Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẤU TRANH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


Thế giới đang trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển nhảy vọt của công nghệ, hình thành nên kỷ nguyên số; trong đó, mọi yếu tố đều có thể được số hóa, lưu trữ, trao đổi trên môi trường không gian mạng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không gian mạng đã trở thành môi trường tác chiến thứ sáu, bên cạnh môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, trong vũ trụ và trường điện từ; các cuộc tấn công mạng có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và quy mô ảnh hưởng, gây ra những hậu quả, thiệt hại nặng nề cho chủ thể bị tấn công. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Không gian mạng là môi trường chiến lược, “vùng lãnh thổ đặc biệt” của Tổ quốc. Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp; trong đó, xây dựng “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc là nội dung căn cốt, nền tảng.

Chiến tranh không gian mạng là hoạt động tấn công mạng do một hay một số quốc gia, vùng lãnh thổ tiến hành nhằm vào quốc gia, vùng lãnh thổ khác, gây tổn hại các hệ thống, quy trình và nguồn tài nguyên thông tin cũng như các kết cấu hạ tầng quan trọng khác; phá hoại hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội, tác động đến tâm lý của người dân nhằm tạo lợi thế về quân sự, chính trị, kinh tế, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Đặc điểm của chiến tranh mạng là không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Các cuộc tấn công mạng có thể được thực hiện từ bất kỳ vùng lãnh thổ nào trên thế giới có kết nối mạng toàn cầu, trong bất kỳ thời gian nào, bất kể ngày hay đêm, gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc của cuộc tấn công và truy cứu trách nhiệm của thủ phạm. Các cuộc tấn công mạng thường được chuẩn bị, thử nghiệm trong môi trường mạng đóng nên hết sức bí mật và khó phát hiện trước; khi phát động tấn công thì bất ngờ, đồng loạt, khiến các mục tiêu bị nhắm đến khó có thể ứng phó kịp thời; bên tấn công thường sử dụng các kỹ thuật tinh vi để ẩn danh và che giấu dấu vết của mình.

Thực tế những năm qua, các cuộc tấn công mạng đã diễn ra với nhiều cấp độ, quy mô, mục đích khác nhau, tần suất ngày một gia tăng và đang hiện hữu, trở thành một mối đe dọa lớn đối với mọi quốc gia. Mặt khác, môi trường tác chiến này cũng được nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển về công nghệ sử dụng để trinh sát, thu thập các thông tin quan trọng về chiến lược kinh tế, quân sự, quốc phòng; chiếm quyền kiểm soát, phá hủy, làm tê liệt hệ thống thông tin, hoạt động kinh tế, quân sự, quốc phòng, an ninh; tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội; tác động đến tâm lý, nhận thức của người dân,... nước bị tấn công; đồng thời, hỗ trợ, phối hợp, hiệp đồng với các hoạt động quân sự truyền thống đạt được mục tiêu nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Đối với nước ta, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tác chiến không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc trên tất cả các môi trường, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, cần được nghiên cứu, triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Có thể hiểu, thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng là thế bố trí lực lượng, vũ khí trang bị tác chiến trên không gian mạng quốc gia Việt Nam; kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, hình thành thế trận quốc phòng - an ninh trên không gian mạng an toàn, vững chắc. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng phải dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại; trong đó, huy động tối đa tiềm lực về khoa học và công nghệ của quốc gia phục vụ cho các hoạt động tác chiến không gian mạng nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Trong thời bình, tác chiến trên không gian mạng có nhiệm vụ bảo vệ an toàn hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia; đấu tranh ngăn chặn các hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ và sẵn sàng đối phó với các tình huống tấn công mạng. Vì vậy, ngay từ thời bình, cần xây dựng một thế trận, cơ sở hạ tầng vững chắc để tạo thế chủ động trước các cuộc chiến tranh mạng trong tương lai. Cần bố trí lực lượng, thế trận rộng khắp, bao gồm các yếu tố cơ sở hạ tầng, vũ khí mạng, lực lượng chuyên trách, lực lượng “dân quân mạng” rộng khắp, tạo thế chủ động có thể phòng thủ, tấn công mọi lúc, mọi nơi. Tạo những điểm giả (honeypot) thu hút nguồn lực của đối phương để hạn chế tổn hại khi bị tấn công mạng; đồng thời, tạo thế cho lực lượng tác chiến không gian mạng tấn công đối phương trên mọi phương diện. Có kế hoạch phối hợp tác chiến với các lực lượng trên lĩnh vực công nghệ thông tin, lực lượng 47, Ban Chỉ đạo 35 của các bộ, ban, ngành, các doanh nghiệp, công ty công nghệ thông tin, học sinh, sinh viên của các nhà trường, tiềm năng công nghệ,… nhằm tạo thế trận rộng khắp, thu hút, phân tán khả năng tấn công mạng của đối phương vào những mục tiêu cơ sở hạ tầng mạng trọng yếu.

Về trang thiết bị, hạ tầng, cần tập trung xây dựng hệ thống phòng thủ mạng, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống cung cấp điện năng độc lập,… phục vụ cho nhiệm vụ tác chiến không gian mạng. Tăng cường các giải pháp bảo vệ cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, trọng tâm là hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật về an ninh mạng.

Để thực hiện tốt những mục tiêu, yêu cầu trên, xây “thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng” vững chắc, cần đẩy mạnh nghiên cứu, đề xuất và triển khai đồng bộ những nội dung, giải pháp cơ bản sau:

1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kỹ năng an toàn, an ninh mạng. 

Đây là nội dung, giải pháp cơ bản, nền tảng, nhằm trang bị cho toàn dân, mọi thành phần, lực lượng có kiến thức và kỹ năng về an toàn, an ninh mạng. Theo đó, tập trung tuyên truyền sâu rộng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 44/NQ-TƯ của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Luật An ninh mạng; Luật An toàn thông tin mạng; Quyết định số 964/QĐ-TTg, ngày 10/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược an toàn, an ninh mạng quốc gia, chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng đến năm 2025, tầm nhìn 2030; trong đó, tầm nhìn đến năm 2030 trở thành quốc gia tự chủ về an toàn, an ninh mạng để bảo vệ sự thịnh vượng của Việt Nam trên không gian mạng, v.v. Qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm, kỹ năng an toàn, an ninh mạng của các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; tạo sức mạnh tổng hợp, đủ khả năng chủ động ứng phó với các thách thức từ không gian mạng.

2. Tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Để thực hiện giải pháp này, Bộ Quốc phòng tập trung xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, cơ quan liên quan chủ động, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng. Tổ chức lực lượng bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng cho các hệ thống thông tin của cơ quan Đảng, Nhà nước, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, hệ thống thông tin quân sự. Đồng thời, tham mưu, đề xuất xây dựng các hệ thống kỹ thuật nghiệp vụ, triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Có chế tài, chính sách huy động các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân thực thi trách nhiệm và sứ mệnh bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng.

Bộ Công an xây dựng cơ chế, thiết lập đường dây nóng, hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin về tội phạm mạng để quần chúng nhân dân phản ánh kịp thời tới cơ quan chức năng về các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” phù hợp với thời đại số; chủ động nghiên cứu, hình thành mô hình toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên không gian mạng; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm quốc gia để kịp thời phát hiện, điều phối, ứng cứu sự cố an ninh mạng; thu thập, chia sẻ thông tin về an ninh mạng giữa Nhà nước và doanh nghiệp, trong nước và ngoài nước; xây dựng, hình thành nền tảng điều hành, giám sát an ninh mạng thống nhất.

Bộ Thông tin và Truyền thông thúc đẩy phát triển ứng dụng Internet an toàn nhằm bảo vệ người dân trên môi trường mạng; phát triển ứng dụng tuyên truyền (app), nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về an toàn thông tin cho người sử dụng; phát triển nền tảng hỗ trợ bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; hướng dẫn tổ chức, cá nhân thay đổi thói quen, hành vi trên môi trường mạng theo các chuẩn mực an toàn.

3. Phát huy sức mạnh của thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng khi có chiến tranh mạng xảy ra.

 Khi có chiến tranh mạng xảy ra, cùng với lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, cần huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân, chuyên gia về lĩnh vực an toàn thông tin, an ninh mạng bên ngoài nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp. Bên cạnh đó, huy động các phương tiện vật chất kỹ thuật, năng lực sửa chữa, sản xuất công nghiệp của nền kinh tế quốc dân và lực lượng cán bộ, nhân viên công nghệ thông tin trong diện dự bị động viên để phục vụ cho công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm công nghệ thông tin quân sự khi có lệnh động viên của Nhà nước. Quá trình đó, cần triển khai các kế hoạch tác chiến mạng đã được xây dựng từ thời bình, triệt để tận dụng hệ thống công nghệ thông tin, thiết bị chiến trường đã được chuẩn bị từ trước; trên cơ sở đó, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện tác chiến thực tế. Trong điều kiện chiến tranh hiện đại, địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, việc cơ động triển khai, bố trí lực lượng cần vận dụng các hình thức, biện pháp một cách linh hoạt, sáng tạo, bảo đảm bí mật, an toàn, hạn chế thấp nhất tổn thất do hỏa lực địch gây ra.

Thực hiện động viên quốc phòng theo thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục; huy động nhân lực bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng theo quy định. Huy động mọi nguồn lực của đất nước hoặc một số địa phương cho nhiệm vụ quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

 

N.T.T

 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG CỦNG CỐ THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

          Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân là việc tổ chức, triển khai, bố trí lực lượng và tiềm lực quốc phòng trên toàn bộ lãnh thổ theo ý định chiến lược thống nhất, bảo đảm đối phó thắng lợi mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia - dân tộc, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện. Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

          Tiềm lực quốc phòng có vai trò quan trọng trong quản lý, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây là sức mạnh tiềm tàng, là "hậu phương", bảo đảm "hậu cần" và là chỗ dựa về sức mạnh cho quản lý, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo; là lực lượng dự bị sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tiềm lực quốc phòng mạnh còn là lực lượng răn đe đối với âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Biển, đảo nước ta có vị trí rất quan trọng, nhạy cảm về mặt chính trị đối với đất nước và cả khu vực, cũng như thế giới; giữ vững chủ quyền, bảo đảm an ninh trên biển, phát triển kinh tế biển bền vững sẽ trực tiếp củng cố, giữ vững ổn định chính trị trong nước, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và thế giới. Vì vậy, cần tăng cường xây dựng, củng cố tiềm lực quốc phòng biển đảo đáp ứng yêu cầu mới.

          Xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng; để xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần tiến hành đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp: Xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng, củng cố "thế trận lòng dân" vững chắc; xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh ven biển vững chắc; tổ chức bố trí lực lượng vũ trang; xây dựng các công trình quốc phòng, quân sự bảo vệ biển, đảo.

          Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và tăng cường công tác đối ngoại nhằm khai thác những nhân tố tích cực, hạn chế những nhân tố tiêu cực, góp phần to lớn vào việc quản lý, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình trên vùng biển, đảo của Tổ quốc. Đẩy mạnh quá trình đàm phán giải quyết các vấn đề về bất đồng về biên giới lãnh thổ trên biển và về ranh giới thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế với các nước láng giềng, trên cơ sở quán triệt và nắm vững lập trường, quan điểm, chính sách đối ngoại. Đặc biệt là chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các tranh chấp khác liên quan đến biển đảo là thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế để vụ bảo vệ Tổ quốc. Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung, xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.   

          Về xây dựng tiềm lực kinh tế của sự nghiệp quốc phòng phải bao hàm các khả năng tiềm tàng của nền kinh tế có thể huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, đặc biệt là trong xử lý các tình huống quốc phòng ngay từ thời bình hoặc tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra). Vì thế, xây dựng tiềm lực này, cần sự vào cuộc của các cấp, ngành, địa phương và toàn dân; phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài, toàn diện, vững chắc trên phạm vi cả nước, nhưng cần có trọng tâm, trọng điểm, nhất là tập trung cho các địa bàn chiến lược. Trước hết, cần tiếp tục thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực và địa phương, bảo đảm mỗi bước tăng trưởng về kinh tế phải gắn với sự gia tăng tích lũy của nguồn tiềm lực này. Đồng thời, chú trọng đầu tư xây dựng, phát triển các ngành công nghiệp theo hướng lưỡng dụng, được bố trí hợp lý trên các vùng, miền, vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng khi cần thiết. Tiếp tục coi trọng xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược biên giới, hải đảo, nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân gắn với tham gia xây dựng cơ sở, địa bàn vững mạnh. Trong giai đoạn hiện nay, để tiềm lực kinh tế có thể chuyển hóa thành thực lực và sức mạnh quốc phòng trên từng khu vực, địa bàn, cùng với gắn phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) ngày càng vững chắc, cơ quan chức năng sớm nghiên cứu xác lập cơ chế động viên nền kinh tế quốc dân thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự khi cần thiết.

          Đối với tiềm lực khoa học - công nghệ, cần được xây dựng, phát triển trong chiến lược tổng thể phát triển khoa học - công nghệ quốc gia, nhưng có tính đến những yếu tố đặc thù, nhằm huy động, phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc (cả trước mắt và lâu dài). Theo đó, việc xây dựng tiềm lực này, cần phải kết hợp chặt chẽ với sự phát triển của nền khoa học - công nghệ đất nước. Trên cơ sở đó, chủ động xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển khoa học - công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng và coi đó là một trong những động lực để hiện đại hóa lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đó, chú trọng kế thừa nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong các cuộc kháng chiến vừa qua, cả trong tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến đấu để hướng tới nghiên cứu các giải pháp về chiến thuật, kỹ thuật đối phó có hiệu quả với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, trong chiến tranh hiện đại. Đồng thời, từng bước đầu tư nghiên cứu, phát triển các giải pháp công nghệ, bảo đảm sửa chữa, sản xuất và làm chủ vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại. Bên cạnh đó, cần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ về tổ chức, quản lý, cơ chế hoạt động khoa học - công nghệ, kết hợp với tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này, phù hợp với điều kiện của đất nước.

          Về xây dựng tiềm lực quân sự - nhân tố nòng cốt, cốt lõi của tiềm lực quốc phòng - cần bảo đảm tính toàn diện, vững chắc, có chiều sâu, ngay từ thời bình, nhằm chuyển hóa nhanh nhất, kịp thời nhất thành thực lực quốc phòng trong mọi tình huống. Để làm được điều đó, cùng với nâng cao nhận thức của các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Trong đó, hết sức coi trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; lực lượng dự bị động viên hùng hậu trên từng khu vực, địa bàn và cả nước để sẵn sàng động viên khi cần thiết. Đồng thời, chú trọng nghiên cứu phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học - công nghệ quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự,… tạo nền tảng tri thức về quân sự, quốc phòng. Tiếp tục xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng trên cơ sở gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm từng bước bảo đảm vũ khí, trang bị ngày càng hiện đại cho các lực lượng. Quá trình xây dựng, cần theo một kế hoạch, lộ trình thống nhất, phù hợp, nhưng khi cần, cũng có thể tạo bước đột phá, sẵn sàng đáp ứng sự phát triển của thực tiễn.

 

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

 


Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Nghị quyết số 36-NQ/TW) khẳng định vị trí, tầm quan trọng trong phát triển kinh tế biển, đồng thời xác định nhiệm vụ đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển. Để cụ thể hóa mục tiêu đó, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mang tính đổi mới, sáng tạo, đột phá trong thời gian tới. Thực trạng phát triển kinh tế biển

Nước ta có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là đường bờ biển dài khoảng 3.260km; khoảng hơn 3.000 đảo và quần đảo lớn nhỏ, trong đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược rất quan trọng; các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia rộng hơn 1 triệu km(trải dài trên 28 tỉnh, thành phố ven biển). Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, “Về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đề ra mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, có sự phát triển bền vững, thịnh vượng, bảo đảm an ninh, an toàn nền kinh tế biển; trong đó, xác định đến năm 2030, các ngành kinh tế thuần biển có đóng góp vào GDP cả nước đạt khoảng 10%; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước; các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế; tăng cường kiểm soát khai thác tài nguyên biển gắn với bảo đảm khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển,...

Nằm bên bờ Tây của Biển Đông, một biển lớn và thuộc loại quan trọng nhất của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng như của thế giới, Việt Nam có một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền (1). Đặc điểm địa hình của Việt Nam hẹp về chiều ngang, nhưng lại trải dài dọc theo Biển Đông, được Biển Đông bao bọc toàn bộ sườn phía Đông và phía Nam, không chỉ cho phép chúng ta phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển mà biển Đông còn trở thành “lá chắn sườn” trong hệ thống phòng thủ quan trọng, bảo vệ đất nước. Do đó, từ rất sớm, nhất là trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn được quan tâm sâu sắc.

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 6-5-1993, Bộ Chính trị (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết 03-NQ/TƯ về “Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt” khẳng định tầm quan trọng và vị trí chiến lược biển và kinh tế biển trong nền kinh tế quốc dân. Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6-1996), lần đầu tiên Đảng ta tập trung bàn về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo QP-AN, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội (KT-XH) bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc”.

Từ đó, sự quan tâm lãnh đạo phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong đường lối phát triển KT-XH, QP-AN của Đảng, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước ngày càng phát triển. Ngày 22-9-1997, Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành Chỉ thị 20-CT/TƯ về “Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (CNH-HĐH). Đặc biệt, đến Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định: Phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm QP-AN và hợp tác quốc tế. Chủ trương của Đảng đã tạo nên những chuyển biến mới tích cực trong nhận thức của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, đảo trong phát triển nền kinh tế quốc dân và bảo vệ Tổ quốc.Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa, các lĩnh vực kinh tế biển gắn với bảo vệ QP-AN thường xuyên được tăng cường và có nhiều bước chuyển biến đáng kể. Kinh tế biển đã có sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề theo hướng CNH, HĐH. Xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kỹ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển - đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... Việc khai thác nguồn lợi từ biển đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhất là cho xuất khẩu (dầu khí, hải sản...). Theo ước tính hiện nay, tỷ trọng các ngành kinh tế biển và liên quan đến biển chiếm 48% GDP cả nước. Kinh tế biển đã được các cấp, các ngành, nhất là những tỉnh ven biển chú ý hơn. Qua đó, các công việc về biển đã được triển khai và làm được nhiều hơn (hoạch định biên giới trên biển, ban hành khung luật pháp, phát triển các hải đảo kết hợp bảo vệ QP-AN trên biển).


Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mục tiêu chiến lược biển, chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức gay gắt về phát triển kinh tế biển như khai thác tài nguyên và môi trường biển; sự suy giảm các nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; về ô nhiễm môi trường… và một số thách thức về QP-AN nếu chúng ta không có những quyết tâm mới.

Về kinh tế biển, nhìn chung, quy mô còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của nước ta. Nếu so với các nước trên thế giới và khu vực thì Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt. Giá trị thu được từ hoạt động kinh tế biển so với một số nước đều ở mức thấp hoặc rất thấp. Mặc dù có rất nhiều cố gắng trong quá trình “đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH” nhưng nghề biển nước ta vẫn chủ yếu là nghề truyền thống, chiếm trên 60% GDP do kinh tế biển tạo ra. Các nghề mới như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu, nuôi trồng hải sản đặc sản, du lịch biển chỉ mới được phát triển bước đầu. Các nghề biển công nghệ cao như năng lượng sóng thuỷ triều, khai thác khoáng sản dưới lòng nước sâu, hoá chất và dược liệu biển... hầu như chưa được tập trung nghiên cứu. Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rõ, chúng ta còn nhiều khó khăn trong quá trình CNH, HĐH nền kinh tế biển, bởi công nghệ, kỹ thuật khai thác kinh tế biển nhìn tổng thể vẫn còn ở trình độ rất thấp. Các công trình kỹ thuật và dịch vụ xây dựng hạ tầng biển còn nhiều bất cập, yếu kém. Tình trạng đó đang đặt ra nhu cầu cấp bách phải có một chiến lược phát triển kinh tế biển được bổ sung với những luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc, mới có thể đáp ứng những nhiệm vụ tăng tốc kinh tế biển để “đến năm 2020, nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển”. Để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để xây dựng đất nước. Coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo nên sự thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục tiêu chiến lược biển, đảo đến năm 2020 trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, chiến lược QP-AN, đối ngoại, khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển. Qua đó, xây dựng vững chắc thế trận QP-AN, thế trận lòng dân, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, bảo vệ chế độ chính trị - xã hội, lợi ích dân tộc...; đồng thời, giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định lâu dài để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Trong công tác tuyên truyền, “không chỉ nói là được” mà phải có đủ luận chứng khoa học, thực tiễn, cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực liên quan đến biển, đảo. Trong đó, chú trọng các tài liệu khoa học đã kết luận về tiềm năng biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển; các tài liệu lịch sử - pháp lý thuyết phục, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển, đảo nước ta trên cơ sở Luật Biển Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; các tuyên bố nguyên tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Bộ Quy tắc ứng xử mang tính pháp lý của các bên ở Biển Đông (COC) khi được thông qua. Đồng thời, cần chuyển tải kịp thời quan điểm, lập trường của Việt Nam trong vấn đề biển Đông tới cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Hai là, xây dựng các chính sách phù hợp với điều kiện hiện nay nhằm khai thác tiềm năng và các lợi thế về biển, đồng thời tăng cường bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ hoạt động của các lĩnh vực kinh tế biển với QP-AN để trở thành một thể thống nhất trên phạm vi cả nước và từng địa phương, tạo điều kiện cho các địa phương nhất là những địa phương ven biển phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vùng trời, vùng biển của đất nước. Các chủ trương về thực hiện Chiến lược biển phải xứng tầm và được nghiên cứu, xây dựng dựa trên các căn cứ khoa học, hiện đại, các cơ sở dữ liệu, được đánh giá một cách toàn diện về thực trạng phát triển biển, những thuận lợi, thế mạnh và cả những khó khăn, thách thức mà Việt Nam phải đối mặt… Đồng thời, mở rộng chính sách, liên kết làm ăn kinh tế ở vùng biển thuộc quyền chủ quyền của ta với những nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, nhằm tạo ra những đối tác đan xen lợi ích trong phát triển kinh tế biển. Thông qua đó khẳng định chủ quyền của ta, hạn chế âm mưu lấn chiếm biển, đảo của các thế lực thù địch đối với nước ta, tạo ra thế và lực mới để giải quyết hòa bình các vấn đề tranh chấp trên biển, đảo với các nước có liên quan.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, góp phần thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển KT-XH trên các vùng ven biển, hải đảo, “phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển...”

Biển Việt Nam chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn về kinh tế, nhưng để biến các tiềm năng ấy thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, việc đầu tư nguồn lực thích đáng cho các ngành kinh tế mũi nhọn, có thế mạnh như: Khai thác, chế biến dầu khí; hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển; khai thác, chế biến hải sản, du lịch... ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo là hết sức cần thiết. Trong đó, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế mạnh, các trung tâm dịch vụ có đủ khả năng vươn xa, kết hợp phát triển kinh tế với làm chủ biển, đảo; tập trung nguồn vốn, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của biển; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội và QP-AN trên khu vực quần đảo Trường Sa và các đảo lớn xa bờ, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ sản xuất của nhân dân đang sinh sống trên các đảo và quần đảo. Đồng thời, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, coi đó như một vấn đề then chốt trong xây dựng thế trận lòng dân trên biển.

 

Nhận diện những thiên kiến sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam

 Ở Việt Nam những năm qua, tự do báo chí, tự do ngôn luận được Nhà nước bảo đảm, thể hiện rõ trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn. Quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận, cung cấp và phản hồi thông tin trên báo chí cũng như các nghĩa vụ phải tuân theo.

Vậy nhưng, như đã trở thành thông lệ, vào các dịp Ngày Tự do Báo chí thế giới (3/5) hay Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6), một số cá nhân, tổ chức hoặc một số đài báo tiếng Việt ở nước ngoài có quan điểm, tư tưởng chống phá Việt Nam lại đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Những chiêu trò “bổn cũ soạn lại” này nhằm bôi đen tình hình tự do báo chí để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việt Nam lên tiếng về Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ

 Chúng tôi lấy làm tiếc về việc mặc dù đã ghi nhận một số tiến bộ của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy tự do tôn giáo, tín ngưỡng song báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế năm 2023 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam”, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết.

Theo bà Phạm Thu Hằng, là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật.

“Các quyền này đã được nêu rõ trong Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng như Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2-26 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và được bảo đảm tôn trọng trên thực tế”, bà Phạm Thu Hằng nói.

Việt Nam sẵn sàng trao đổi với phía Hoa Kỳ về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn cởi mở và tôn trọng lẫn nhau về những vấn đề còn khác biệt và qua đó đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.

Trên tinh thần đó thì Việt Nam đề nghị phía Hoa Kỳ cần có những đánh giá khách quan dựa trên các nguồn thông tin chính xác và toàn diện về tình hình thực tế tại Việt Nam và sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo.

Quân ủy Trung ương học tập một số nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư

 Tại Hội nghị, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật PGS.TS Vũ Trọng Lâm cho biết, việc tổ chức biên tập cuốn sách "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một nhiệm vụ quan trọng, trách nhiệm lớn lao. Văn hóa là lĩnh vực có nội hàm rất phong phú, đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nên nội dung cuốn sách có những đặc thù riêng, hình thức chuyển tải thể hiện được đặc trưng của văn hóa.

“Cuốn sách tuyển chọn 92 bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn, thư... trải dài gần 60 năm xuyên suốt trên nhiều cương vị công tác của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Trong đó bài viết sớm nhất là vào năm 1968. Qua đó hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập. Huy động sức mạnh văn hóa con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng”, PGS.TS Vũ Trọng Lâm nói.

Hội nghị đã nghe Đại tá, GS.TS Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương giới thiệu nội dung cuốn sách. Cuốn sách gồm 3 phần “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”; “Phát triển toàn diện, đồng bộ để văn hóa thật sự là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước bền vững” và phần thứ ba từ luận điểm văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thực tiễn cuộc sống.

Theo GS.TS Đinh Xuân Dũng, cuốn sách dày 928 trang là một công trình đồ sộ về văn hóa, đã tổng kết, phát triển, trình bày theo phong cách và cách diễn đạt riêng những quan điểm cơ bản lý luận của Đảng ta về văn hóa từ bắt đầu công cuộc đổi mới đến nay: “Đây là một công trình nghiên cứu, tổng kết, phát triển và đồng thời diễn đạt theo phong cách Tổng Bí thư những vấn đề lý luận về văn hóa theo thời kỳ đổi mới, là một bước phát triển so với trước đó. Đồng chí có một năng lực bao quát toàn diện hầu hết các lĩnh vực của văn hóa, văn nghệ, theo nghĩa hẹp là văn hóa tinh thần và đồng thời mở rộng nó với những lĩnh vực khác. Đó là lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, vấn đề về thi đua, và vấn đề về các di sản văn hóa vật chất...”

 

Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình - chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, nhận thức và thực hiện đúng đắn việc giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình của Đảng, Nhà nước ta là cơ sở quan trọng để chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay.

Nhận thức đúng về tranh chấp quốc tế và biện pháp giải quyết

Trong thực tiễn, mặc dù còn có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng đều có điểm thống nhất chung về tranh chấp quốc tế, đó là: Đang diễn ra sự không thống nhất, mâu thuẫn, xung đột về quan điểm pháp lý và lợi ích giữa các quốc gia có chủ quyền hoặc các chủ thể khác của pháp luật quốc tế.

Tranh chấp quốc tế có thể xảy ra trên các lĩnh vực hoạt động quốc tế, trong đó tranh chấp về chủ quyền trên đất liền, hải đảo, trên biển, trên không và trên không gian mạng là nổi cộm, dai dẳng, khó giải quyết và tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến xung đột, chiến tranh.

Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình - chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam

Việc giải quyết tranh chấp quốc tế không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với duy trì hòa bình, ổn định, an ninh thế giới, mà còn góp phần thúc đẩy các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế triệt để hơn. Luật pháp quốc tế đã thống nhất các nguyên tắc cơ bản khi giải quyết tranh chấp quốc tế, đó là: Bằng phương pháp hòa bình, thương lượng; không được sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giữ nguyên hiện trạng cho đến khi đạt đến thỏa thuận cuối cùng; các bên tranh chấp phải tự kiềm chế, không tiến hành bất cứ hoạt động nào làm cho tình hình trở nên xấu đi.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và phần tử cực đoan đưa ra nhiều ý kiến, bình luận với ý đồ xuyên tạc, âm mưu kích động chúng ta “phải có động thái mạnh mẽ, tuyên chiến quyết liệt” để chống lại các thế lực xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhất là chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, Đảng, Nhà nước ta đã xác định, việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình là thượng sách giữ nước của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay.

Thượng sách giữ nước và chính sách quốc phòng đúng đắn của Việt Nam

Trong giải quyết các tranh chấp, Việt Nam nhất quán sử dụng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế - đây là chủ trương, giải pháp chiến lược, là chính sách quốc phòng hiệu quả và đã được thực tiễn kiểm nghiệm là phù hợp, đúng đắn. Điều đó thể hiện ở những khía cạnh sau.

Một là, thể hiện văn hóa giữ nước chính nghĩa, hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, có đến gần hai phần ba thời gian dân tộc Việt Nam phải đứng lên tiến hành các cuộc chiến tranh, khởi nghĩa để giành và giữ quyền độc lập, tự chủ và phát triển. Nét văn hóa nổi bật trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam là luôn nhận thức rõ rằng, mọi cuộc chiến tranh mà không đem đến hòa bình và cao hơn là không đem đến tình hữu nghị cho các dân tộc đều là cuộc chiến tranh vô nghĩa. Và không một dân tộc nào trên thế giới này lại không mong muốn có hòa bình, ổn định, độc lập, tự chủ...

Lịch sử cho thấy, biết bao công sức, xương máu của các thế hệ người Việt đã đổ xuống, thấm vào từng tấc đất trên khắp lãnh thổ Việt Nam, chính là để giữ cho nước nhà được toàn vẹn lãnh thổ, có độc lập, tự do và hòa bình. Có hòa bình rồi tiến tới xây dựng tình hữu nghị, chung sống hòa bình với các nước láng giềng, các nước khác trên thế giới, để đem lại lợi ích cho nhân dân ta, nhân dân các nước từng gây chiến với nước ta và dân tộc khác trên thế giới.

Các quốc gia yêu chuộng hòa bình xem chiến thắng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc giải phóng và bảo vệ Tổ quốc là chiến thắng chính nghĩa, là nguồn cổ vũ, khích lệ, nên họ sẵn sàng ủng hộ Việt Nam. Thực tiễn các cuộc chiến tranh giữ nước trước đây, đặc biệt là các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, to lớn của bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới... Do đó, chiến thắng của Việt Nam đã vượt lên một tầm cao mới, mang tầm vóc của thời đại.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, giải pháp chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực thực hiện mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, với tư duy, tầm nhìn chiến lược, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng, phát triển sáng tạo kế sách “giữ nước từ lúc nước chưa nguy” của dân tộc thành phương thức, tư tưởng chỉ đạo chiến lược chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Vì vậy, giữ được nước mà không cần phải tiến hành chiến tranh trở thành mục tiêu cơ bản, tối thượng của chính sách quốc phòng và an ninh ở nước ta hiện nay.

Để thực hiện tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu chiến lược đó cần phải triển khai toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp chiến lược nhằm bảo đảm cho Đảng vững, nước giàu, dân yên, quân mạnh, thêm bạn, bớt thù. Trong đó, chủ trương thúc đẩy giải quyết các tranh chấp trong quan hệ quốc tế, nhất là vấn đề biên giới, biển, đảo bằng biện pháp hòa bình là giải pháp trọng tâm, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế... giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Ba là, tạo cơ sở để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là xu thế khách quan và tiếp tục tiến triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay đòi hỏi mỗi quốc gia phải lấy nội lực là cơ bản, chiến lược lâu dài và là nhân tố quyết định; ngoại lực là nhân tố quan trọng, cần thiết. Hay nói cách khác, phải biết huy động sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại một cách phù hợp, hiệu quả.

Quan điểm của Nhà nước Việt Nam là hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển có mối quan hệ gắn bó hữu cơ. Hòa bình, ổn định và phát triển của một nước có tác động đến các nước láng giềng, khu vực và thế giới. Lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc cần hài hòa và tôn trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của các quốc gia, dân tộc khác, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Cùng với đó, hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu để cùng nhau gìn giữ hòa bình, ổn định, thúc đẩy phát triển và tình hữu nghị giữa các quốc gia; không một quốc gia đơn lẻ nào, dù lớn và giàu mạnh đến đâu, có thể giải quyết được mọi vấn đề, nhất là các vấn đề toàn cầu, mà cần phải có sự hợp tác của các nước khác, cộng đồng quốc tế và người dân. Việc giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu phải có cách tiếp cận toàn cầu, đoàn kết và hợp tác quốc tế, đề cao chủ nghĩa đa phương.

Đảng, Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng giải pháp hòa bình không chỉ là sự tôn trọng luật pháp quốc tế, đi đúng xu thế thời đại, mà còn góp phần quan trọng vào gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, lợi ích quốc gia cho các nước khác. Sự đồng thuận của nhân dân trong nước, sự đồng tình, ủng hộ, ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với giải pháp hòa bình Việt Nam đang thực hiện chính là cơ sở để thực hiện mục tiêu “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” mà Đại hội XIII của Đảng xác định.

Bốn là, giải pháp tối ưu trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp hiện nay.

Trong những năm qua, Việt Nam và các nước láng giềng đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả luật pháp và thông lệ quốc tế để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đặt ra. Quá trình giải quyết các bất đồng, tranh chấp giữa Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam luôn chủ trương giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế; thực hiện hiệu quả và đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Điều đó chứng minh rõ Việt Nam không chỉ nỗ lực vận dụng sáng tạo làm phong phú thêm luật pháp quốc tế, mà còn luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, nhất là khi Việt Nam kiên trì nguyên tắc “tôn trọng pháp luật quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” và nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, các thỏa thuận song phương như: DOC, Tuyên bố "Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông" ngày 20-7-2012; Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký ngày 11-10-2011 và dự thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đây là những minh chứng thực tiễn sinh động không chỉ thể hiện rõ thiện chí, cam kết, quyết tâm, mà còn thể hiện rõ tính hiệu quả của biện pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế mà Nhà nước ta đã thực hiện. Sự nhất quán và những nỗ lực của Nhà nước ta đã bảo vệ vững chắc được chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, ngăn chặn, đẩy lùi xung đột và chiến tranh, giữ vững an ninh quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định để tiến hành sự nghiệp đổi mới của đất nước trong gần 4 thập niên qua đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Như vậy, có thể thấy, giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình là chủ trương chiến lược, nhất quán và là chính sách quốc phòng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với bối cảnh tình hình hiện nay và là giải pháp hiệu quả của Đảng, Nhà nước ta. Chủ trương này cần được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục quán triệt, nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và cụ thể hóa, tổ chức thực hiện bằng những hoạt động cụ thể, thiết thực trong thời gian tới. 

Mặt khác, nhận thức và thực hiện đúng đắn việc giải quyết các bất đồng, tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình của Đảng, Nhà nước ta là cơ sở quan trọng để chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch về chính sách quốc phòng của Việt Nam hiện nay.

 

Tàu 215, Vùng 2 Hải quân cấp cứu ngư dân trên biển

Nhận được tin ngư dân gặp tai nạn ở khu vực biển Việt Nam giáp ranh Indonesia, Tàu 215 thuộc Vùng 2 Hải quân đã nhanh chóng cơ động, tiếp cận tàu cá, cấp cứu ngư dân kịp thời.

Vào lúc 19 giờ, ngày 16-9, Tàu 215 thuộc Vùng 2 Hải quân đang thực hiện nhiệm vụ trên biển thì nhận được tin báo qua máy liên lạc nghề cá từ tàu cá BV 92988 TS, do ông Nguyễn Văn Hiếu, ở ấp Phước Bình, xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm thuyền trưởng, thông báo có ngư dân gặp tai nạn ở khu vực biển Việt Nam giáp ranh Indonesia.

Tàu 215, Vùng 2 Hải quân cấp cứu ngư dân trên biển


Ngay sau khi nhận được tin báo, Tàu 215 đã nhanh chóng cơ động tiếp cận tàu cá. Mặc dù thời tiết ban đêm, sóng to gió lớn, tầm nhìn hạn chế, nhưng cán bộ, chiến sĩ Tàu 215 đã không quản ngại khó khăn, nhanh chóng tiếp cận tàu cá của ngư dân gặp nạn.

Tàu 215, Vùng 2 Hải quân cấp cứu ngư dân trên biển

Đến 19 giờ 30 phút, Tàu 215 tiếp cận được tàu cá. Tổ quân y trên tàu đã tiến hành khám cho bệnh nhân Nguyễn Văn Trực, sinh năm 1982, quê quán tại xã Đại An 1, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Chẩn đoán ban đầu, bệnh nhân bị thương ở vùng đầu, vai trái và còn tỉnh táo.

 

Sau đó, tổ quân y tiếp tục thực hiện các biện pháp sơ cứu, rửa vết thương, sát trùng, băng bó, cấp thuốc và hướng dẫn cách sử dụng thuốc cho ngư dân. Sau khi được sơ cứu, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân dần ổn định và được tàu cá đưa về Côn Đảo để tiếp tục điều trị

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI SÁNG LẬP VÀ RÈN LUYỆN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là người trực tiếp sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam!
Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta luôn khắc ghi và thực hiện nghiêm lời dạy của Người: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (1).

Xây dựng quân đội để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình
Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng, cần phải tổ chức lực lượng vũ trang. Mục đích xây dựng quân đội của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tự vệ dân tộc: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng” (2). Điều này cho thấy, quan điểm về bạo lực cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo và hòa bình.

Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ những năm 1925-1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã mở các lớp đào tạo để chuẩn bị nguồn cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người đã xác định “tổ chức ra quân đội công nông”. Người từng khẳng định: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải phóng. Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự”. (3). Do đó, quân đội ta ra đời phù hợp với quy luật khách quan, xuất phát từ chính nhu cầu, đòi hỏi do thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng, là kết quả từ quá trình phát triển của các tổ chức vũ trang của quần chúng.

Tháng 10/1941, Người chỉ đạo mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó để tiến tới thành lập đội vũ trang cách mạng. Tại đây, Người đã trực tiếp tham gia huấn luyện và biên soạn các tài liệu giảng dạy quân sự quan trọng như: “Mười điều kỷ luật”; “Cách đánh du kích”; “Những hiểu biết cơ bản về quân sự”…

Thực hiện Chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của QĐND Việt Nam) ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân có 34 đội viên được biên chế thành một trung đội có 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Bài diễn văn tại buổi thành lập của đồng chí Võ Nguyên Giáp đã khẳng định quyết tâm của toàn thể các đội viên: “Bao nhiêu căm hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ đợi một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương máu ra làm công việc đó. Chúng ta sẽ vạch cho toàn dân con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy. Quân giải phóng sẽ tỏ ra mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng của dân tộc” (4).

Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là một tất yếu lịch sử trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta; là bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng lúc đó. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử đất nước có một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thành một đội quân cách mạng vững mạnh về mọi mặt
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo xây dựng QĐND Việt Nam thành một đội quân cách mạng vững mạnh về mọi mặt.

Về tổ chức, Người cho rằng, phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo nhưng cũng phải có đầy đủ các thành phần dân tộc, vùng miền, người địa phương để nhằm phục vụ cho hoạt động sau này của Đội được thuận lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, xây dựng đội quân chủ lực trước hết là về phẩm chất chính trị phải vững chắc, tư tưởng cách mạng đúng đắn, để có thể đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, làm cho quần chúng giác ngộ, tin tưởng và đi theo cách mạng. Người nhấn mạnh, quân sự phải phục tùng chính trị: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. (5)

Người đặc biệt coi trọng xây dựng con người với phương châm “Người trước, súng sau”, tức là con người là nhân tố quyết định: “vũ khí là cần nhưng con người vác vũ khí, sử dụng vũ khí là quan trọng hơn”. (6)

Về xây dựng lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Vệ quốc quân (bộ đội chủ lực), bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong Chỉ thị của Người về việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, Người nêu rõ: “Sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực..., trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện”. (7)

Sau này, tư tưởng về lực lượng vũ trang ba thứ quân đã phát triển, trở thành mô hình tổ chức quân sự độc đáo, sáng tạo của Đảng ta, phù hợp với cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Qua đó, đã phát huy hiệu quả sức mạnh toàn dân đánh giặc; kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; tác chiến của các binh đoàn chủ lực với sự nổi dậy của quần chúng; phát triển và vận dụng sáng tạo, linh hoạt các chiến thuật tác chiến để tiêu diệt địch ở mọi lúc, mọi nơi và bằng mọi vũ khí, làm cho các đội quân viễn chinh xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thế kỷ XX phải sa lầy, lần lượt thất bại trong thế trận chiến tranh nhân dân vững mạnh, rộng khắp.

Về nghệ thuật quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải huy động “tập trung lực lượng” coi đây là nguyên tắc cơ bản của nghệ thuật chiến tranh. Nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; về chiến thuật phải “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung” (8).

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhân tố quyết định đến sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” (9). Do vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển cần phải tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải không ngừng xây dựng, phát triển lực lượng, làm cho đội quân nhỏ bé ban đầu tiến lên nhanh chóng, trở thành một đội quân hùng mạnh. “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam” (10).

Bản chất của QĐND Việt Nam là “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân chiến đấu”
Về bản chất của quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: "quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác" (11). Có thể thấy, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” chính là bản chất của quân đội cách mạng, là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Chính trị viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu bộ đội. Phải làm sao cho bộ đội được dân tin, dân phục, dân yêu” (12). Bác luôn nhắc nhở, là quân đội của nhân dân, bộ đội phải sẵn sàng giúp đỡ nhân dân, nhưng tuyệt đối “không động đến cái kim, sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”. (13)

Tự hào về QĐND Việt Nam, Bác còn khẳng định, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người làm công tác dân vận giỏi, thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất: “Quân đội ta cũng đã góp phần tích cực xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, làm tròn trách nhiệm của một quân đội cách mạng”. (14)

Không chỉ dõi theo mỗi bước trưởng thành của quân đội, cổ vũ, động viên cán bộ và chiến sĩ trước mỗi thắng lợi cũng như chia sẻ, rút kinh nghiệm trước mỗi trận ra quân chưa giành được thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết thư thăm hỏi, động viên, đồng cảm trước những mất mát, hy sinh của các thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ... Đồng thời, Người cũng dành huy hiệu, những phần quà, cả cuốn sổ tiết kiệm của mình tặng các chiến sĩ... Người dành muôn vàn tình thương yêu cho tất cả cán bộ, chiến sĩ.

Không phụ lòng mong mỏi của Người, qua 79 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, QĐND Việt Nam luôn một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc; cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất; bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng./.
-------------------------
(1), (9), (14): Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 14, tr.435
(2): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 9, tr. 226.
(3), (12): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 370, 135.
(4): Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1977.
(5), (11): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.217, 334.
(6): Trần Thị Minh Tuyết: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận Chính trị, H.2015, tr.143.
(7), (8), (10): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 539.
(13): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.116.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị bộ đội ở Nam Định (1957).

Ảnh: Bác Hồ thăm và nói chuyện với một đơn vị bộ đội trong kháng chiến chống Pháp.

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội Phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội, ngày 25/9/1966.

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh trao thưởng cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị phòng không và hải quân trong trận đầu ra quân đánh thắng máy bay Mỹ (2 và 5/8/1964).
Theo TTXVN.
Môi trường ST.