Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHỔ BIẾN CUỐN SÁCH VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA TỔNG BÍ THƯ ĐẾN TOÀN QUÂN!

     Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn quân phổ biến, học tập một số nội dung cuốn sách về xây dựng, phát triển văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tổ chức sáng 4/7, tại Hà Nội!

Sáng 4/7, tại Hà Nội, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn quân phổ biến, học tập một số nội dung cuốn sách "Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Hội nghị nhằm tuyên truyền rộng rãi những nội dung cơ bản của cuốn sách đến cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị. Cùng dự có các Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Hoạt động góp phần giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhất là cán bộ chủ trì các cấp nắm chắc những nội dung cơ bản, cốt lõi của cuốn sách; nâng cao nhận thức có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thông qua nghiên cứu, học tập, các cơ quan, đơn vị kịp thời cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo phù hợp nội dung cuốn sách với điều kiện thực tiễn, chức năng, nhiệm vụ được giao. Sau Hội nghị, cấp ủy, chỉ huy các cấp tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt, học tập sâu rộng tới cán bộ, đảng viên, quần chúng trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân với những hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo, hiệu quả, gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, Quân đội, cơ quan, đơn vị.

Giới thiệu về quá trình biên tập cuốn sách, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, cho biết cuốn sách "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Tạp chí Cộng sản, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan liên quan tổ chức biên tập, xuất bản. Được triển khai từ tháng 3/2023, cuốn sách đã hoàn thành, ra mắt vào dịp kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2024).

Cuốn sách gồm 928 trang, tuyển chọn 92 bài viết, bài phát biểu, bài nói, lược ghi, trả lời phỏng vấn, thư... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, trong đó bài viết sớm nhất là năm 1968. Nội dung các bài phát biểu, bài viết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Tổng Bí thư đối với việc xây dựng, giữ gìn, phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập; tạo nguồn lực nội sinh, huy động sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Tại Hội nghị, Đại tá, Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Xuân Dũng, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương kiêm Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Phê bình lý luận văn học nghệ thuật Trung ương đã giới thiệu một số nội dung cơ bản của cuốn sách. Theo đó, nội dung cuốn sách gồm ba phần. Phần thứ nhất "Văn hóa là hồn cốt của dân tộc," gồm 19 bài phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng; Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị công tác tư tưởng-văn hóa toàn quốc, Hội nghị Tuyên giáo toàn quốc...

Bằng những lập luận thuyết phục, dẫn chứng sinh động, Tổng bí thư đã lý giải cụ thể nội hàm của khái niệm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phân tích vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng giải pháp để phát huy đầy đủ, toàn diện giá trị văn hóa.

Phần thứ hai của cuốn sách: "Phát triển toàn diện, đồng bộ để văn hóa thật sự là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước bền vững," tuyển chọn 73 bài phát biểu, bài viết, thư của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với các lĩnh vực văn hóa cũng như quá trình xây dựng, phát triển của các cơ quan văn hóa. Với thực tiễn phong phú, tư duy lý luận sắc bén, sự am hiểu sâu sắc về đặc trưng của từng loại hình văn hóa, đồng chí đã có những chỉ đạo toàn diện đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật; giáo dục, đào tạo; khoa học, công nghệ; báo chí, xuất bản...

Trong phần thứ ba "Từ luận điểm văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thực tiễn cuộc sống," độc giả được tiếp cận với 32 bài viết, trả lời phỏng vấn của các cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nghiên cứu, học tập và triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, gắn với xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Bên cạnh đó, cuốn sách còn bao gồm hơn 90 bức ảnh tư liệu quý, ghi lại những hình ảnh của Tổng Bí thư trong các hoạt động văn hóa, hội nghị văn hóa; các chuyến đi thăm, làm việc với các địa phương; các cuộc làm việc với các cơ quan, đơn vị trong ngành Văn hóa; các buổi gặp gỡ văn nghệ sỹ, trí thức trên mọi miền Tổ quốc.../.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: RA MẮT CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA VIỆT NAM!

     Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với việc xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập,...

Chiều 21/6, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Chủ trì buổi Lễ có các đồng chí: Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

Dự buổi Lễ có các đồng chí: Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể, cơ quan Trung ương; các chuyên gia, nhà khoa học; thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Biên soạn, Tổ giúp việc Ban Biên soạn cuốn sách.

Cuốn “cẩm nang” quý về văn hóa
Cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Tạp chí Cộng sản, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan liên quan tổ chức biên tập, xuất bản. Được triển khai từ tháng 3/2023, cuốn sách đã hoàn thành, ra mắt vào dịp kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2024).

Cuốn sách tuyển chọn 92 bài viết, bài phát biểu, bài nói, lược ghi, trả lời phỏng vấn, thư... của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, trong đó bài viết sớm nhất là năm 1968. Nội dung các bài phát biểu, bài viết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Tổng Bí thư đối với việc xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam với các yếu tố truyền thống và hiện đại, bản sắc và hội nhập, tạo nguồn lực nội sinh và huy động sức mạnh của văn hóa, con người Việt Nam trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Nội dung cuốn sách gồm ba phần. Trong đó, phần thứ nhất “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”, gồm 19 bài phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị công tác tư tưởng - văn hóa toàn quốc, Hội nghị Tuyên giáo toàn quốc,... Với những lập luận đầy sức thuyết phục, những dẫn chứng rất phong phú và sinh động, đồng chí đã lý giải cụ thể nội hàm của khái niệm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phân tích vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng giải pháp để phát huy đầy đủ, toàn diện giá trị văn hoá.

Phần thứ hai “Phát triển toàn diện, đồng bộ để văn hóa thật sự là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước bền vững”, tuyển chọn 73 bài phát biểu, bài viết, thư của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với các lĩnh vực văn hóa cũng như quá trình xây dựng, phát triển của các cơ quan văn hóa. Với thực tiễn phong phú và tư duy lý luận sắc bén, sự am hiểu sâu sắc về đặc trưng của từng loại hình văn hóa, đồng chí Tổng Bí thư đã có những chỉ đạo toàn diện, đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật; giáo dục, đào tạo; khoa học, công nghệ; báo chí, xuất bản;…

Phần thứ ba, “Từ luận điểm văn hóa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thực tiễn cuộc sống”, tuyển chọn 32 bài viết, trả lời phỏng vấn của các cán bộ, đảng viên và nhân dân trong nghiên cứu, học tập và triển khai, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc, gắn với xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.

Cuốn sách tuyển chọn hơn 90 bức ảnh tư liệu quý, ghi lại những hình ảnh của Tổng Bí thư trong các hoạt động văn hóa, hội nghị văn hóa; các chuyến đi thăm, làm việc với các địa phương; các cuộc làm việc với các cơ quan, đơn vị trong ngành Văn hóa; các buổi gặp gỡ văn nghệ sĩ, trí thức trên mọi miền Tổ quốc. 

Là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, đồng thời là một nhà văn hóa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn đặc biệt quan tâm, dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam - vấn đề mang tính trọng tâm, đột phá chiến lược, là nền tảng tinh thần, động lực và nguồn lực nội sinh đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời, đồng chí cũng quan tâm chỉ đạo với những định hướng giải pháp thiết thực từ những vấn đề bao quát cho đến các lĩnh vực, các khía cạnh cụ thể của văn hóa.

Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương nêu rõ, cuốn sách được sưu tầm, biên tập và xuất bản nhằm hệ thống hóa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; trên cơ sở đó giúp cán bộ, đảng viên, các ngành, các cấp, các địa phương triển khai sâu rộng hơn, hiệu quả hơn nữa nhiệm vụ chấn hưng và phát triển văn hoá, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Đồng chí Lại Xuân Môn nhấn mạnh: “Cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị lý luận và thực tiễn quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nói riêng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung. Nội dung cuốn sách đồng thời khắc họa sâu sắc, sinh động một nhân cách văn hóa cao đẹp, giản dị, gần gũi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là cuốn “cẩm nang” quý về văn hóa của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Tại lễ ra mắt sách, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ý thức sâu sắc rằng Cuốn sách có giá trị vô cùng to lớn, bởi đây không chỉ là sản phẩm trí tuệ, tâm huyết của riêng Tổng Bí thư, mà quan trọng hơn là một công trình khoa học có tính chất hệ thống, tập hợp những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, những phát biểu, bài viết của Người đứng đầu Đảng ta về bản chất và đặc trưng của văn hóa Việt Nam, về vai trò, sứ mệnh của văn hóa như nguồn lực nội sinh cho phát triển - sự gắn kết của văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội; về giữ gìn giá trị văn hoá truyền thống và cách mạng, về phát triển văn hóa trong thời kỳ mới; ý nghĩa trung tâm của con người là chủ thể sáng tạo, đội ngũ văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng của phát triển văn hoá; gắn với xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; qua đó góp phần quan trọng làm giàu thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển nền v,ăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

“Toàn ngành Văn hoá hết sức vui mừng vì có thêm cuốn “Cẩm nang” cho công tác phát triển văn hoá, đồng thời cũng ý thức được trách nhiệm quán triệt sâu sắc, chuyển tải, cụ thể hoá những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư để những nội dung cốt lõi của cuốn sách được lan tỏa, thấm sâu vào tâm thức của đội ngũ những người làm công tác văn hoá, biến nhận thức thành hành động cụ thể; khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” - Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỜNG TRỰC BAN BÍ THƯ LƯƠNG CƯỜNG LÀM VIỆC VỚI BAN ĐỐI NGOẠI TRUNG ƯƠNG!

     Ngày 4-7, tại Hà Nội, đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương về tình hình thực hiện nhiệm vụ từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay. Tham gia buổi làm việc có đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương, đại diện lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, lãnh đạo Ban và lãnh đạo các vụ, đơn vị của Ban Đối ngoại Trung ương!

Tại cuộc làm việc, đồng chí Lê Hoài Trung đã báo cáo với đồng chí Thường trực Ban Bí thư về những kết quả công tác nổi bật của Ban Đối ngoại Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay và một số phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.

Đồng chí Lê Hoài Trung nhấn mạnh trong bối cảnh tình hình quốc tế trải qua những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tác động đa chiều, sâu sắc đến thế giới, khu vực và nước ta, Ban Đối ngoại Trung ương đã bám sát Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, quán triệt tinh thần chỉ đạo sâu sắc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nỗ lực hoàn thành khối lượng lớn công việc được giao với yêu cầu ngày càng cao.

Công tác nghiên cứu, tham mưu chiến lược được chú trọng, chủ động đẩy mạnh, nâng cao chất lượng và có nhiều đổi mới, nổi bật là Ban Đối ngoại Trung ương đã tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành một số văn kiện quan trọng của Đảng về đối ngoại, trong đó có Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 9-1-2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng. Qua đó, giúp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại, cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng, đóng góp hiệu quả vào việc tạo thế chủ động chiến lược, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Phát biểu tại buổi làm việc, Thường trực Ban Bí thư Lương Cường nhấn mạnh, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp song công tác đối ngoại đã đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá là “điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”. Đồng chí Thường trực Ban Bí thư khẳng định, trong những thành tựu của công tác đối ngoại có vai trò đóng góp rất quan trọng của Ban Đối ngoại Trung ương.

Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, trước những diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới, nhu cầu phát triển của đất nước ngày càng đặt ra những nhiệm vụ, đòi hỏi mới, đồng chí Thường trực Ban Bí thư đề nghị Ban Đối ngoại Trung ương tiếp tục quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy những kết quả công tác đã đạt được, nỗ lực góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng.

Đồng chí Lương Cường nhấn mạnh, Ban Đối ngoại Trung ương cần tiếp tục coi trọng và nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu chiến lược và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm. Bên cạnh việc theo dõi, nắm bắt các diễn biến mới của tình hình quốc tế, nhất là các vấn đề liên quan đến đất nước ta, Ban Đối ngoại Trung ương tiếp tục chú trọng tham mưu các giải pháp để triển khai hiệu quả các thỏa thuận với các đối tác; phát huy hơn nữa vai trò trụ cột của đối ngoại Đảng trong việc định hướng chiến lược tổng thể quan hệ với các nước, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân; triển khai hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tăng cường sự tin cậy, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác quốc tế.

Đồng chí Lương Cường mong muốn Ban Đối ngoại Trung ương tiếp tục phát huy tinh thần đổi mới tư duy dám nghĩ, dám làm, thường xuyên tăng cường và nâng cao năng lực mọi mặt cho đội ngũ cán bộ của Ban Đối ngoại Trung ương, xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng có chuyên môn vững chắc, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đồng chí Thường trực Ban Bí thư tin tưởng toàn thể lãnh đạo, cán bộ, công chức của Ban Đối ngoại Trung ương sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ, viết tiếp những trang sử vàng của ngành đối ngoại Đảng trong suốt 75 năm qua./.


Yêu nước ST.

Để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở

 

Sau 25 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18-2-1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, cấp ủy, chính quyền các cấp đã triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, sáng tạo nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận và phát huy được sức mạnh toàn dân trong xây dựng và phát triển đất nước, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển, đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chủ trương của Đảng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”1. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”2.

Trong tiến trình đổi mới, việc vi phạm dân chủ ở nông thôn khi nhân dân tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng đường, trường, trạm... đã không được bàn bạc, mức đóng góp quá sức dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương. Trước tình hình đó, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”3, nhằm cụ thể hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đảm bảo dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị quyết số 45/1998, Nghị quyết số 55/1998, Nghị quyết số 60/1998, Pháp lệnh số 34/2007 và Chính phủ ban hành các Nghị định số: 29/1998, 71/1998, 07/1999, 79/2003, 87/2007 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân.

Trong từng thời kỳ cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, bổ sung và phát triển nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 22-6-2000, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 304-TB/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Tiếp sau đó, ngày 4, 5-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị giai đoạn 1998-2001. Đến ngày 28-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Ngày 28, 29-9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và ra Thông báo số 159-TB/TW “Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Đến ngày 4-3-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII). Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong thời kỳ mới. Ngày 7-1-2016, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 120-KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” và tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, khẳng định: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”4.

Đại hội XIII, kế thừa và phát triển tư tưởng “trọng dân” trong truyền thống lịch sử của dân tộc, bài học “dân là gốc” tiếp tục được phát triển bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” vào phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân.

“Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.

“Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan tỏa giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất của chế độ xã hội. Đó là động lực, là lợi ích, lợi ích phải hài hòa tổng thể lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Bài học “dân là gốc”, phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”5.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về thực hiện QCDC ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15). Luật gồm 6 chương, 91 điều; trong đó quy định việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức sử dụng lao động.

Luật nêu rõ quyền của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:

- Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.

- Đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

- Được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, cần tập trung một số nhiệm vụ sau:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở

Chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền việc đẩy mạnh thực hiện QCDC trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải cụ thể: Xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, đáp ứng quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Đa dạng hóa phương pháp, hình thức tuyên truyền theo hướng tăng cường đối thoại, trao đổi, tương tác phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Hiện đại hóa và sử dụng các phương tiện tuyên truyền hiện đại, nhiều chức năng, dịch vụ, tiện ích nhằm góp phần hữu ích, thiết thực trong việc tương tác, chia sẻ. Do vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự gương mẫu trong việc chấp hành các nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống… Đồng thời, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, đồng thời cần khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hành dân chủ; phát huy hiệu lực, hiệu quả vai trò các cơ quan, tổ chức trong thực hành dân chủ; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, có uy tín trong nhân dân, có năng lực, bảo đảm liêm, chính.

Ba làphát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế để phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với các chức năng, vai trò và nhiệm vụ; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, khắc phục triệt để tình trạng phô trương, hình thức; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; bảo đảm lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện QCDC ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của chính quyền các cấp nhằm giải đáp nguyện vọng, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Để thực hành dân chủ, công tác cán bộ là một trong những khâu quan trọng và mang tính quyết định nhất. Do đó, cần: Nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vai trò của việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Kết hợp thực hiện các biện pháp cụ thể về tổ chức quản lý, hành chính, pháp luật và đề cao sức mạnh của dư luận xã hội. Kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, có nhận thức đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, về thực hiện dân chủ trong Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đã được quy hoạch đều có cơ hội và điều kiện như nhau để có thể phát huy tốt những phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý.

 

 VAI TRÒ CỦA THỂ CHẾ ĐỐI VỚI THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


Thể chế quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Thể chế có tác động thúc đẩy hoặc gây ra rào cản cho việc thực hiện bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong chính trị nói riêng. Do đó, cần có sự xem xét đánh giá tác động từ thể chế đối với thực hiện bình đẳng giới về chính trị để Việt Nam có thể tiếp cận và thực hiện tốt nhất các mục tiêu phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai; nâng cao vai trò của phụ nữ trong tham chính và phát triển đất nước.


Quan hệ giữa thể chế và bình đẳng giới trong chính trị


Giới (Gender) còn gọi là giới xã hội là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Sự khác biệt đó thể hiện trong các mối quan hệ xã hội và tương quan về địa vị giữa nữ giới và nam giới. Tại Việt Nam, Điều 5 Luật Bình đẳng giới (năm 2006) quy định: Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội; Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó(1).  Nữ giới và nam giới đều có vị trí như nhau trong xã hội, bình đẳng về quyền cơ bản và về cơ hội phát triển chứ không phụ thuộc vào giới tính, được đóng góp cho quá trình phát triển xã hội cũng như thụ hưởng như nhau những thành tựu của quốc gia trên mọi lĩnh vực. Các lĩnh vực khác nhau của bình đẳng giới được đề cập đến trong Luật Bình đẳng giới (từ Điều 11 đến Điều 18) là: Chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và gia đình.


Bình đẳng giới về chính trị là việc nam giới và nữ giới có vị trí, vai trò ngang nhau trong điều kiện phát triển năng lực cũng như cơ hội tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Luật Bình đẳng giới quy định: nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước; hoạt động xã hội, hoạt động hương ước của cộng đồng; bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, vào các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội...


Thể chế kinh tế - xã hội là hệ thống các quy định gồm: Hiến pháp, các luật, quy định, chế định... nhằm hài hòa các quyền, lợi ích và trách nhiệm của mọi công dân, tổ chức trong xã hội. Thể chế được điều chỉnh thích ứng với những thay đổi của chế độ chính trị, có vai trò quyết định đến sự hình thành và hoạt động của cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử của con người. Thể chế chính thức là hệ thống các quy định, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước; thể chế phi chính thức là các dư luận xã hội góp phần hình thành đạo đức, lối sống của con người.


Hiện nay, quan điểm chung của nhiều quốc gia là khuyến khích trao quyền và hỗ trợ phụ nữ tham chính nhiều hơn. Tuy nhiên, tăng quyền năng chính trị cho phụ nữ hướng tới bảo đảm bình đẳng giới vẫn phụ thuộc rất nhiều vào tác động của các yếu tố thể chế trong xã hội. Tác động của thể chế đến thực hiện bình đẳng giới trong chính trị còn được thể hiện ở tỷ lệ đại diện trong bầu cử và chỉ tiêu giới trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý cũng như mức độ dân chủ.


Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã sớm khẳng định vị trí, vai trò và khả năng to lớn của phụ nữ đối với sự tiến bộ của xã hội; đồng thời, cũng chỉ ra nguồn gốc bất bình đẳng giới. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng chỉ ra các điều kiện, biện pháp để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ; coi giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cuộc cách mạng vô sản.


Tuy không có trước tác bàn riêng về vấn đề giải phóng phụ nữ, song những quan điểm mang tính phương pháp luận và lý luận quan trọng của C. Mác, Ph. Ăng-ghen về vị thế của phụ nữ, lao động và việc làm, áp bức phụ nữ, giải pháp giải phóng phụ nữ,... đã được thể hiện trong nhiều tác phẩm của các ông và được đánh giá có tầm ảnh hưởng lớn đến các tiếp cận lý thuyết, tư tưởng về bình đẳng giới. Ngay từ năm 1844, trong Bản thảo kinh tế - triết học, C. Mác lập luận vị trí của phụ nữ trong xã hội có thể được sử dụng như là một thước đo cho sự phát triển của toàn xã hội khi trích dẫn lại luận điểm nổi tiếng của Phu-ri-ê rằng, trong một xã hội nhất định, trình độ giải phóng của phụ nữ là cái th­ước tự nhiên dùng để đo sự giải phóng chung(2). Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và bộ Tư bản, các ông đã đề cập đến địa vị của người phụ nữ và ảnh hưởng của máy móc công nghiệp đến đời sống phụ nữ và gia đình của họ. Các ông khẳng định: Chỉ có thể giải phóng phụ nữ khi người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên quy mô xã hội rộng lớn(3).


Kế thừa quan điểm của C.  Mác và Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đánh giá cao vai trò, tiềm năng của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng. Trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, V.I. Lê-nin khẳng định, “không thể nào xây dựng được ngay cả chế độ dân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội, nếu phụ nữ không tham gia vào công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính trị...”(4). Một yêu cầu được V.I. Lê-nin đưa ra trong xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa là “hủy bỏ mọi sự hạn chế, không loại trừ một sự hạn chế nào đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với các quyền của nam giới... đặc biệt làm cho phụ nữ quan tâm tới chính trị”(5), bởi địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình độ văn minh. Muốn giải phóng con người và hiện thực hóa quyền con người cần phải dựa trên cơ sở sự giải phóng trước hết về chính trị. Do vậy, thực hiện quyền chính trị cho phụ nữ chính là cơ sở để thực hiện các quyền con người khác của phụ nữ.


Trong các thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, một số quốc gia đã đề cập quan điểm Phụ nữ trong phát triển (WID). Quan điểm này đòi hỏi thu hút sự tham gia của phụ nữ với tư cách là người hưởng thụ và thực hiện các mục tiêu phát triển. Tới những năm 90 của thế kỷ XX, quan điểm này nhấn mạnh sự công bằng giới (Gender Equity) và tăng quyền năng cho phụ nữ để đạt đến bình đẳng giới (Gender Equality) và đòi hỏi xem xét vấn đề giới trên tất cả phương diện. Quan điểm Lồng ghép giới (GM) xuất hiện cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đưa vấn đề giới vào tất cả các lĩnh vực, như luật pháp, chính sách, khoa học, giáo dục, kinh tế để tiến tới bình đẳng giới một cách toàn diện.


Phụ nữ lãnh đạo và tham chính là một trong những vấn đề giới nổi bật trong thế kỷ XXI. Theo nhiều nhà khoa học chính trị, lãnh đạo nữ thường đưa ra những quyết định theo định hướng sáng tạo, để tạo ra sự ổn định và phát triển chung cho xã hội. Việc nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ cũng như tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, tham gia lãnh đạo, ra quyết định là điều mà tất cả các quốc gia cần quan tâm, hướng tới trong xu thế phát triển bền vững hiện nay.


Tác động của thể chế đến thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam


Quyền bình đẳng nam nữ đã được xác định ngay từ Hiến pháp đầu tiên (năm 1946). Tại Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện”. Hiến pháp Việt Nam trong những năm tiếp theo tiếp tục phát triển các nội dung của bình đẳng giới nói chung, trong chính trị nói riêng; thể hiện rõ việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Hiến pháp năm 2013 hiến định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14); không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 1, 2, Điều 16); nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26). Cùng với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới, như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Pháp lệnh Dân số,... Hệ thống luật pháp, chính sách về phụ nữ ngày càng được hoàn thiện, quyền của phụ nữ được khẳng định là động lực quan trọng để phát triển xã hội.


Bước vào thời kỳ đổi mới, qua các kỳ Đại hội Đảng và trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, Đảng luôn khẳng định vị thế của phụ nữ Việt Nam. Tiêu biểu như: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12-4-1993, của Bộ Chính trị khóa VIII, Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16-5-1994, của Bộ Chính trị khóa VIII, Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27-4-2007, của Bộ Chính trị khóa X, Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khẳng định: Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.


Trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng”(6); “Hoàn thiện pháp luật chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện. Nghiên cứu sửa đổi Luật Bình đẳng giới, các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, đồng bộ thống nhất, đáp ứng yêu cầu tình hình mới”(7).


Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011 - 2020) xác định bảy mục tiêu về bình đẳng giới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có bình đẳng giới về chính trị. Trong Chỉ tiêu 1, Mục tiêu 1, yêu cầu bảo đảm tỷ lệ nữ đại biểu trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 30% trở lên trong nhiệm kỳ 2016  - 2020, trong các cấp ủy đảng đạt từ 25% trở lên, hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% - 40% trở lên.


Trong các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, mục tiêu bình đẳng giới không ngừng được bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới được hình thành đồng bộ. Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ được thành lập, cùng với Vụ Bình đẳng giới trực thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội được giao nhiệm vụ chủ trì, quản lý lĩnh vực này. Hằng năm, Chính phủ có Báo cáo quốc gia về thực hiện bình đẳng giới.


Với sự tác động tích cực từ các yếu tố thể chế chính thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về thực hiện bình đẳng giới. Sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng. Hệ thống các cơ quan chuyên trách về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ được kiện toàn trên cả nước, đặc biệt Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam - tổ chức chính trị rộng lớn dành cho phụ nữ hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, đã có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức thực hiện bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, phụ nữ đủ tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị. Điều đó góp phần đưa đến chất lượng tham chính của phụ nữ cũng được tăng lên về trình độ và năng lực quản lý.


Chất lượng tham gia của phụ nữ trong các cơ quan Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng có xu hướng tăng qua các nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ Đại hội XII, số nữ trong Ban Chấp hành Trung ương là 17/200 (đạt 8,5%); trong Bộ Chính trị là 3/19 (đạt 15,79%, cao nhất trong các kỳ Đại hội).


Về tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy các cấp, nhiệm kỳ 2016 - 2021: Ở cấp tỉnh, đầu nhiệm kỳ, lần đầu tiên 4/63 tỉnh có bí thư tỉnh ủy là nữ (các tỉnh Ninh Bình, An Giang, Vĩnh Phúc và Yên Bái); đến nay thêm ba nữ bí thư tỉnh ủy (các tỉnh Lai Châu, Lạng Sơn, Hà Nam). Ở cấp huyện, tỷ lệ nữ tham gia ban chấp hành đảng bộ huyện và tương đương bốn nhiệm kỳ gần đây đều tăng: từ 11,68% lên 14,3% (nhiệm kỳ 1995 - 2000 đạt 11,68%; nhiệm kỳ 2000 - 2005 đạt 12,68%; nhiệm kỳ 2010 - 2015 đạt 14,74%; nhiệm kỳ 2015 - 2020 đạt 14,3%). Ở cấp xã, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy cơ sở qua các nhiệm kỳ gần đây tăng nhanh, từ 18% ở nhiệm kỳ 2010 - 2015 lên 21,5% nhiệm kỳ 2015 - 2020(8). Như vậy, nhiệm kỳ này ghi nhận một số đột phá về vị trí chủ chốt mà phụ nữ Việt Nam được giao trong hệ thống Đảng.


Sự tham gia của phụ nữ trong chính trị còn thể hiện ở kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội: Khóa XI (2002 - 2007), phụ nữ chiếm 27,31% trong tổng số đại biểu Quốc hội; khóa XII (2007 - 2011): 25,76%; khóa XIII (2011  - 2016): 24.4%; khóa XIV (2016  - 2021): 26,7%. Đây là tỷ lệ tương đối cao qua các kỳ bầu cử quốc hội và đã đưa Việt Nam thuộc nhóm các nước có tỷ lệ nữ đại biểu trong cơ quan lập pháp cao nhất ở châu Á cũng như trên thế giới (trên 25%)(9).


Trong kỳ bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, ở cả ba cấp, tỷ lệ nữ trúng cử đều tăng: cấp tỉnh/thành phố đạt 26,6%, cấp quận/huyện đạt 27,5%, cấp xã/phường/ thị trấn đạt 26,6% (các con số này ở nhiệm kỳ 2010 - 2015 lần lượt là 25,2%, 24,6% và 21,7%(10)). Đặc biệt, ở một số địa phương, tỷ lệ đạt vượt dự kiến như: Tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đạt 43%, Hội đồng nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội đạt gần 45%(11). Đó là những kết quả ghi nhận của công tác cán bộ nữ và sự tăng tỷ lệ nữ trong chính trị thời gian qua dưới tác động thúc đẩy từ yếu tố thể chế trong xã hội Việt Nam.


Tuy nhiên, mặc dù đã đạt những kết quả rất quan trọng, việc thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam vẫn còn những khó khăn như: Tỷ lệ đảng viên nữ tăng nhưng so với tỷ lệ đảng viên nam vẫn thấp (chiếm khoảng 1/3); nhiệm kỳ 2016 - 2021 mới có 21/63 đảng bộ có tỷ lệ cấp ủy viên nữ. Tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân bốn khóa gần đây đều tăng ở các cấp, song chưa đạt mục tiêu đề ra theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011 - 2020 (35% cho nhiệm kỳ khóa XIV); một số chức danh tăng nhưng không phải ở cấp quyết định, chủ yếu là các chức danh cấp phó. Tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương, chỉ có 2/22 (chiếm 4,55%) nữ bộ trưởng và tương đương trong nhiệm kỳ 2011 - 2016 và giảm xuống còn 1/22 bộ trưởng là nữ tại nhiệm kỳ hiện tại 2016 - 2021; nữ thứ trưởng và tương đương là 11/142 (chiếm 7,7%). Tỷ lệ nữ vụ trưởng và tương đương đạt 7,8%, nữ vụ phó và tương đương đạt 13,4%. Tòa án nhân dân tối cao không có nữ lãnh đạo chủ chốt. Trong khối mặt trận và đoàn thể (trừ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) chỉ có 4/21 cấp phó là nữ, ko có cấp trưởng là nữ ở các cơ quan Trung ương của Mặt trận Tổ quốc(12).  


Nhìn từ chiều cạnh tác động của các thể chế, chúng ta sẽ thấy những rào cản dẫn đến hạn chế sự tham gia của phụ nữ trong chính trị ở nước ta trong thời gian qua xuất phát từ: 1- Rào cản từ khung chính sách: Một số chính sách, quy định có liên quan đến bình đẳng giới chưa phù hợp đã dẫn tới những hạn chế về điều kiện, cơ hội tham gia bình đẳng của phụ nữ, như vấn đề tuổi nghỉ hưu, công tác cán bộ, chính sách nghỉ thai sản, các dịch vụ công hỗ trợ cho phụ nữ làm việc... 2- Rào cản trong công tác cán bộ: Nhiều cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành còn chưa nhận thức đầy đủ công tác cán bộ nữ; gây trở ngại đối với phụ nữ tham gia chính trị; cơ quan có thẩm quyền thiếu quy hoạch, kế hoạch đào tạo, sắp xếp cán bộ nữ. Ở khâu quy hoạch, cán bộ nữ cũng gặp phải những bất lợi, chẳng hạn như thời điểm được quy hoạch rơi vào giai đoạn lập gia đình và sinh con. Thực tế cho thấy, có khoảng trống giữa chính sách và thực thi chính sách đối với cơ hội đào tạo của cán bộ nữ. Một số nghiên cứu ở tuyến tỉnh cho thấy công tác quy hoạch cán bộ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý đa phần vẫn đang được thực hiện thụ động và chưa có hiệu quả(13). 3- Rào cản đến từ các yếu tố văn hóa chính trị, truyền thống, định kiến xã hội, từ chính gia đình và bản thân người phụ nữ. Tất cả những yếu tố đó vẫn tồn tại, rất khó để xóa bỏ và vượt qua đối với xã hội và với chính bản thân người phụ nữ.


Một số khuyến nghị thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới trong chính trị


Để khắc phục những rào cản và hạn chế từ chiều cạnh thể chế trong thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, cần có sự chung tay của cả hệ thống chính trị, quán triệt và triển khai thực hiện đầy đủ, thực chất các quan điểm của Đảng và Nhà nước đề ra. Các nghị quyết, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phụ nữ nói chung, công tác cán bộ nữ nói riêng cần được triển khai ở tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở.


Nâng cao vai trò của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đặc biệt là vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ cũng như các cơ quan, thiết chế xã hội khác nhằm bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và quyền chính trị của phụ nữ ở nước ta. Qua đó, thay đổi nhận thức của toàn hệ thống chính trị và xã hội về vai trò của phụ nữ. Hoàn thiện các yếu tố thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có tác động thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới trong chính trị của phụ nữ. Yếu tố chính trị bao gồm toàn bộ môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quá trình tổ chức thực hiện, tác động tới tất cả các chủ thể chính trị và bản thân mỗi công dân. Yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ tạo cơ sở vật chất, tinh thần, trách nhiệm xã hội trong việc Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ; qua đó giảm khoảng cách giới trên tất cả mọi lĩnh vực, để phụ nữ được trao quyền, ra quyết định ở các cấp lãnh đạo cao hơn. Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và bảo đảm thực hiện những cam kết, tuyên bố và luật pháp quốc tế cũng như luật pháp quốc gia về quyền chính trị của phụ nữ. Bên cạnh đó, cần huy động các nguồn lực và sự tham gia của các cơ quan, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ để triển khai thực hiện thành công các dự án trọng tâm của Chương trình quốc gia về bình đẳng giới. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác bình đẳng giới tại Việt Nam.


Cần rà soát, hoàn thiện chính sách về cán bộ nữ: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về đội ngũ cán bộ ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chính trị của phụ nữ, tạo điều kiện tăng số cán bộ nữ có đủ trình độ và năng lực được giới thiệu vào các vị trí nhân sự lãnh đạo và quản lý. Để khắc phục những rào cản, định kiến xã hội, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức bình đẳng giới trong chính trị cho các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng nhân dân. Bản thân phụ nữ, nhất là phụ nữ ở các vùng nông thôn, dân tộc thiểu số, còn thiếu tự tin và ít được gia đình ủng hộ, do vậy cần giúp phụ nữ khắc phục, vượt qua tâm lý mặc cảm, tự ti, mạnh dạn phát huy thế mạnh của bản thân. Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân cần tiến hành theo nhiều hình thức, từ giáo dục đến việc thông qua những sinh hoạt cộng đồng và phải được tiến hành thường xuyên ở mọi cấp, ngành, địa phương./.


Tạp chí Cộng sản

 PHÁT HUY TÍNH TIÊN PHONG, GƯƠNG MẪU CỦA ĐẢNG VIÊN


Là người sáng lập và lãnh đạo Ðảng Cộng sản Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên, bởi đảng viên có tiên phong, đi đầu thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước thì mới nêu gương được cho nhân dân học tập và noi theo, có như thế mới làm nên thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Ðảng ta đặc biệt đề cao vai trò tiên phong, gương mẫu của người đảng viên và coi đây là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội giàu mạnh, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trong bối cảnh mới với những yêu cầu mới đặt ra.


Nhằm cụ thể hóa các quan điểm của Ðảng trong các văn kiện về tăng cường tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trên mọi phương diện, ngày 7/6/2012, Ban Bí thư Trung ương Ðảng đã ban hành Quy định số 101-QÐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, trong đó chỉ rõ: cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của Ðảng, Nhà nước và của nhân dân.


Ðến ngày 25/10/2018, Ban Bí thư Trung ương Ðảng tiếp tục ban hành Quy định số 08-QÐi/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, trong đó có một số điểm bổ sung, cụ thể hóa hơn Quy định số 101-QÐ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên với yêu cầu cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu nêu gương.


Mới đây, ngày 9/5/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QÐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, quy định thể hiện quyết tâm của Ðảng ta trong quá trình xây dựng và chỉnh đốn Ðảng để Ðảng ta thật sự vững mạnh, vai trò nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng được đề cao.


Từ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Ðảng, ý thức về việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ đảng viên ngày càng được nâng cao. Ða số cán bộ, đảng viên vẫn luôn giữ vững được tư cách của người đảng viên cộng sản trong bối cảnh mới, luôn tiên phong, gương mẫu đi đầu trong công tác cũng như trong đời sống, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương.


Xuất phát từ vị trí công tác gắn với những yêu cầu và những nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,… đã có nhiều đảng viên trở thành tấm gương sáng, những điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực, có sức lan tỏa lớn trong nhân dân. Tiêu biểu như trong phát triển kinh tế, đã xuất hiện nhiều tấm gương đảng viên tiên phong, đi đầu áp dụng các mô hình phát triển kinh tế mới, vận động người dân làm theo từ đó thúc đẩy kinh tế địa phương, giúp nhân dân thoát nghèo bền vững.


Như tại Thanh Hóa, đảng viên Lê Văn Dũng (thị trấn Vân Du, huyện Thạch Thành) đã tiên phong trong thực hiện mô hình trang trại tổng hợp trồng cây ăn quả kết hợp với chăn nuôi và đào ao thả cá phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của vùng trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học-kỹ thuật hiện đại, đem lại hiệu quả kinh tế cao, từ đó trở thành mô hình kinh tế của đảng viên có hiệu quả và tạo được sức lan tỏa lớn trong nhân dân.


Còn tại xã Ia Piar, một trong những xã đặc biệt khó khăn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai với gần 2.000 hộ dân hầu hết đều là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ sản xuất thấp, cuộc sống vô cùng khó khăn. Nhận thức được tình hình thực tiễn của địa phương cũng như vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong phát triển kinh tế, giúp đỡ nhân dân, từ cuối năm 2016, Ðảng ủy xã Ia Piar đã triển khai phong trào “Một đảng viên giúp đỡ một hộ nghèo”.


Hoặc trên lĩnh vực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc; bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng của cán bộ, đảng viên luôn chủ động phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu với tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.


Nhiều đảng viên đã tích cực sử dụng các trang mạng xã hội vừa để nắm bắt thông tin dư luận xã hội, diễn biến tư tưởng của cộng đồng dân cư vừa để kịp thời tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước cũng như góp phần định hướng cho người dân sử dụng mạng xã hội trong việc tiếp cận, nhận diện, xử lý và đấu tranh chống các thông tin xấu độc, sai trái, thù địch. Những cá nhân này đã trở thành tấm gương sáng về việc sử dụng mạng xã hội một cách linh hoạt, sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.


Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn chúng ta đạt được sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng mà Văn kiện Ðại hội XIII đã chỉ rõ: “Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ đảng viên luôn phát huy tính tiên phong, gương mẫu đi đầu của mình trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực, trong công tác cũng như trong cuộc sống, hết lòng, hết sức phấn đấu, rèn luyện để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân tin yêu và noi theo. Ðiều đó đã góp phần nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong xã hội và đời sống hằng ngày.


Thực tế sinh động này là minh chứng rõ ràng bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động cho rằng việc nêu gương, tiên phong, gương mẫu đi đầu của đảng viên chỉ là chiêu bài để Ðảng đánh bóng tên tuổi của mình, lòe bịp quần chúng chứ về thực chất thì Ðảng là tổ chức “làm quan phát tài”, là nơi chứa chấp các phần tử chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ mà xâm hại đến lợi ích của nhân dân. Hoặc lợi dụng hiện tượng một số đảng viên có những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham ô, tham nhũng, không thực hiện trách nhiệm nêu gương của những người cộng sản chân chính, các đối tượng chống phá cố tình phủ nhận tất cả những thành quả mà cách mạng Việt Nam đạt được. Những luận điệu này nhằm bác bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng, phủ nhận sự đóng góp của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cố tình làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.


Tuy nhiên, cần nhận thức rõ: Ðây chỉ là những trường hợp cá biệt, là những “con sâu làm rầu nồi canh” do không nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình với Ðảng, với nhân dân, hoặc do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng mà trượt dài sang chủ nghĩa cá nhân, cơ hội và xếp mình vào hàng ngũ của những kẻ phản bội lại lý tưởng chân chính của Ðảng, của người cán bộ, đảng viên.


Ðể khắc phục tình trạng trên, đồng thời phát huy tốt hơn nữa tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nêu gương sáng cho quần chúng nhân dân, trong thời gian tới đòi hỏi cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho mỗi đảng viên về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Khi đã có nhận thức đúng và đủ, mỗi đảng viên sẽ chủ động tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ, phẩm chất về mọi mặt, tích cực tiên phong, gương mẫu đi đầu trong phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những cách làm hay, sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới, từ đó trở thành những tấm gương tiêu biểu để nhân dân noi theo.


Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Ðảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt là tăng cường thực hiện thực chất, hiệu quả Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về tinh thần nêu gương; cách thức thực hiện và phong cách nêu gương với quan điểm nhất quán: Cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân, cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới.


Ðồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm những đảng viên mắc sai phạm, khuyết điểm trong thực hiện trách nhiệm nêu gương; có cơ chế khen thưởng xứng đáng với những đảng viên phát huy tính tiên phong, gương mẫu đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích của nhân dân, của đất nước, trở thành những điển hình tiên tiến, tạo sức lan tỏa lớn trong quần chúng nhân dân./.


Báo Khánh Hoà

 XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức; xác định đội ngũ trí thức Việt Nam là một trong những lực lượng nòng nốt để xây dựng, phát triển đất nước. Bài viết phân tích một số nội dung chính của tư tưởng Hồ Chí Minh về đội ngũ trí thức và một số giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 45-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức. 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam 


Thứ nhất, đội ngũ trí thức có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.


Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”. Tri thức được đưa vào thực tế là công cụ tư liệu lao động trực tiếp. Lao động với tư liệu lao động là tri thức trở thành một tiêu chí quan trọng để phân biệt lao động trí thức với các loại lao động khác. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của trí thức: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”. Người khẳng định: “Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”. 


Từ những ngày đầu xây dựng và tổ chức lực lượng cách mạng, khi đến Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã tìm đến Tâm tâm xã - một tổ chức yêu nước và tiến bộ của những thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và chuẩn bị lực lượng nòng cốt tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đưa ra sáng kiến thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh ngày 19/5/1941 (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) nhằm đoàn kết toàn thể quần chúng nhân dân, trong đó có đội ngũ trí thức. Khi xác định thành phần lực lượng cách mạng là khối liên minh giai cấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trí thức có vai trò quan trọng trong khối liên minh đó: “Lực lượng chủ chốt của cách mạng là công nhân và nông dân. Vì họ là người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết, mà cũng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn, bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác. Nhưng cách mạng cũng cần có lực lượng của trí thức”. 


Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thử thách. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, trí thức chính là những người có tầm hiểu biết cao hơn so với mặt bằng chung của các tầng lớp, giai cấp khác của dân tộc: “Trí thức là lớp tiên tri tiên giác”. Vì vậy, trong lúc này, trí thức phải có trách nhiệm đối với việc khai mở dân trí, chấn dân khí. Đó là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn này, bởi vì “giặc dốt” cũng nguy hại như giặc ngoại xâm. Người chỉ rõ: “Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến đến chủ nghĩa xã hội”. 


Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo nhiều đại hội, hội nghị của trí thức Việt Nam, khẳng định vị trí, vai trò và những khả năng, cống hiến to lớn của đội ngũ trí thức cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”. Với những chủ trương, chính sách đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, nhiều trí thức đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc giành được thắng lợi to lớn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng đất nước. 


Thứ hai, quan tâm chăm lo đào tạo và rèn luyện đội ngũ trí thức toàn diện về cả đức và tài.


Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp cách mạng mà còn luôn quan tâm đào tạo và rèn luyện đội ngũ trí thức để họ nhận thức rõ trách nhiệm, luôn sẵn sàng gương mẫu, đi đầu, dùng tài năng và sức lực của mình để tuyên truyền, phát động phong trào thi đua, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước: “Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang, là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa, để làm gương cho nhân dân”.


Người cho rằng, muốn xây dựng được đội ngũ trí thức có chất lượng, đòi hỏi công tác đào tạo phải được đặt lên hàng đầu: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài năng”. Để đào tạo được đội ngũ trí thức, Người yêu cầu phải lựa chọn được những con người ưu tú nhất trong hàng ngũ những người trẻ tuổi: “Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.


Đào tạo đội ngũ trí thức mới, cải tạo trí thức cũ cho cách mạng, trí thức cần gần gũi công - nông và học tập tinh thần, nghị lực và sáng kiến của công - nông: “Đào tạo trí thức mới. Cải tạo trí thức cũ. Công nông trí thức hóa. Trí thức công nông hóa”. Cho nên, trí thức có trình độ chuyên môn cũng luôn phải gần gũi với nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Với người trí thức mới, tài phải đi đôi với đức, trong đó đức là gốc, bởi vì: “Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Người thiếu đạo đức thì dù có trình độ học vấn, có bằng cấp, học hàm, học vị cao đến mấy cũng chỉ được coi là người làm việc trí óc, chứ chưa thể gọi là trí thức. Để trở thành trí thức thì phải có tài và có đức, việc giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức phải xác định vừa giáo dục nghề nghiệp, tài năng, vừa giáo dục phẩm chất đạo đức, lý tưởng cách mạng; trí thức phải đem tri thức của mình phục vụ cho nhân dân và đất nước.


Bên cạnh việc khẳng định những cống hiến, hy sinh của đội ngũ trí thức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế mà giới trí thức thường mắc phải, như bệnh kiêu căng, tự phụ, khinh thường người khác, khinh lao động chân tay, ngại khó nhọc. Từ đó, Người khuyên răn: “Trí thức là hiểu biết” nên “những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế”. 


Thứ ba, coi trọng, tin tưởng và sử dụng đội ngũ trí thức.


Coi trọng, tin tưởng và sử dụng đội ngũ trí thức là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cho rằng, sử dụng trí thức phải thực sự xuất phát từ lòng tin tưởng và kính trọng thì mới phát huy tối đa tài năng của họ, chứ không phải mang lại cho họ lợi ích hay công danh cá nhân. Phải coi trọng việc sử dụng trí thức vào từng công việc cụ thể, phải có chính sách chiêu người hiền tài ra giúp đất nước: “Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Khéo lựa chọn, khéo dùng người tài phải dựa trên cơ sở những tiêu chí nhất định, phải biết đặt người tài vào đúng chỗ, đúng lúc để họ có môi trường phát huy tài năng. Đồng thời, thực sự tin tưởng họ - lòng tin là động lực to lớn thúc đẩy trí thức cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp của Đảng và cách mạng.


Tiếp tục xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Một là, nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ trí thức.


Sức mạnh ở mỗi quốc gia được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó trí tuệ ở nguồn nhân lực đang trở thành nguồn lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 45-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức tiếp tục khẳng định: “Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; giàu lòng yêu nước, có đạo đức và lý tưởng cách mạng, gắn bó với Đảng, Nhà nước và dân tộc; là lực lượng có vai trò quan trọng trong liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”(15). Với việc đưa ra quan niệm và chỉ ra những đặc trưng cơ bản của đội ngũ trí thức, Đảng ta đã thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược khi định vị một cách rõ ràng về đội ngũ trí thức và vai trò của họ trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. 


Khác với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Đội ngũ trí thức Việt Nam không chỉ trực tiếp đề xuất các luận cứ khoa học làm cơ sở cho các quyết sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về con đường, mô hình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà còn là lực lượng trực tiếp, có trách nhiệm tiên phong, tạo ra sản phẩm tinh thần, vật chất có chất lượng, hàm lượng khoa học cao cho xã hội. Họ trở thành là nguồn lực đặc biệt trong phát triển nền kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, đội ngũ trí thức còn là những người trực tiếp đề xuất, góp ý, biên soạn chương trình, nội dung giáo dục các cấp; trực tiếp truyền đạt, giáo dục, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 


Hai là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức. 


Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, tổ chức, sắp xếp lại hệ thống giáo dục, nhất là giáo dục đại học: “Tạo đột phá, chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài trong các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học”.


Thực hiện tốt cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ; coi trọng đào tạo đại học và trên đại học theo chuẩn quốc tế. Đổi mới chương trình, nội dung đào tạo đại học theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực và phù hợp. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm của nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam; tiếp tục gửi sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập, đào tạo, bồi dưỡng. 


Ba là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách trong trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ trí thức thực sự có đức, có tài. 


Trọng dụng đội ngũ trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Đề cao đạo đức, trách nhiệm của trí thức trong hoạt động khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, văn học và nghệ thuật. Nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ tạo điều kiện cho các nhà khoa học, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ mũi nhọn được tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm, phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới có khả năng cạnh tranh quốc tế. Đổi mới công tác quản lý khoa học và công nghệ; chú trọng hỗ trợ thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tiếp thu và truyền bá tri thức tiên tiến. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, các cơ sở giáo dục đại học trong việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo và các chức danh khoa học.


Ưu tiên nguồn lực từ ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực xã hội, nguồn lực nước ngoài đầu tư phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, các quỹ đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi cho trí thức làm việc, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với hoạt động của đội ngũ trí thức. Nghiên cứu, sửa đổi tuổi lao động phù hợp với hoạt động của đội ngũ trí thức và có chính sách động viên, khuyến khích đội ngũ trí thức tích cực tham gia đóng góp ý kiến tư vấn, phản biện xã hội đối với việc hoạch định chính sách, xây dựng và triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, công trình, dự án quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước.


Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh xứng đáng, kịp thời đối với đội ngũ trí thức là động lực quan trọng để kích thích lao động sáng tạo, cũng như tạo điều kiện cho đội ngũ trí thức tích cực, chủ động nâng cao trình độ, năng lực của bản thân. Bên cạnh đó, cần tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và các thu nhập khác, các phương tiện sinh hoạt và làm việc nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, điều kiện làm việc, nghiên cứu... Đây chính là những động lực thúc đẩy đội ngũ trí thức không ngừng phát huy tính tích cực, sáng tạo để đóng góp tài năng, trí tuệ cho sự phát triển của đất nước và xã hội trong giai đoạn hội nhập và phát triển./.


Tạp Chí Tổ Chức Nhà Nước