Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

Phản bác luận điệu xuyên tạc quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Cùng với những luận điệu chống phá về nhiều mặt đối với công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, bóp méo quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta.

Chúng cho rằng “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”, không có cơ sở thực tế... Đây là luận điệu chống phá hết sức nguy hiểm. Đấu tranh phản bác những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo này chính là khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với quan điểm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; đồng thời trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong việc tích cực xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động ngăn ngừa, xử lý, đẩy lùi, triệt tiêu những nhân tố có thể phát triển thành các nguy cơ, thách thức đe dọa đối với độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định chính trị của đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc, cũng như môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Về vấn đề này, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc, vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” được Đảng vận dụng sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Tại Hội nghị Trung ương VIII khóa XI, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã được đề cập trong Nghị quyết của Trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”.

Đến Đại hội lần thứ XII, trước tình hình quốc tế, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, Đảng xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 16-4-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược quốc phòng Việt Nam, vấn đề "bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” đã xác định rõ mục tiêu, lực lượng, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đến Đại hội lần thứ XIII, vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa một lần nữa được Đảng ta nhấn mạnh: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Có thể thấy, quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, xác định đối tác, đối tượng, về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là sự kế thừa bài học “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; đồng thời, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với hoàn cảnh mới. Do đó, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vừa là quan điểm chỉ đạo cơ bản của Đảng, vừa là phương thức hành động tối ưu để chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Gần đây nhất, bước phát triển trong quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng được nhấn mạnh trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là bảo vệ từ trước, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa thì không chỉ tập trung tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh đơn thuần mà còn phải đẩy mạnh phát triển toàn diện các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo xây dựng làm cho mình ngày càng mạnh lên, để giữ cho “trong ấm”. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược và củng cố sự tin cậy chiến lược với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược..., giữ cho “ngoài êm”, tạo nền tảng vững chắc ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, xung đột, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, các lực lượng, nhất là Quân đội cần chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt đối tác, đối tượng quốc phòng; có đối sách xử lý phù hợp, hiệu quả các tình huống, các vấn đề biên giới, biển, đảo, nhất là Biển Đông, không để bị động, bất ngờ, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Quán triệt và thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng

Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng, đất nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã góp phần làm cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Ở trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình biển, đảo diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện, xảo quyệt, quyết liệt hơn. Bối cảnh đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Trước thực tiễn đó, hơn lúc nào hết cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Theo đó, muốn ngăn ngừa không để xảy ra chiến tranh trước hết phải tập trung xây dựng đất nước thực sự ổn định và vững mạnh về mọi mặt ngay từ bên trong, lấy giữ vững ổn định chính trị là cơ bản, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm cho nước ta có nội lực vững mạnh, đủ khả năng, điều kiện ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ có thể xảy ra chiến tranh và xung đột. Đồng thời, cần quan tâm và tiến hành mọi hoạt động cần thiết, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác, thường xuyên nắm chắc và hiểu rõ âm mưu, phương thức, biện pháp và thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch cả bên trong và bên ngoài; chủ động dự báo đúng những nguy cơ, thách thức, những tình huống phức tạp có thể xảy ra, nhất là trên vùng biển, đảo, biên giới và địa bàn nhạy cảm, phức tạp về quốc phòng, an ninh, từ đó có chiến lược, sách lược đúng đắn; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, hạn chế và đập tan các chiêu bài của thế lực thù địch dựng lên để lấy cớ tiến hành các hoạt động vũ trang và phi vũ trang chống phá Việt Nam.

Cuối cùng, để thực hiện có hiệu quả chủ trương, chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, yêu cầu khách quan đặt ra là phải huy động đồng bộ, tổng hợp các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người. Bởi suy đến cùng, chủ trương bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ được thực hiện trên cơ sở xây dựng và phát huy tốt nguồn lực con người, nguồn lực quan trọng nhất trong tổng thể các nguồn lực của một quốc gia, dân tộc.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là tư tưởng chỉ đạo, quan điểm nhất quán và hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là kế sách lớn, chiến lược tổng thể giữ nước trong thời đại ngày nay. Quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chính là hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình mà không phải tiến hành chiến tranh.

Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định rằng, chính luận điệu của các thế lực thù địch phủ nhận quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta mới là không có cơ sở thực tế, là “hão huyền” và “vô nguyên tắc”. Không lời lẽ xuyên tạc nào của các thế lực thù địch có thể thay đổi bản chất và chủ trương mang tầm chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”./.

CĐ, VS (st)


Luật Đất đai đáp ứng mong muốn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

 Tại kỳ họp bất thường lần thứ 5 (ngày 15-18/1/2024), Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Đất đai 2024. Đây là một trong những bộ luật quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu tiến hành sửa đổi cho đến lúc được thông qua, các thế lực thù địch, phản động không ngừng xuyên tạc các nội dung của Luật Đất đai nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, gây bất ổn xã hội bằng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc.

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15. (Ảnh: Đăng Anh/nhandan.vn)

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15. (Ảnh: Đăng Anh/nhandan.vn)

Luật Đất đai 2024 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp bất thường lần thứ 5 (ngày 18/1/2024) gồm 16 chương và 260 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2025. Tuy nhiên, tại Kỳ họp thứ 7, với 404/469 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15. Theo đó, Luật Đất đai sẽ có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, sớm 5 tháng so với quyết nghị của Quốc hội. Luật được đánh giá là đã quán triệt đầy đủ và thể chế hóa theo đúng tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.

Tuy nhiên thời gian qua các thế lực thù địch không ngừng chống phá quá trình xây dựng dự thảo luật, lấy góp ý của quần chúng nhân dân cho đến khi luật được thông qua. Bên cạnh những luận điệu, thủ đoạn quen thuộc được các thế lực thù địch sử dụng làm chiêu bài chống phá liên quan đến Luật Đất đai 2024 như: Tung luận điệu xuyên tạc "đất đai thuộc độc quyền sở hữu nhà nước"; đưa ra kiến nghị để gỡ rối vấn đề đất đai thì cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; xuyên tạc Việt Nam sửa đổi Luật Đất đai là để thao túng thị trường đất đai, lồng ghép lợi ích cho những cá nhân hay nhóm người nhất định chứ không vì lợi ích của nhân dân.

Hay, việc sửa đổi Luật Đất đai chỉ là làm theo chỉ đạo, theo kế hoạch, theo ý chí chủ quan chứ không dựa vào thực tiễn, không thể tuân thủ nguyên tắc sự thật khách quan. Việc lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ là hình thức, chiếu lệ, "làm cho có", để "bịt mắt", "mị dân" mà thôi, nên người dân không cần "mất thời gian góp ý".

Khi Quốc hội quyết định lùi thời gian sửa đổi luật thì các đối tượng lại rêu rao rằng "sự chậm trễ đó có liên quan đến nhóm lợi ích đang thao túng nguồn tài nguyên đất đai"; đồng thời khẳng định việc hoàn thiện Luật Đất đai ở Việt Nam là chuyện quá khó khăn, thậm chí là không thể, bởi vướng đến yếu tố thể chế và thiết chế xã hội, đến tương quan lực lượng chống tham nhũng và tham nhũng.

Các đối tượng cố tình làm trầm trọng hóa các vấn đề nhạy cảm, phức tạp, kích động người dân khiếu kiện, biểu tình, bất hợp tác trong các vụ việc liên quan đến đất đai, lôi kéo các tổ chức dân sự xã hội, các tổ chức quốc tế vào cuộc để gây sức ép với chính quyền. Chúng ra sức tuyên truyền rằng Luật Đất đai mới sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc "cướp đất" của chính quyền cộng sản...

Thực tiễn qua 4 kỳ họp Quốc hội đã phần nào cho thấy việc sửa đổi nhằm hoàn thiện Luật Đất đai là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn đất nước và lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc lùi thời hạn thông qua luật cũng cho thấy sự thận trọng, cầu thị, bền bỉ trong công tác xây dựng pháp luật của Đảng, Nhà nước ta với mong muốn có được một bộ luật hoàn thiện, chặt chẽ, bảo đảm tính pháp lý, tính khoa học, tính thực tiễn và quyền lợi của người dân ở mức tối đa. Điều này cũng cho thấy sự thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên các ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân và có thời gian bổ khuyết những lỗ hổng, khuyết thiếu trong luật hiện hành. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Bộ Chính trị về xây dựng pháp luật, đó là những vấn đề cấp bách, đã rõ, được thực tiễn chứng minh, có sự thống nhất cao thì mới đề xuất quy định trong luật.

Cho nên Luật Đất đai 2024 được thông qua trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, các chủ thể trong xã hội; hoàn toàn không vì "lợi ích nhóm" như các thế lực phản động rêu rao.

Dư luận đánh giá cao Luật Đất đai 2024 vừa được Quốc hội thông qua có nội dung chặt chẽ, đáp ứng cơ bản mong muốn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, Luật Đất đai 2024 có nhiều điều khoản nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, như mở rộng quyền sử dụng đất không chỉ với công dân Việt Nam, mà cả người Việt định cư ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào ta ở nước ngoài có cơ hội sở hữu, đầu tư nhà ở, bất động sản trong nước.

Chẳng hạn tại Điều 4, quy định về người sử dụng đất, Luật bổ sung thêm nhóm đối tượng là người gốc Việt định cư ở nước ngoài nhưng không có quốc tịch Việt Nam (Việt kiều) sẽ được hưởng đầy đủ quyền lợi về đất đai, nhà ở như công dân trong nước và người Việt định cư ở nước ngoài (người còn quốc tịch Việt Nam). Hay trong Điều 28 quy định người gốc Việt định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam có quyền mua, thuê nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở, nhận quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở; nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và các loại đất khác trong cùng thửa đất có nhà. Hay tại các Điều 41, 43, 44 của Luật Đất đai, quyền sử dụng đất của nhóm đối tượng là Việt kiều cũng được mở rộng hơn với các điều khoản, quy định rất chi tiết, rõ ràng. Từ những thay đổi tích cực này cho thấy chính sách cởi mở của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong thu hút nguồn vốn, nguồn lực từ bên ngoài cũng như gắn kết kiều bào với Tổ quốc, vun đắp khối đại đoàn kết dân tộc ở cả trong và ngoài nước.

Ở Luật Đất đai trước đây, Việt kiều có phần bị hạn chế về quyền mua, bán, chuyển nhượng nhà đất cho nên các đối tượng chống phá đã tung mọi luận điệu để bôi xấu, cho rằng đó là thiếu công bằng, là thiếu sót của Luật. Đến Luật Đất đai 2024 vừa được ban hành, dù đã mở rộng quyền lợi cho Việt kiều, song chúng lại "bẻ lái" cố tình bóp méo rằng, việc mở rộng quyền và lợi ích cho Việt kiều như vậy chẳng qua là để kêu gọi Việt kiều về xây dựng đất nước, mà thực chất trở về "xây dựng đất nước chỉ là xây dựng cho Đảng của họ (Đảng Cộng sản Việt Nam) thêm lớn mạnh thôi", mà với thể chế "độc đảng" cai trị và Đảng Cộng sản quyết định mọi thứ thì không bao giờ có sự công bằng, không có chuyện trở về xây dựng đất nước... Chúng cố tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc tạo thuận lợi để người gốc Việt mua nhà ở, đầu tư tại Việt Nam với thủ tục đơn giản hơn. Thực tế những thay đổi này đã thể hiện rõ nét sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội tới mọi người dân, tạo sự bình đẳng giữa người dân trong nước và kiều bào trong lĩnh vực bất động sản; đồng thời thể hiện nhất quán quan điểm người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của đất nước Việt Nam.

Từ các luận điệu xuyên tạc cho thấy các đối tượng cố tình lờ đi một thực tế đó là nhiều rào cản về thủ tục pháp lý trước đây đã được tháo gỡ, được luật hóa với các điều, khoản, quy định rất rõ ràng, cụ thể, tạo thuận lợi cho người dân Việt Nam nói chung và Việt kiều nói riêng trong Luật Đất đai 2024. Đồng thời chúng vẫn tiếp tục rêu rao dù luật mới đã mở rộng quyền hơn cho Việt kiều, nhưng nhìn vào luật pháp và chính sách Việt Nam với quá nhiều bước, nhiều thủ tục, thì kể từ khi được thông qua đến khi chính thức và triển khai trên thực tế, rồi đến sự vận dụng của cán bộ ở từng địa phương... sẽ vẫn còn những rào cản khó khăn nữa.

Một số khác, khi thấy mình có phần "đuối lý", không tìm được "kẽ hở" trong Luật Đất đai mới được thông qua, nhất là những nội dung liên quan đến quyền lợi của Việt kiều thì tiếp tục "moi móc" những vụ án cũ, những sai phạm trong quá khứ liên quan đến đất đai, nhà ở, giải phóng mặt bằng, hay những vụ việc mang tính chất cá nhân liên quan đến quyền lợi của một vài Việt kiều khi bị người thân đứng tên nhà ở lừa đảo... Gần đây, trên một số trang tin, website phản động, chúng lợi dụng những vụ đại án liên quan đến lĩnh vực bất động sản trong nước như vụ Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát... để hạ thấp vai trò của Chính phủ Việt Nam, cho rằng sở dĩ có những vụ án như vậy chính là do vấn nạn tham nhũng, nhận hối lộ, sự yếu kém trong quản lý và "sự thiếu vắng trách nhiệm của Chính phủ trong lĩnh vực bất động sản". Chúng cho rằng "Đất đai thuộc về những người có quan hệ chính trị, hầu hết đều liên quan đến tham nhũng và Chính phủ vẫn vô trách nhiệm bất chấp khả năng giám sát yếu kém", bất chấp thực tế là những sai phạm dù của tổ chức, cá nhân nào cũng đều bị xử lý nghiêm khắc và kiên quyết theo quy định của pháp luật.

Những luận điệu mà các thế lực thù địch rêu rao không phải là để "đấu tranh" đòi quyền lợi cho người dân trong nước, cũng không phải vì quyền lợi của kiều bào ở nước ngoài, cũng không phải là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà mục đích cuối cùng chính là nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bằng mọi âm mưu thủ đoạn chống phá, chúng gieo rắc sự hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của người dân với Đảng, kích động quần chúng nhân dân chống đối chính quyền, khiến dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai về quá trình lập pháp của nước ta, hạ thấp uy tín của Đảng.

Vậy nên cùng với việc nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế, làm tốt các chính sách đất đai, bảo đảm an sinh xã hội,... thì việc nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc Luật Đất đai 2024 cũng rất cần được quan tâm chú trọng./.

Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Phúc Yên xuyên đêm chữa cháy.

 

Rạng sáng ngày 5-7, cán bộ, chiến sĩ Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) thành phố Phúc Yên (Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Phúc) cùng lực lượng Công an nhân dân, dân quân tự vệ và người dân đã cơ bản khống chế được vụ cháy xảy ra tại Công ty cổ phần nhựa và bao bì Vĩnh Phúc, địa chỉ 153 đường Trần Phú, phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc).

Trước đó vào khoảng 21 giờ 35 phút ngày 4-7, vụ cháy xảy ra. Do nhiều đồ vật dễ cháy, lửa nhanh chóng bao trùm toàn bộ khu vực xưởng dệt, xưởng may, xưởng sợi và 2 nhà văn phòng. Tổng diện tích khoảng hơn 1.000m2 nhà xưởng. 

Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Phúc Yên xuyên đêm chữa cháy

Các lực lượng chức năng tiến hành chữa cháy. 

Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Phúc Yên xuyên đêm chữa cháy
Bộ đội cùng người dân sơ tán đồ đạc, tài sản để phòng cháy lan. 

Ngay khi nhận được tin báo, Thượng tá Đàm Xuân Quỳnh, Chỉ huy trưởng Ban CHQS thành phố Phúc Yên đã đến hiện trường chỉ đạo chữa cháy. Hàng chục cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban CHQS thành phố Phúc Yên cùng với lực lượng chức năng khẩn trương chữa cháy, cứu tài sản. Hơn 23 giờ cùng ngày, công tác chữa cháy vẫn được tiến hành. Bộ đội cùng người dân đã sơ tán đồ đạc, tài sản ở các nhà dân sang bên đường đối diện, đề phòng cháy lan.

Tới rạng sáng ngày 5-7, lực lượng chức năng cơ bản đã khống chế được đám cháy. Công tác khoanh vùng ngọn lửa, tránh cháy lan vẫn được tiến hành. Nguyên nhân hỏa hoạn đang được các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ.

Kiểm tra thế nào cho phù hợp?

 

Tháp tùng đoàn công tác của cấp trên kiểm tra thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị cơ sở, tôi thấy nhiều vấn đề cần bàn. Sau bản báo cáo của đơn vị với những lời cảm ơn xã giao, không hề có kiến nghị nào khác ngoài việc bày tỏ sự đồng tình với những chủ trương, chính sách của trên ban hành.

Nghe vậy, trưởng đoàn kiểm tra yêu cầu đơn vị cơ sở trình bày những vấn đề còn vướng mắc, nảy sinh trong quá trình công tác. Với không khí cởi mở, gần gũi và cách điều hành của đồng chí trưởng đoàn, không ít vướng mắc đã được cấp dưới trình bày.

Sở dĩ còn biểu hiện như trên là do đơn vị cơ sở ngại báo cáo, bởi trước đó đã được cấp trên trực tiếp chỉ đạo "báo cáo trong phạm vi đã được quán triệt".

Kiểm tra thế nào cho phù hợp?
Ảnh minh họa/ tuyengiao.vn  

Thực tế thời gian qua có tình trạng không ít cuộc kiểm tra khác nhau, cơ sở kiến nghị nhiều vấn đề bất cập nhưng không được giải quyết, dẫn đến cấp cơ sở chán, không muốn đề xuất. Mặt khác, nếu phản ánh không đúng nội dung đã định hướng sẽ bị cấp trên đánh giá về nhận thức của cấp dưới không được quán triệt, giáo dục đầy đủ. Nếu phản ánh đúng sẽ bị quy vào khả năng thực hiện nhiệm vụ, nội bộ có thể có vấn đề. Bên cạnh đó, có cấp trên đi kiểm tra theo tính chất động viên, “tiền hô hậu ủng”, hứa nhưng không thực hiện, không dám chịu trách nhiệm trước lĩnh vực công tác được phân công, nên cấp cơ sở ngại kiến nghị.

Thực tiễn cho thấy, kiểm tra, giám sát vừa là chức năng lãnh đạo vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng, lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Việc kiểm tra thường xuyên, định kỳ sẽ giúp duy trì kỷ luật, nhắc nhở các đơn vị cơ sở thực hiện đúng quy định. Qua đó tạo sự răn đe đối với những hành vi vi phạm, để các đơn vị cơ sở có ý thức chấp hành pháp luật cao hơn. Tuy nhiên, việc kiểm tra quá nhiều dẫn đến tình trạng kiểm tra qua loa, không sâu sát, không phản ánh, giải quyết được những vấn đề cơ sở cần, không kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm. Ngoài ra còn gây phiền hà, tốn kém thời gian, công sức, ngân sách nhà nước cũng như của các đơn vị. Kiểm tra nhiều nhưng không thiết thực, hiệu quả thì cơ sở cũng ngại và không muốn kiến nghị, phản ánh.

Để kiểm tra cho đúng, cho phù hợp, từ đó giải quyết được những vấn đề thực tiễn nảy sinh, các cấp kiểm tra cần thể hiện thái độ cởi mở, lắng nghe ý kiến đóng góp và phải có biện pháp giải quyết dứt điểm những kiến nghị, vướng mắc từ cơ sở. Quá trình chuẩn bị cần xác định rõ mục đích và yêu cầu của mỗi đợt kiểm tra để quyết định nội dung, số lượng đoàn kiểm tra phù hợp. Việc kiểm tra cần được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm khách quan, công bằng và hiệu quả. Đối với những lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi chuyên môn cao, có thể có nhiều đoàn kiểm tra với chuyên môn khác nhau, song cần phối hợp chặt chẽ để không chồng chéo, trùng lặp trong công tác kiểm tra, tránh gây phiền hà cho các đơn vị cơ sở. 

Phản bác những đánh giá sai lệch về Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”.

 Kể từ khi được công bố, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” cung cấp những thông tin chân thực về tôn giáo, chính sách tôn giáo, thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và những ưu tiên nhằm thúc đẩy việc thụ hưởng ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Với vai trò quan trọng đó, Sách trắng cũng trở thành tâm điểm công kích, phê phán thiếu thiện chí của các lực lượng cực đoan nhằm phủ nhận chính sách tôn giáo và những thành tựu quan trọng về bảo đảm quyền tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới. Do đó, việc nhận diện và phản bác những đánh giá sai lệch về Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” là rất cần thiết, nhằm khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” được Ban Tôn giáo Chính phủ cho ra mắt bạn đọc vào tháng 12-2022, là cuốn cẩm nang hữu ích, cung cấp đầy đủ thông tin về việc thực thi và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cuốn sách tập trung vào các nội dung: Giới thiệu chung về các tôn giáo ở Việt Nam; quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ đổi mới, những nguyên tắc hiến định và chính sách, pháp luật hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo; thành tựu, thách thức và hướng ưu tiên của Việt Nam trong việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt thân mật Đoàn đại biểu chức sắc, chức việc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo _Ảnh: TTXVN

Cuốn Sách trắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ cung cấp đầy đủ những thông tin chân thực về tình hình tôn giáo mà còn làm rõ cơ sở chính trị, căn cứ pháp lý vững chắc của việc bảo đảm thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, một số tổ chức phản động, thù địch và các lực lượng cực đoan đã cố tình bóp méo, xuyên tạc và bịa đặt trắng trợn nội dung, ý nghĩa của cuốn sách nhằm tạo luồng dư luận trái chiều, gây nhiễu loạn thông tin và kích động phản ứng tiêu cực từ một số tổ chức quốc tế và các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn trong nước. Những luận điệu sai trái, thù địch của các lực lượng chống phá được đăng tải trên các diễn đàn và trên các phương tiện truyền thông xã hội chủ yếu tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, trắng trợn vu cáo Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” là “bức bình phong” che đậy “các vi phạm về tôn giáo, tín ngưỡng kéo dài tại Việt Nam”(?!) - nguyên nhân khiến Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào Danh sách theo dõi đặc biệt về tôn giáo (SWL) năm 2022 và khuyến nghị đưa trở lại Danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) năm 2023.

Như đã trở thành thông lệ, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế (USCIRF) của Hoa Kỳ hằng năm đều tự cho mình cái quyền đưa các bản báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo để giám sát, can thiệp và áp dụng các biện pháp chế tài đối với các nước trên thế giới nếu “vi phạm hệ giá trị, chuẩn mực về nhân quyền, phẩm giá con người” mà Hoa Kỳ tự ý và chủ quan áp đặt. Theo Đạo luật tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, những nước gần chạm ngưỡng CPC phải được đưa vào SWL để theo dõi sát sao và nếu sau một thời gian vẫn không cải thiện thì đó là căn cứ để chính thức đưa vào CPC. Các nước bị chỉ định CPC phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt, nặng nhất là cấm vận.

Những nhận định thiếu khách quan của nhiều nước phương Tây về tự do tôn giáo ở Việt Nam trong các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế không còn là vấn đề mới(1). Trong nhiều năm trở lại đây, USCIRF luôn vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo”,... Những cáo buộc này làm sai lệch thông tin về hoạt động tôn giáo và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Phải khẳng định rằng, nguồn thông tin mà USCIRF của Hoa Kỳ thu thập trong các bản báo cáo chủ yếu là những thông tin phiến diện, không đáng tin cậy, có được do tiếp cận với các tổ chức phản động, cá nhân chống đối, có tư tưởng hẹp hòi dân tộc, thù hận, bất mãn với chế độ. Luận điệu của các tổ chức, cá nhân đó không thể đại diện cho bất kỳ tổ chức tôn giáo nào, không vì lợi ích cộng đồng, mà mang mưu đồ, lợi ích cá nhân, do đó không có giá trị tham khảo(2). USCIRF đã cố tình không trích dẫn những đánh giá của chức sắc, giáo sĩ... trong các tổ chức giáo hội đã được Nhà nước Việt Nam công nhận tư cách pháp nhân(3), có tiếng nói đại diện cho giáo hội, cho lợi ích của đại đa số chức sắc, tín đồ trong các tôn giáo ở Việt Nam.

Rõ ràng, việc USCIRF và các lực lượng cực đoan sử dụng những phát ngôn và nhận định thiếu cơ sở để cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm tự do tôn giáo trên các diễn đàn là thiếu khách quan; càng phi lý hơn khi lấy đó là lý do để phê phán Sách trắng của Việt Nam. Bởi, ở Việt Nam, không có cái gọi là  một sự “bưng bít” “những vi phạm kéo dài”, càng không thể có “bức bình phong” nào được tạo ra, vì Việt Nam luôn sẵn sàng công bố với quốc tế bức tranh chân thực về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo với những nội dung thông tin phản ánh trung thực, súc tích và đầy sức thuyết phục của Sách trắng.

Hai là, xuyên tạc rằng, Sách trắng nhưng chưa minh bạch và vẫn thiếu tự do tôn giáo vì “chủ nghĩa tam vô”(?!).

Phải khẳng định rằng: “Chủ nghĩa tam vô” (vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo) là sự phỉ báng lịch sử, xuyên tạc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hạ thấp uy tín của Việt Nam, lấy đó làm sự xảo biện xuyên tạc nội dung của Sách trắng.

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đề cao tinh thần yêu Tổ quốc kết hợp với tinh thần yêu thương nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Do đó, người cộng sản không những không “vô tổ quốc”, mà họ còn xứng đáng là những người yêu nước nhất. Những người cộng sản cũng luôn coi gia đình là tế bào của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt” (4).

Những người cộng sản cũng luôn thừa nhận và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân. Do đó, trong Cương lĩnh, chính sách và hành động thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như không tín ngưỡng, tôn giáo. Chỉ ra điểm tương đồng giữa lý tưởng của tôn giáo và lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, đó là xây dựng một xã hội tốt đẹp, giải phóng con người và mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Ở Việt Nam, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao sự tương đồng về mục đích giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản(5)Theo đó, khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản không nhất thiết dẫn tới sự biệt lập nếu đôi bên hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau trong một khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng về cách mạng, đi theo cách mạng. Người cho rằng, đồng bào có đạo vẫn có thể đứng trong hàng ngũ của Đảng, chỉ cần họ tích cực hoạt động cách mạng, “trung thành và hăng hái làm nhiệm vụ” (6). Ngày nay, thực hiện lời căn dặn của Người, cũng như quán triệt chủ trương của Đảng về kết nạp đảng viên là người theo tôn giáo, nhiều tín đồ, chức sắc của các tôn giáo đã được kết nạp vào Đảng, trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam(7).

Do đó, có thể khẳng định rằng, không có “chủ nghĩa tam vô” ở Việt Nam, đặc biệt là ở những đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây cũng là minh chứng cho thấy, Sách trắng hoàn toàn minh bạch khi tuyên bố công khai về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ba là, xuyên tạc trắng trợn rằng, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” công bố tự do tôn giáo song nhiều “nhóm tôn giáo độc lập bị đàn áp, ngăn cấm hoạt động”(?!).

“Các nhóm tôn giáo độc lập bị đàn áp, ngăn cấm hoạt động” được các tổ chức thiếu thiện chí nhắc đến, trên thực tế, là những tổ chức bất hợp pháp, đội lốt tôn giáo để truyền bá tư tưởng cực đoan, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam. Các hoạt động của các tổ chức này vi phạm pháp luật của Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. Quyền tự do tôn giáo không thể đứng ngoài và đứng trên pháp luật. Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc, kích động ly khai, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo; gây rối trật tự công cộng và xâm phạm đến an ninh quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung về quyền tự do tôn giáo đã nêu trong các văn kiện quốc tế, như Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền chính trị và dân sự quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của một người chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (8). Nội luật hóa hệ thống luật pháp quốc tế, ở mỗi quốc gia cũng đều có những quy định riêng về hoạt động tôn giáo để bảo vệ trật tự xã hội và an ninh quốc gia(9). Không một quốc gia nào cho phép hoạt động tôn giáo vượt ra ngoài sự quản lý của nhà nước. Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định nghiêm cấm lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập, đoàn kết dân tộc, chống phá Nhà nước hay ngăn cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân. Điều này được phản ánh rất rõ trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “Nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường” (10).

Vì vậy, việc ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các nhóm đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, làm trái pháp luật Việt Nam là điều cần thiết. Đó không phải là sự đàn áp hay ngăn cấm hoạt động của các nhóm tôn giáo, mà là sự bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật.

Bốn là, bóp méo rằng, Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” phản ánh sự áp đặt trong định hướng chính trị của chủ thể Nhà nước chứ không phản ánh sự tôn trọng niềm tin tôn giáo và bảo đảm thực hành nghi lễ tôn giáo của người dân(?!).

Chính sách tôn giáo nhất quán của Việt Nam được khẳng định trong Sách trắng là sự lựa chọn phù hợp với thực tiễn lịch sử và đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân có tín ngưỡng. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa “ý Đảng” và “lòng dân”.

Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố và thực hiện chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do tín ngưỡng”. Nhờ chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng triệu người dân Việt Nam, dù “lương” hay “giáo” đều có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của nước nhà(11). Ngày 14-6-1955, trong Sắc lệnh số 234/SL, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy”. Các Hiến pháp sau này (1959, 1980, 1992, 2013) vẫn hiến định phương châm, chính sách về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam ngày càng phù hợp hơn với bối cảnh trong nước và quốc tế, đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, góp phần củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Chính sách đó được thể hiện thông qua các văn kiện chính trị của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước.

Trẻ em vui chơi ở xứ Sở Kiện (thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) _Nguồn: vietnamheritage.com.vn

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhận thức rõ rằng, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn bị, bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự do của con người, của công dân, trong đó có quyền tự do theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; thừa nhận, tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ, cũng như lợi ích của các tổ chức tôn giáo; không kỳ thị, phân biệt đối xử với các tín ngưỡng, tôn giáo và người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Mọi người đều có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay cả đối với người bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù cũng có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo(12). Đồng thời, Nhà nước cũng đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân theo tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; tôn trọng, bảo vệ trật tự xã hội và thể chế nhà nước cũng như quyền tự do của cá nhân và tổ chức khác. Các tôn giáo và người theo tôn giáo gắn bó, đồng hành với dân tộc, cùng chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu chung(13). Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(14).

Chính vì thế, cần khẳng định rõ, không có bất kỳ sự áp đặt nào trong định hướng chính trị của Nhà nước đối với chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Rõ ràng, phải dựa trên cơ sở tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, mỗi bên nhận thức được ranh giới, nghĩa vụ, quyền hạn của chính mình thì mới có thể chung sống hòa hợp, cùng nhau thúc đẩy sự phát triển chung. Nếu không phải là một chính sách tôn giáo tiến bộ, hợp thời đại và hợp lòng dân, chắc chắn không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như ngày nay. Nội dung của Sách trắng hướng tới khẳng định, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được Nhà nước ghi nhận, bảo hộ theo chiều hướng tiến bộ, tích cực(15). Nhà nước luôn coi trọng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, bảo đảm các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật. Đây là sự thật không thể phủ nhận!

Việc xuất bản Sách trắng chính là nhằm công khai rộng rãi tới công chúng trong nước và bạn bè quốc tế về chính sách ưu tiên, chính sách bền vững của Việt Nam đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ quyết tâm thực hiện mục tiêu ngày càng bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn các quyền cơ bản của người dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo./.

------------

(1) Từ năm 2004 đến năm 2005, Việt Nam lần đầu tiên bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa vào CPC, tới năm 2006 Việt Nam được đưa ra khỏi danh sách này. Tuy nhiên, liên tiếp từ năm 2012 đến nay, USCIRF - cơ quan tham vấn độc lập do Quốc hội Hoa Kỳ thành lập và là “cánh tay nối dài” của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ - thường xuyên đề nghị đưa Việt Nam trở lại CPC, bất chấp những nỗ lực và thành tựu quan trọng của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi
(2) Xem: “Nhận diện những đánh giá sai lệch về Sách trắng Tôn giáo ở Việt Nam”, Trang Thông tin điện tử Công an Quảng Ninh, ngày 27-3-2023,  https://congan.quangninh.gov.vn/tin-antt-va-canh-bao-toi-pham/nhan-dien-nhung-danh-gia-sai-lech-ve-sach-trang-ton-giao-o-viet-nam-25069.html
(3) Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự, Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong tất cả các hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, không hề có sự khó khăn nào trong việc thực hành niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của mình”; Mục sư Charlie McKenzie, Cộng đồng Tin Lành quốc tế Hanoi International Fellowship nhận định: “Khi được biết các tổ chức cáo buộc Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tôi muốn nói với họ rằng, hãy thử đến sống ở Việt Nam, cùng với người Việt Nam, đi hằng ngày trên các con đường ở Việt Nam và đặc biệt hãy đến nhà thờ vào ngày chủ nhật trước khi đưa ra phán xét. Tự do tôn giáo có ở Việt Nam không ư? Có nhiều là đằng khác!”, xem: “Luận điệu xuyên tạc về tự do tôn giáo tại Việt Nam”, phóng sự trên VTV4, ngày 12-6-2022, https://youtu.be/JgATs9LQE1E?si=EL93-dKpT7z2WkqN
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 300
(5) Người luôn chủ trương “cầu đồng tồn dị”, nghĩa là khuyến khích điểm tương đồng và chấp nhận sự dị biệt, không quá nhấn mạnh sự khác biệt về mặt tư tưởng - duy tâm hay duy vật, hễ là người dân Việt Nam dù theo tôn giáo hay không theo tôn giáo đều hướng đến mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nội dung tư tưởng nhân văn, sâu sắc này của Hồ Chí Minh được chuyển tải cô đọng trong đoạn văn nổi tiếng của Người: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng những có điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò của các vị ấy” (Xem: Viện Nghiên cứu Tôn giáo: Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 13)
(6) Xem: Phạm Hữu Xuyên: “Quan điểm của Hồ Chí Minh về đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 5, 2006
(7) Từ năm 2019 đến nay, cùng với việc triển khai Quy định số 06-QĐ/TW, ngày 28-8-2018, của Bộ Chính trị, về Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người theo tôn giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo (thay thế Quy định số 123-QĐ/TW, ngày 28-9-2004, quy định về kết nạp Đảng của người có đạo), công tác kết nạp đảng viên là người theo tôn giáo đạt được nhiều kết quả đáng khẳng định. Tính đến tháng 6-2021, theo số liệu thống kê từ cấp ủy các địa phương, toàn Đảng có 79.219 đảng viên theo tôn giáo (chiếm 1,5% tổng số đảng viên trong toàn Đảng), trong đó 60.946 đảng viên là tín đồ tôn giáo, 17.686 đảng viên là nhà tu hành tôn giáo, 486 đảng viên là chức việc tôn giáo, 101 đảng viên là chức sắc tôn giáo (Dẫn theo: Lê Tâm Đắc: “Công tác kết nạp đảng viên là người theo tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: Từ lý luận đến thực tiễn”, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 7, 2022, tr. 29)
(8) United Nations: International Convenant on Civil and Political rights, https://treaties.un.org/doc/treaties/1976/03/19760323%2006-17%20am/ch_iv_04.pdf, 1967
(9) Ở Hoa Kỳ, mặc dù không ban bố luật pháp riêng về tôn giáo nhưng các hoạt động tôn giáo đều được đặt dưới hệ thống pháp luật dân sự giống như bất kỳ tổ chức xã hội nào khác. Ở Pháp, “Luật phân ly” không thiếu các điều khoản nhằm tăng cường sự giám sát của chính quyền đối với các hiệp hội tôn giáo và ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo gây chia rẽ, ly khai dân tộc. Tháng 2-2016, Chính phủ Pháp còn ban hành Đạo luật ly khai, trong đó cấm các hoạt động tôn giáo tuyên truyền về ly khai. Ở Nhật Bản, chính phủ Nhật Bản phải sửa đổi, bổ sung “Luật Pháp nhân tôn giáo” để hạn chế quyền của các nhóm tôn giáo, tránh làm tổn hại đến an ninh quốc gia
(10) Ban Tôn giáo Chính phủ: Tài liệu giới thiệu Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr. 9
(11) Lịch sử Việt Nam ghi nhận, trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, nhiều nhà sư phát nguyện cởi áo cà sa ra trận, trở thành những chiến sĩ vệ quốc đoàn kiên trung, nhiều cơ sở tôn giáo là căn cứ địa cách mạng nuôi giấu cán bộ kháng chiến, hàng vạn thanh niên trong vùng đồng bào có đạo hăng hái tham gia tòng quân, chi viện cho chiến trường
(12) Sách trắng nêu rõ, để bảo đảm quyền tự do tôn giáo đối với người chấp hành án phạt tù, hiện nay đã cung cấp 4.418 cuốn thuộc 17 đầu sách liên quan đến tôn giáo được đưa vào thư viện của 54 trại giam, tr. 92
(13) Xem: Vũ Hoàng Công: Chính sách tôn giáo trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt NamTlđd
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,  tr. 171
(15) Xem: Ban Tôn giáo Chính phủ: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2022, tr. 73

Có phải quân đội tư sản trung lập về chính trị không?

 


Khẳng định: Không có quân đội phi giai cấp, trung lập về chính trị.

Theo quan điểm của Lênin: Bất kỳ một quân đội nào cũng đều mang bản chất của giai cấp, nhà nước sinh ra và nuôi dưỡng nó.

Claudơvit (1780 - 1831) - nhà lý luận quân sự tư sản khẳng định: “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”; quân đội là một thành phần của nhà nước, được lập ra để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh, do đó về bản chất của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của lực lượng cầm quyền.

Đối với quân đội tư bản, tuy được xây dựng trên nền tảng lý luận về nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của vũ khí trang bị (nói cách khác là thuyết “vũ khí luận”). Nhưng không vì thế mà họ không chú ý đến xây dựng chính trị cho quân đội.

Họ truyền bá vào quân đội hệ tư tưởng tư sản, là công tác tổ chức và lối sống, đạo đức theo quan điểm của giai cấp tư sản. Trước đây, quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh chiến đấu” để “bảo vệ thế giới tự do”, “ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn thế giới”. Hiện nay, quan điểm của họ là: Bảo vệ dân chủ, nhân quyền, giá trị văn hóa phương Tây… (Thực tiễn cho thấy trong chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ xây dựng QĐ Ngụy quyền SG có SQ tâm lý chiến và có Tổng cục Chiến tranh tâm lý)

          T1

Đấu tranh trên phương diện lý luận cần gắn chặt hơn nữa với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn.

 


Điều cần thấy là, các thế lực thù địch và cơ hội luôn tìm mọi thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên phương diện lý luận chúng hướng đến phủ định các nguyên lý triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó tập trung vào xuyên tạc, phủ định học thuyết hình thái kinh tế xã hội, về chuyên chính vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ định học thuyết giá trị thặng dư, phủ định lý luận về sự quá độ lên CNXH…Cùng với đó là phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt tư tưởng Hồ Chí minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng không chỉ cố luận chứng trên phương diện lý luận mà còn thông qua các hoạt động thực tiễn minh chứng sự phát triển vượt trội của chủ nghĩa tư bản. Lấy sự đổ vỡ mô hình CNXH ở Liên xô cũ và các nước Đông Âu để luận giải tính không hợp lý của CNXH hội cũng như hướng vào phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin.

Ngay ở Việt Nam, không chỉ xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, chúng còn xuyên tạc rằng, việc Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam là gượng ép, sai lầm, và vì vậy đây chính là nguyên nhân đẩy đến các cuộc chiến tranh hao người tốn của, làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Trên thực tế, họ lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên để làm minh chứng, từ đó xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không phù hợp, là lỗi thời với xu thế phát triển chung của thế giới.

Chính thực tế đó đòi hỏi trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chúng ta phải gắn chặt hơn nữa đấu tranh trên phương diện lý luận với đấu tranh trong hoạt động thực tiễn. Thông qua các kết quả thực tiễn để minh chứng sự đúng đắn đường lối của Đảng, của lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời công khai những hạn chế, sai lầm do các nguyên nhân chủ quan và khách quan trong quá trình xây dựng xã hội mới. Muốn vậy phải có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ hơn nữa của các lực lượng tham gia đấu tranh lý luận với công tác tuyên truyền kết quả phát triển kinh tế xã hội, với đấu tranh phòng chống sự suy thoái tư tưởng đạo đức, lối sống cũng như phòng chống tham nhũng.

          T1

Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với Quân đội ta về chính trị là chống phá vấn đề gì?

 


Đó là:

Thứ nhất: phá hoại nền tảng tư tưởng của Quân đội.

Thứ hai: phủ định sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Thứ ba: xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của QĐ ta.

Thứ tư: phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội với nhân dân.

Thứ năm: lôi kéo QĐ tham gia liên minh quân sự, phá hoại tình đoàn kết quốc tế và khống chế mối quan hệ hợp tác giữa QĐ ta với QĐ các nước.

Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” QĐ ta thực sự là một yêu cầu, một nội dung đặc biệt quan trọng và cấp thiết trong quá trình xây dựng QĐ vững mạnh về chính trị.

+ Phải xây dựng cho cán bộ, chiến sỹ có nhận thức đúng kẻ thù, không mơ hồ ảo tưởng, lẫn lộn bạn – thù, địch ta; đối tác - đối tượng.

Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, các trào lưu tư tưởng tư sản, phản động, những quan điểm, hiện tượng sai trái, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tinh thần của xã hội, của Đảng, Nhà nước và QĐ.

T1