinh xã hội, là chăm lo cho mọi lớp người, đến từng đồng bào một. Thái độ và chính sách đối với con người là thước đo trình độ văn minh của Đảng cầm quyền. Điều này chúng ta đã thấy rất rõ trong suốt quá trình trực tiếp lãnh đạo cơ quan cao nhất của Đảng đồng thời là người đứng đầu Nhà nước của Hồ Chí Minh. Chúng ta còn được Hồ Chí Minh dặn lại rất tỷ mỉ trong phần viết về con người của bản Di chúc. Không được phép quên bất cứ ai từ anh chị em thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, đến những chiến sĩ trẻ tuổi, các cháu thiếu niên và nhi đồng, chị em phụ nữ và đồng bào nông dân miền xuôi cũng như miền ngược… Văn minh và nhân đạo hơn nữa là “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện”(3).

- Đảng ta là văn minh và sẽ mãi mãi "Đảng là đạo đức, là văn minh”, bởi vì Đảng luôn ý thức được rằng: Điều kiện để đảm bảo cho tính tất yếu lịch sử của vai trò cầm quyền và lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn luôn đổi mới và chỉnh đốn Đảng.

Đảng lãnh đạo là tất yếu
Thường xuyên đổi mới và chỉnh đốn Đảng là tất yếu.

Cả hai đều tất yếu như nhau!

Để thể hiện quyết tâm phấn đấu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi: “Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”(4)./.
--------------------
(1,2,3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510.
(4) Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, NXBCTQG, H 2006, tr.279).
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “ĐẢNG TA LÀ... THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, LÀ HÒA BÌNH, ẤM NO”!

         Trong diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1930 - 3-2-1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói:
“....Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.

Trong hai bài trước chúng tôi đã trình bày một số nhận thức của mình về: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Ở bài này chúng tôi xin trình bày mấy suy nghĩ về “Đảng ta... là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.

Nói Đảng là đạo đức là muốn nói rõ tư cách, bản chất chân chính cách mạng, lòng trung thành với Tổ quốc và nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói Đảng là văn minh là muốn nói trình độ cao về văn hoá, năng lực trí tuệ, tính tiền phong về lý luận, sự trong sạch về tổ chức và khả năng của Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh chống lại bạo tàn, chống lại cuộc sống mất nhân tính. Từ trước Đảng đã như thế, ngày nay Đảng lại càng phải rèn luyện để tiếp tục được như thế. Nói Đảng là đạo đức và văn minh nghĩa là Đảng phải thể hiện ra hành động, ở những bước tiến trên thực tiễn để hiện thực hoá cương lĩnh chính trị mà Đảng đã đề ra. Còn nói: “Đảng...: là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no” là chỉ rõ mục tiêu lý tưởng và nhiệm vụ mà Đảng phải hy sinh, chiến đấu để thực hiện.

Tư tưởng thống nhất, độc lập, hoà bình của Hồ Chí Minh là nhất quán. Trước hết phải thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động trong nội bộ Đảng. Để chuẩn bị cho sự nghiệp lớn của Đảng và dân tộc, Hồ Chí Minh đã mở lớp huấn luyện, giảng dạy về lý luận và phương pháp cách mạng cho lớp cán bộ đầu tiên vào những năm 20 của thế kỷ trước. Những bài giảng đó có tên chung là Đường cách mệnh. Theo Người, trước hết Đảng phải có lý luận tiền phong để làm tròn nhiệm vụ của Đảng tiên phong. Đảng phải có chủ nghĩa. Trong Đảng ai cũng phải hiểu và tin theo chủ nghĩa ấy. Một vấn đề cơ bản nhất là Đảng phải thống nhất trên cơ sở cùng nhận thức được chân lý, cùng tin theo một học thuyết cách mạng và khoa học. Nhận thức lý luận là tự giác. Chân lý khoa học là khách quan. Không thể có sự áp đặt chân lý. Không thể chỉ có “nhiệt tình xông lên” mà lại thiếu hiểu biết, thiếu lý luận soi đường ví như người đi đêm không có ánh đuốc chiếu sáng. Nhưng làm cách mạng tất nhiên là phải có trái tim, có nhiệt tình sôi nổi được dẫn dắt bởi một lý trí sáng suốt. Thống nhất về lý tưởng, cùng tin theo một chủ nghĩa khoa học là điều căn cốt nhất của Đảng chân chính cách mạng. Thống nhất giữa lý trí sáng suốt và tình cảm sôi nổi là bản lĩnh cần có của mỗi đảng viên. Hồ Chí Minh từng nói những người cộng sản Việt Nam phải có 3 chữ “đồng” là: “đồng chí” (cùng chí hướng), “đồng tâm” (một lòng, hiệp lực, chung lòng cứu nước) và “đồng tình” (cùng giống nhau ở tình cảm yêu nước, yêu đồng bào và ghét bất công tàn bạo). Theo Hồ Chí Minh, lý luận phải gắn kết với thực tiễn, soi sáng cho thực tiễn và từ thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức lý luận của mình. Dưới ánh sáng của chân lý khoa học và phép biện chứng duy vật mà nhận định về tình hình đất nước trong bối cảnh quốc tế ở từng giai đoạn cụ thể. Đây là vấn đề rất khó, thường có sự nhận thức khác nhau, có đúng, có sai, tuỳ nhãn quan chính trị, sự hiểu biết, năng lực trí tuệ và trải nghiệm của mỗi người. Do vậy dễ phát sinh mâu thuẫn, dễ có những nhận định, đánh giá tình hình đi tới việc đề xuất các chủ trương, nhiệm vụ, các quyết sách khác nhau. Đây là khâu không dễ dàng để có ngay sự thống nhất cao trong toàn Đảng. Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ dẫn quan trọng thông qua cách ứng xử của bản thân Người trong mối quan hệ với các đồng chí khác khi giải quyết các công việc của Đảng. Đó là dân chủ thảo luận, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, thật thà trên tinh thần đồng chí, là sự lắng nghe lẫn nhau, tôn trọng ý kiến của nhau và chờ đợi nhau. Hồ Chí Minh là mẫu mực tuyệt vời về tôn trọng ý kiến tập thể nhưng biết bảo lưu những ý kiến mà mình cho là đúng đắn, biết giúp đỡ đồng chí nâng cao trình độ lý luận và thâm nhập thực tế, lấy thực tiễn để kiểm tra chân lý, từ đó mà cảm hoá, thuyết phục nhau đi tới sự nhất trí cao trong Đảng về đường lối chiến lược cũng như sách lược cách mạng. Các văn bản vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930) nhất trí thông qua chính là Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta (theo tôi nên gọi các văn bản đó là Cương lĩnh tháng 2 để phân biệt với các Cương lĩnh sau này). Trên thực tế, tinh thần chung của Cương lĩnh đó đã phải trải qua thử thách khắc nghiệt của cuộc đấu tranh anh dũng và hy sinh của nhiều đồng chí, đồng bào cho mãi đến năm 1941 tại Hội nghị TƯ lần thứ 8 do tình hình trong nước và thế giới biến đổi to lớn, thuận lợi nên mới tạo ra được sự nhất trí cao trong toàn Đảng và được toàn dân hưởng ứng đưa tới bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước nhà. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiếp theo là cuộc kháng chiến chống ngoại xâm suốt 30 năm đưa tới kết thúc hoàn toàn thắng lợi đã chứng minh hùng hồn sự thống nhất trong toàn Đảng cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Sự thống nhất ấy cũng chứng tỏ đường lối của Đảng ta luôn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ và chỉ có độc lập, tự chủ chúng ta mới có sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức để đoàn kết đấu tranh giành thắng lợi. Bài học về sự thống nhất, độc lập, tự chủ về đường lối, về chủ trương chiến lược là bài học có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta. Thống nhất, độc lập, tự chủ của Đảng là nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc làm cho nước nhà độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Và chỉ có mục tiêu ấy mới làm cho Đảng cùng dân tộc thống nhất ý chí và hành động. Chất keo kết dính tất cả mọi người Việt Nam trong Đảng cũng như ngoài Đảng, ở trong nước cũng như ở ngoài nước, là ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập dân tộc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu lý tưởng, là khát vọng của Đảng và cùa nhân dân ta. Đó là cơ sở để đoàn kết thống nhất trong Đảng, là cái tạo nên sức mạnh của ý chí độc lập tự chủ, tự quyết định về dường lối để “dù ai nói ngả, nói nghiêng”, dù ai “nói ngon, nói ngọt” hay trước mọi áp lực khách quan Đảng ta vẫn vững vàng chủ động chèo lái con thuyền cách mạng nước nhà trước những bước ngoặt quan trọng của lịch sử. Và chính sự thống nhất, độc lập trong Đảng mới đưa cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ vì đọc lập, thống nhất đất nước đến toàn thắng. Chính vì vậy Đảng ta là biểu tượng chân chính của ngọn cờ thống nhất, độc lập của nhân dân ta trong suốt hơn 94 năm qua. Thời thế đã đổi thay nhưng tư tưởng về thống nhất, độc lập, tự chủ vẫn còn nguyên giá trị, nó vẫn đang có ý nghĩa soi sáng cho các quyết sách chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thống nhất trong Đảng về ý chí, chủ trương và hành động; độc lập, tự chủ trong quyết sách chiến lược; linh hoạt nhưng giữ vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” là bản lĩnh của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại… Ngày nay Đảng đang tiếp tục truyền thống của 80 năm đã qua để giữ vững quan điểm độc lập tự chủ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ vùng trời, vùng biển, rừng cao, suối sâu, đất đai, tài nguyên, khoáng sản của cha ông ta muôn đời trước đã đổ biết bao máu xương công sức để lại cho chúng ta ngày nay. Giữ vững chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng đời đời của các thế hệ con dân nước Việt, là trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một Đảng chân chính cách mạng, một đảng luôn tự hào là đại diện cho trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Nếu nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, hoà bình và ấm no là nguyện vọng chính đáng và là khát vọng muôn đời của nhân dân ta. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đã dẫn dắt dân tộc từng bước biến mơ ước hoà bình, ấm no ngàn đời của nhân dân ta thành hiện thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nối kinh nghiệm của tổ tiên ta, Người đã nêu gương sáng về sự cứng rắn trong nguyên tắc, mềm dẻo trong sách lược, về tính cương nhu trong ứng xử để giữ vững hoà bình trong độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Độc lập-tự do-hạnh phúc, tiêu ngữ ấy do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng từ buổi đầu dựng nền dân chủ cộng hoà tới nay vẫn đang dẫn dắt dân tộc ta hướng tới tương lai, trong đó hiện hữu một nước Việt Nam tự chủ, toàn vẹn cõi bờ, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh bước tiến lên cùng nhân loại./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGHĨ TIẾP VỀ LỜI BÁC HỒ “ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”!

     Trong lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao/Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình/Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Khái niệm văn minh mà Bác dùng theo tôi hiểu tương ứng với khái niệm trí tuệ, năng lực nhận thức quy luật và hành động cách mạng đúng đắn mà hiện nay chúng ta đang dùng. Để là đội quân tiên phong chỉ có đạo đức thôi chưa đủ, tuy đạo đức là yêu cầu tiên quyết nhưng còn phải có năng lực, trí tuệ, phải biết phân tích chính xác tình hình, đề ra đường lối, chủ trương sát đúng, tổ chức được phong trào thực tiễn, đưa cách mạng tiến lên. Yêu cầu này là chung cho toàn Đảng, cho mọi tổ chức đảng, đến từng đảng viên.

Nhìn lại suốt chặng đường hơn 94 năm qua, tuy cũng có lúc mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhưng về cơ bản, Đảng ta là “đạo đức và văn minh”, đủ tư cách lãnh đạo giai cấp và dân tộc, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, dễ xuất hiện xu hướng không đúng trong việc xem xét mối quan hệ đức-tài trong xây dựng Đảng; dễ đề cao kiến thức năng lực, coi nhẹ đạo đức cách mạng. Thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới chứng minh rằng, đạo đức vẫn là cái gốc; đương nhiên, đạo đức không tách rời mà gắn liền với năng lực và hiệu quả thực tế trong công việc, và suy cho cùng, năng lực và hiệu quả công việc cũng chính là đạo đức. Đạo lý Việt Nam vẫn luôn tin cậy và coi trọng những người lãnh đạo có đạo đức. Tham ô, lãng phí, quan liêu đang là thách thức hàng đầu đối với chế độ ta. Ở đó có vấn đề năng lực quản lý, nhưng chủ yếu và trước hết là vấn đề đạo đức của những đảng viên cầm quyền. Chừng nào chúng ta không đẩy lùi những tệ nạn này thì uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta sẽ bị xói mòn nghiêm trọng. Có thể nói rằng "diễn biến hoà bình”, trong đó tự diễn biến bắt nguồn từ sự vô đạo đức, sự thối nát, mọt ruỗng của những kẻ thoái hoá trong bộ máy công quyền đã làm giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Điều này thật nguy hiểm.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức của Đảng đã giải quyết một cách đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa lợi ích của Đảng, của dân với lợi ích cá nhân. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và chế độ sở hữu dưới nhiều hình thức, thì những chuẩn mực giá trị cụ thể của đạo đức cách mạng, về lối sống... chắc chắn không thể giữ nguyên như thời chiến tranh hay như thời cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng đất nước hôm nay càng cần đạo đức cách mạng hơn bao giờ hết, với những tiêu chuẩn chặt chẽ và việc thực hiện là cả một cuộc đấu tranh gian khổ đối với mỗi tổ chức đảng cũng như đối với mỗi đảng viên. Không củng cố và tăng cường được nền đạo đức đó thì Đảng ta sẽ khó có thể giữ được vai trò tiên phong của giai cấp, của dân tộc. Vì thế Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Đảng ta phát động có ý nghĩa hết sức lớn lao trong giai đoạn này.

Từ yêu cầu phát triển xã hội, công tác xây dựng đảng càng phải nêu cao khẩu hiệu tri thức hoá Đảng và Đảng Cộng sản phải là Đảng của trí tuệ. Tất cả đảng viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt thì mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Lẽ đương nhiên, xã hội đi lên, mặt bằng dân trí của xã hội nâng cao thì mặt bằng học vấn của đội tiên phong cũng phải tăng lên. Nhưng không được phiến diện, cực đoan; không rơi vào chủ nghĩa hình thức và nhất là coi thường những tiêu chuẩn cơ bản của một Đảng trí tuệ. Tình trạng chạy bằng cấp, làm bằng giả hoặc bằng tuy thật mà kiến thức không tương ứng đã làm mất uy tín của Đảng. Đào tạo cán bộ lãnh đạo đảng khác với đào tạo lãnh đạo các ngành khác. Rất có thể một cấp uỷ có rất nhiều người có bằng đại học, hoặc hơn thế nữa, nhưng lại chưa chắc đã có trí tuệ lãnh đạo cao. Tri thức đó phải được sử dụng trong thực tiễn lãnh đạo.

Với bất cứ một tổ chức đảng nào, dù là ở Trung ương hay cơ sở, lãnh đạo tốt phải ra quyết định đúng, phải tổ chức thực hiện tốt, trong đó nhất thiết phải biết kiểm tra công việc, biết uốn nắn, xử lý những thiếu sót, sai lầm. Để có quyết định đúng thì phải nắm vững chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững điều kiện thực tiễn, có sự vận dụng sát, đúng, linh hoạt. Đảng phải thu thập được nhiều thông tin, đảng viên và nhất là người lãnh đạo phải am hiểu kiến thức về nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, phải biết tổ chức tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, nhất là giới trí thức để cân nhắc lựa chọn phương án thích hợp. Cần hiểu rằng, việc ra quyết định của cấp lãnh đạo ngày nay chịu nhiều sức ép hơn trước. Sự phân hoá về kinh tế, sự phân tầng về xã hội tạo ra sự phức tạp trong đánh giá tình hình và nhu cầu xã hội. Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng phải nâng cao trí tuệ; dừng lại là tụt hậu.

Đảng phải thể hiện trí tuệ không chỉ trong lý luận mà phải thể hiện trong hành động, tính khoa học và nghệ thuật tổ chức công việc, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Khi có quyết định đúng rồi, còn phải biết tổ chức công tác thực tiễn, đưa quyết định vào cuộc sống. Công việc đó cũng thuộc phạm trù trí tuệ của Đảng. So với thời kỳ chưa có chính quyền, thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc thì công tác tổ chức thực tiễn của Đảng ta ngày nay phức tạp hơn về nhiều mặt, đòi hỏi Đảng càng phải có đạo đức và trí tuệ hơn.

Năm 2025 là năm diễn ra nhiều sự kiện trong đại của đất nước, năm diễn ra đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Mỗi chúng ta đều có quyền tự hào “Đảng ta thật là vĩ đại” như Bác Hồ đã tổng kết. Nhưng để làm tròn nhiệm vụ của một Đảng đạo đức, Đảng văn minh, thì mỗi đảng viên chúng ta cần phải học tập thật nhiều: Học không bao giờ cùng; học mãi, tiến bộ mãi; càng tiến bộ càng thấy phải học thêm, như điều Bác hằng mong muốn./.
Yêu nước ST.

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ CHÍNH TRỊ”!

     Khi giai cấp vô sản ra đời, xã hội đặt dưới sự thống trị của giai cấp tư sản. Phong trào vô sản đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực bóc lột cũng bắt đầu ngay từ đó, nó liên tiếp diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi lúc, cho tới nay. Trong tất cả các hình thức và các giai đoạn đấu tranh của giai cấp vô sản khi chính quyền nhà nước còn nằm trong tay giai cấp tư sản thì đều là các cuộc đấu tranh chính trị với ý nghĩa như là một sự tập dượt, rèn luyện để trưởng thành; những người cộng sản đều phải nắm lấy và hướng dẫn nó. Khi nói về mối quan hệ giữa những người cộng sản với toàn thể những người vô sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào”(1). Đó là chân lý hiển nhiên, là lẽ bình thường mà những người cộng sản chân chính cách mạng phải hiểu và vận dụng. Nhưng trên thực tế, ngay từ thời C.Mác đã có những “lý luận gia” và không ít những nhà hoạt động chính trị thờ ơ với các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản. Họ coi các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản chống chính quyền của giai cấp tư sản và giới chủ tư bản bóc lột giai cấp công nhân như là một sự vụn vặt, thấp kém, trái với nguyên tắc và mục đích tối cao, cuối cùng của đảng cộng sản. Họ đưa ra những lý thuyết viển vông, mơ hồ để ru ngủ phong trào công nhân trước sự bất công, tàn bạo của giới chủ được bênh vực và bảo vệ bởi nhà nước tư sản. Chẳng hạn, họ cho rằng mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước, vì vậy “Giai cấp công nhân không cần phải tự tổ chức thành chính đảng; giai công nhân không được viện bất cứ lý do gì để làm chính trị, vì tiến hành đấu tranh chống nhà nước tức là thừa nhận nhà nước và như vậy là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu! Công nhân không nên tiến hành bãi công, vì phí sức mình để giành cho được tăng lương hoặc để ngăn chặn hạ lương có nghĩa là thừa nhận chế độ làm thuê, như thế là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu của việc giải phóng giai cấp công nhân!

... Công nhân không nên thành lập các công đoàn, vì như vậy công nhân sẽ làm cho sự phân công lao động xã hội, như hiện có trong xã hội tư sản, tồn tại mãi; chính sự phân công ấy làm cho công nhân chia rẽ và là cơ sở thực sự của tình trạng nô lệ hiện nay của họ... Tóm lại, công nhân nên khoanh tay đứng nhìn và không nên lãng phí thời gian của mình vào việc tham gia phong trào chính trị kinh tế. Loại hoạt động đó chỉ có thể mang lại cho họ những hậu quả trực tiếp... Trong khi chờ đợi sự thanh toán xã hội tuyệt đẹp ấy, giai cấp công nhân phải tỏ ra hiền từ nhã nhặn như đàn cừu ăn no, không được quấy rầy chính phủ, phải sợ sệt luật pháp, phải chịu nhẫn nhục... dù sao họ cũng không được chống đối chế độ tư bản, ngoài việc cao đàm về cái xã hội tương lai không còn chế độ đáng ghét ấy nữa”(2). C.Mác gọi đó là “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”.

“Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” mà C.Mác phê phán là tư tưởng phản động và hèn hạ của nhà kinh tế học tư sản Pru-đông P.J (Paris xuất bản năm 1868). Nó đã bị C.Mác phê phán và bị vứt vào sọt rác của lịch sử. Tuy vậy nó cũng vẫn còn ảnh hưởng với những mức độ khác nhau ở những nước có nền kinh tế thị trường. Ngay ở nước ta hiện nay cũng không phải không có nhiều nơi coi thường việc xây dựng tổ chức đảng và tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Không phải là không có sự ươn hèn và thoái hoá, biến chất của một số người được cử đại diện phía Việt Nam tham gia trong lãnh đạo các liên doanh… Phải nhận rõ rằng những người công nhân chúng ta trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước hiện nay, xét về mặt chính trị xã hội thì họ là một bộ phận của giai cấp đang lãnh đạo xã hội, họ có tổ chức đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Như vậy, họ đang là chủ nhân có tổ chức của xã hội, có Đảng lãnh đạo, có Nhà nước pháp quyền XHCN đang quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong đó có khu vực kinh tế ngoài nhà nước). Nhưng xét về mặt sở hữu thì bản thân những người lao động Việt Nam hiện nay trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước vẫn là người vô sản (với ý nghĩa là người không có tư liệu sản xuất) đang làm thuê cho giới chủ. Mặc dù vậy, như trên đã nói, họ khác xa cái giai cấp vô sản “trần như nhộng” của thế kỷ 19, bối cảnh ra đời của chủ nghĩa Mác. Đây là một bộ phận của giai cấp vô sản đặc thù trong một xã hội có nền kinh tế thị trường chưa hề có tiền lệ trong lịch sử. Vậy thì Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị cần có sự đầu tư trí tuệ, tâm lực và trách nhiệm nghiên cứu và hoạch định chính sách để tổ chức, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Nếu khu vực kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân thì bộ phận giai cấp vô sản ở đây cũng ngày càng quan trọng. Không thể để tình trạng “Chủ nghĩa thờ ơ chính trị” xuất hiện một cách tự phát như vừa qua ở một số nơi. Ví dụ có doanh nghiệp, giới chủ mạt sát, thậm chí sỉ nhục người lao động, có nơi quỵt lương công nhân, tự ý tăng giờ làm nhằm bóc lột sức lao động; hoặc không ít nơi giới chủ không tôn trọng luật pháp Việt Nam về những điều kiện bảo hộ lao động để xảy ra chết người…, về giữ vệ sinh môi trường lao động; về đảm bảo những phúc lợi xã hội như y tế, sinh hoạt văn hoá, nơi ăn ở (không ít nơi công nhân bị ngộ độc hàng loạt khi ăn cơm ở bếp tập thể), phương tiện đi làm khó khăn, trường học cho con em không có… Đáng chú ý là hầu hết các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có hành động làm ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau, có nơi rất nghiêm trọng, nhưng các nhà quản lý thì có nơi còn bao che, có nơi chỉ xử phạt chiếu lệ, gượng nhẹ; đặc biệt, các chế tài hoặc thiếu, hoặc chưa đủ mạnh và việc khắc phục rất trì trệ. Như thế thì có phải là sự lặp lại “chủ nghĩa thờ ơ chính trị” của Pru-đông P.J một cách có ý thức hay vô thức không?

Theo thiển nghĩ của chúng tôi, trong công tác xây dựng đảng về tư tưởng và lý luận thì cần đấu tranh, vạch trần, lên án những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”; trong hoạch định chủ trương, chính sách cần đặt vấn đề chống một cách nghiêm túc, cần thể hiện một cách quyết liệt trong hoạt động thực tiễn; trong tổ chức thì cần nghiên cứu một cách khoa học, sát với thực tiễn để xây dựng và củng cố các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội ở các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Không thể bằng vào kinh nghiệm tổ chức, xây dựng và phương thức hoạt động ở thời kỳ đã qua - thời kỳ cơ chế quản lý tập trung bao cấp - để ứng dụng trong các doanh nghiệp hiện nay. Đảng cần có chỉ đạo cụ thể trong xây dựng và hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và lãnh đạo các cơ quan nhà nước xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động của giới chủ và cả với người lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần có sự cân nhắc thận trọng khi cử cán bộ vào làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân, nhất là tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; cần giáo dục và quản lý chặt chẽ tư tưởng và đạo đức của họ để họ thực sự là người của giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động. Phải trừng trị thích đáng những ai chỉ vì lợi ích cá nhân mà hy sinh lợi ích của quốc gia và lợi ích hợp pháp của người lao động. Hơn bất cứ ở đâu, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đang đòi hỏi một đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa vững về chính trị, vừa có tâm trong sáng, vừa có trí tuệ và bản lĩnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Về phía những người lao động, cần phát huy ý thức và bản lĩnh của người làm chủ đất nước, nâng cao tay nghề, rèn luyện tác phong và kỹ thuật lao động công nghiệp, đặc biệt là nắm vững pháp luật để có quan hệ đúng mực với giới chủ, làm cho giới chủ phải tôn trọng người lao động. Đề cao lòng tự tôn dân tộc, biết tự trọng và tuân theo kỷ luật, luật pháp là cách tốt nhất để giới chủ phải khâm phục và tôn trọng.

Đảng và Nhà nước đã và sẽ phải tiếp tục hoàn thiện chế độ chính sách và hệ thống các quy phạm pháp luật để đảm bảo cho những người vô sản trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước được làm chủ - làm chủ bằng Nhà nước và pháp luật./.
---------------------
(1) Tuyển tập Mác - Ăngghen, NXBST, H.1980, tập 1, tr.557.
(2) Sđd, tập 4, tr.345-347.
Yêu nước ST.

NGUY HIỂM “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ CHÍNH TRỊ”

     Trong nhiều trường hợp, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,“tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay có sự liên quan nhất định đến những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”!

"Chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là một khuynh hướng trong tư tưởng chính trị, đồng thời cũng là một "căn bệnh", xét dưới góc độ tính nguy hại và tốc độ lây lan của nó. Thuật ngữ “chủ nghĩa thờ ơ chính trị” được C.Mác dùng để chỉ khuynh hướng xem nhẹ, thậm chí phủ định các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân ngay trong chính phong trào công nhân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tất cả các hình thức và các giai đoạn đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản, những người cộng sản đều phải nắm lấy, tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng... như một phần không thể tách rời của cuộc đấu tranh giai cấp. Có thể thấy, ngay từ khi ra đời cho đến nay, giai cấp công nhân đã và đang thường xuyên tiến hành cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và các thế lực bóc lột một cách vô cùng quyết liệt.

Tuy nhiên, cũng ngay từ đầu cả về lý luận và thực tiễn đã xuất hiện trào lưu coi nhẹ, thậm chí phủ định vai trò của đấu tranh giai cấp. Mỗi lần, những người theo "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" thường đưa ra những lý thuyết mơ hồ, lập luận suy diễn, ru ngủ phong trào đấu tranh của công nhân. Cuối cùng theo họ, giai cấp công nhân nên khoanh tay đứng nhìn và không nên lãng phí thời gian vào việc tham gia các phong trào đấu tranh.

Ở Việt Nam hiện nay, "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" còn biểu hiện khá phổ biến với mức độ, tính chất và sự ảnh hưởng khác nhau. Biểu hiện rõ nhất là ở trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những biểu hiện chủ yếu trước hết là không quan tâm hoặc coi nhẹ việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Công đoàn. Đồng thời, trong quá trình hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư, đã xuất hiện xu hướng đề cao hợp tác, hợp tác bằng mọi giá mà dẫn đến mất cảnh giác, lơ là đấu tranh, từng bước thoả hiệp vô nguyên tắc. Hơn nữa, những vi phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc không nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng không giải quyết kịp thời. 

Như vậy, thực chất của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là đi ngược lại, có tính chất phủ định những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Hậu quả của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" là làm cho một bộ phận công nhân xa rời mục tiêu lý tưởng; từng bước làm phai nhạt bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; gây sự chia rẽ, hoài nghi giữa công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với công nhân trong các khu vực kinh tế khác...

Tất nhiên, trong quan hệ với giới chủ, những người công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những người làm thuê, nhưng trong mối quan hệ với toàn bộ giai cấp công nhân Việt Nam, họ là bộ phận không tách rời của giai cấp đã làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ xã hội. Vì vậy, họ là giai cấp lãnh đạo xã hội thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”, vai trò của đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng được nâng lên. Do đó, công tác xây dựng Đảng, Công đoàn trong các doanh nghiệp rất cần sự quan tâm hơn nữa của Đảng, Nhà nước, tổ chức Công đoàn cùng các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Phải từng bước ngăn ngừa, khắc phục, đẩy lùi "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" đã và đang xuất hiện một cách vô tình hay cố ý.

Góp phần tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời phát huy bản chất ưu việt của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần nhận thức rõ bản chất, đấu tranh vạch trần, lên án những biểu hiện của “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”, kiên quyết không để nó có thể “lây lan” trở thành căn bệnh nguy hiểm tàn phá lĩnh vực tư tưởng lý luận, cũng như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội.


Đảng, Nhà nước cần có biện pháp hiệu quả để đấu tranh, khắc phục những biểu hiện của "chủ nghĩa thờ ơ chính trị" trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cần nghiên cứu một cách khoa học, sát với thực tiễn để xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội ở các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Trong công tác xây dựng Đảng và tổ chức Công đoàn ở khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cần chọn cử và quản lý chặt chẽ cán bộ phụ trách, nhất là quản lý về tư tưởng chính trị, đạo đức để họ thực sự là người đại diện tin cậy, người bảo vệ lợi ích chính đáng của đội ngũ công nhân và người lao động. Bên cạnh đó, xử lý nghiêm những hành vi xâm phạm đến lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, người lao động, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc...
Yêu nước ST.