Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

Phòng, chống "diễn biến hòa bình": Đừng yêu nước kiểu mù quáng.

 

Tranh thủ cuối tuần về thăm nhà sau những ngày dài miệt mài học tập trên phố, Phương rất háo hức. Nhưng vừa bước chân qua cổng thì thấy bà Loan đặt tờ báo xuống hiên nhà, buông tiếng thở dài não nề.

“Mẹ ơi, có chuyện gì với nhà mình à? Sao mẹ buồn vậy?”, Phương hỏi mẹ.

- Con có biết tin hai mẹ con bà Ngọc ngõ trên nhà mình vừa bị bắt vì tội chống phá Nhà nước không? Mẹ thấy buồn quá!

- Con chỉ nghe loáng thoáng. Con cũng định về nhà tìm hiểu cho rõ ngọn ngành vì sự việc gần ngay nhà mình.

- Mẹ cái Duyên đó, trước nay là người hiền lành. Chẳng hiểu vì sao nghe lời con gái, mê muội tham gia tổ chức phản động chống phá Nhà nước nên cả hai mẹ con đều bị công an bắt rồi.

Đúng lúc đó thì ông Sáu, Tổ trưởng tổ dân phố bước vào cất lời: “Chào bà Loan. Bà đang nói chuyện về mẹ con bà Ngọc ngõ trên phải không?”

- Vâng, ông Sáu. Ông biết chuyện thế nào nói tôi nghe với.

- Mấy năm vừa rồi, Duyên con bà Ngọc bị kẻ xấu dụ dỗ tham gia tổ chức phản động chống phá Nhà nước, bêu xấu lãnh đạo. Những việc làm sai trái đó được ngụy biện là lòng yêu nước chân chính. Từng bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhắc nhở, nhưng Duyên không tỉnh ngộ. Đáng buồn hơn, Duyên còn lôi kéo chính mẹ mình tham gia.

“Chú Sáu ơi, tội nghiêm trọng đến thế sao?”, Phương hỏi ông Sáu.

- Do thiếu hiểu biết, khi tham gia vào các tổ chức phản động, họ đã gieo rắc tư tưởng hận thù, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo và làm mất đi niềm tin của quần chúng vào chính quyền nhân dân. Những hành động đó đe dọa đến an ninh quốc gia, phá hoại sự đoàn kết của dân tộc ta. Mà pháp luật thì nghiêm minh, không ai có thể đứng ngoài pháp luật được.

- Vậy chúng ta phải làm gì để không mắc bẫy kẻ xấu?

- Điều quan trọng nhất là phải có hiểu biết và luôn tỉnh táo trước các luồng thông tin. Bất cứ ai có biểu hiện lôi kéo hoặc bị lôi kéo tham gia các hoạt động sai trái, cần báo ngay cho cấp ủy, chính quyền địa phương để giáo dục, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Hơn hết, mỗi người dân phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý, điều hành của Nhà nước, cùng nhau đoàn kết xây dựng cộng đồng vững mạnh.

Nghe ông Sáu nói, bà Loan hưởng ứng: “Ông nói phải đó. Chúng ta cần sáng suốt. Dù có chuyện gì cũng không tin theo những lời dụ dỗ của kẻ xấu mà hành động sai trái. Phương học trên phố, nhiều thông tin nhiễu loạn, nhất là trên mạng xã hội. Con phải nhớ kỹ điều đó nhé”.

“Vâng, con biết rồi ạ. Con sẽ chia sẻ với bạn bè để mọi người cùng cảnh giác, không mắc bẫy thế lực thù địch ạ”, Phương đáp lời mẹ.

Đại tướng Phan Văn Giang chỉ đạo thực binh diễn tập khu vực phòng thủ TP Hà Nội.

 

Sáng 2-10, tại Trường bắn Quốc gia khu vực 1 (TB1), Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo diễn tập, dự và chỉ đạo tiến hành nội dung thực binh trong Diễn tập Khu vực phòng thủ TP Hà Nội năm 2024 (HN-24).

Dự khai mạc diễn tập có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Đào Ngọc Dung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Huỳnh Thành Đạt, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Cùng dự có đại biểu thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương và TP Hà nội.

Diễn tập thực binh bắn chiến đấu với đề mục “Trung đoàn bộ binh được tăng cường binh khí kỹ thuật tiến công địch lâm thời phòng ngự” đồng thời diễn ra tại các địa điểm: Trường bắn Quốc gia khu vực 1, Trường bắn Hòa Thạch, Trường bắn Đồng Doi và Trường bắn Xuân Bảng.

Phần thực binh diễn tập diễn ra qua 3 giai đoạn, có sự hiệp đồng quân, binh chủng với nhiều hình thức tác chiến, sử dụng nhiều loại vũ khí, trang bị, kỹ thuật hiện đại do Quân đội chế tạo, cải tiến, sản xuất; sử dụng ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, truyền hình ảnh trực tiếp trong quá trình diễn tập.

Thành phố Hà Nội nằm trong thế trận phòng thủ chung của cả nước, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nên thời gian qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, thành phố Hà Nội chỉ đạo sát sao việc tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ thành phố Hà Nội năm 2024. Đây là cuộc diễn tập rất quan trọng, nhằm tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả Kết luận số 64 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28 về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; Nghị quyết số 44 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và các văn bản hướng dẫn về xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ.

Diễn tập lần này của thành phố Hà Nội có nhiều điểm mới. Đặc biệt, lần đầu tiên có 28 đầu mối ban, bộ, ngành cùng tham gia Ban Chỉ đạo diễn tập, chỉ đạo thành phố Hà Nội tiến hành diễn tập, thể hiện sự quan tâm rất lớn của các ban, bộ, ngành, địa phương đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Cuộc diễn tập có sự tham gia của nhiều thành phần, lực lượng.

Diễn tập khu vực phòng thủ thành phố Hà Nội năm 2024 là một trong những nhiệm vụ chính trị, có ý nghĩa rất quan trọng trong năm 2024 của Thành phố, thiết thực kỷ niệm 70 năm Ngày giải phóng Thủ đô, 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân.

Phát biểu sau khi kết thúc diễn tập thực binh, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương, ghi nhận sự nỗ lực cố gắng của các lực lượng tham gia diễn tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Các lực lượng, quân chủng, binh chủng và đặc biệt là hành động của bộ binh trên chiến trường được phối hợp nhuần nhuyễn, thể hiện có sự luyện tập tốt; quá trình thực hành bắn chiến đấu bảo đảm an toàn tuyệt đối trên tất cả các thao trường.

Bộ trưởng Phan Văn Giang khẳng định, thành phố Hà Nội đã có cuộc diễn tập rất thành công. Nhiệt liệt chúc mừng những kết quả đạt được, đồng thời đồng chí Bộ trưởng yêu cầu sau diễn tập, các cơ quan, đơn vị rút kinh nghiệm, tổ chức tổng kết khen thưởng, đặc biệt chú ý kiểm tra hệ thống vũ khí, trang bị; cơ động về đơn vị tiếp tục kiểm tra tình trạng kỹ thuật, thực hiện bảo quản, bảo dưỡng vũ khí trang bị đúng quy định, bảo đảm an toàn tuyệt đối.


VẠCH TRẦN NHỮNG CHIÊU TRÒ, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐẶC XÁ

 Đặc xá là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước, thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo của dân tộc ta đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.

Tuy nhiên, lợi dụng quá trình xét đặc xá, các đối tượng xấu đã lèo lái dư luận, móc nối với các đối tượng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Trang facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân đưa ra nhiều thông tin tiêu cực, cho rằng "Nhà nước diễn kịch trong xét đặc xá cho phạm nhân"; "đặc xá chỉ là trò mị dân" hay "cứ nộp tiền sẽ được đặc xá"; thậm chí xuyên tạc Nhà nước Việt Nam "cưỡng bức đặc xá" hay cho rằng hành động đặc xá “là món quà” trong công tác ngoại giao,…

Phải nói đây là những lời bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn. Đặc xá là một trong những chế định pháp lý quan trọng, được quy định trong Hiến pháp và đồng thời được thể chế hoá tại Luật Đặc xá 2018, Luật thi hành án hình sự 2019 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Quy trình xét đặc xá cũng được quy định rất chặt chẽ, cụ thể: Sau khi Chủ tịch nước ký ban hành Quyết định về đặc xá, Văn phòng Chủ tịch nước sẽ phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao tổ chức họp báo công bố công khai quyết định này. Để bảo đảm công tác đặc xá được thực hiện dân chủ, công bằng, khách quan, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện. Cùng với đó, để tăng cường tính công khai, minh bạch trong xét đặc xá, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí đưa tin đầy đủ các nội dung liên quan đến công tác đặc xá giúp mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là các phạm nhân có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét đặc xá,... để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đặc xá là chính sách khoan hồng đặc biệt của Nhà nước. Nhờ đặc xá, hàng chục nghìn người đã hưởng niềm vui khoan hồng, trở về đoàn tụ với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành người có ích cho xã hội. Không chỉ có ý nghĩa với người được hưởng đặc xá, chính sách đặc xá của Đảng và Nhà nước còn góp phần khuyến khích, tạo động lực cho những phạm nhân đang chấp hành án phạt quyết tâm cải tạo để hoàn lương, để có cơ hội được hưởng đặc xá, sớm về đoàn tụ với gia đình và cộng đồng bởi điều kiện tiên quyết đầu tiên được nhấn mạnh để có thể hưởng đặc xá luôn là “Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự”.

Trên đây là những minh chứng rõ ràng về tính nhân văn, khách quan, công minh trong xét đặc xá, phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác đặc xá mà các thế lực thù địch, phản động đang cố tình bôi nhọ, xuyên tạc. Không có chuyện "Nhà nước diễn kịch trong xét đặc xá "; "đặc xá chỉ là trò mị dân" hay "cứ nộp tiền sẽ được đặc xá" như các đối tượng nói.

Chúng ta cần nhận thức rằng các hoạt động xuyên tạc, vu cáo trên thực chất là phương thức, thủ đoạn thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội. Vì vậy mỗi người dân cần tỉnh táo, cảnh giác, tin tưởng vào chính sách của Đảng và Nhà nước.

 

ẢO VỌNG CỦA TỔ CHỨC VIỆT TÂN

 Việt Tân tự coi mình là một lực lượng chính nghĩa với “ảo vọng” can tân nước Việt Nam nhưng thực tế lại làm tổn hại đến lợi ích chung của dân tộc. Sự ổn định và phát triển của Việt Nam chỉ có thể đạt được thông qua các giải pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp và sự đoàn kết toàn dân, chứ không phải qua các hành động kích động bạo loạn và lật đổ chính quyền.

Trong bài viết mới nhất của tổ chức Việt Tân "Tại sao CSVN e ngại Việt Tân?" họ tự khẳng định vai trò và sức mạnh của mình, đồng thời cáo buộc chính quyền Việt Nam đang sử dụng những thủ đoạn nhằm triệt hạ uy tín của tổ chức. Tuy nhiên, những lập luận của họ cần được phân tích và phản bác dựa trên thực tế khách quan và chính sách hiện hành của Nhà nước Việt Nam.

1. Vai trò và ảnh hưởng của Việt Tân trong nước

Việt Tân cho rằng họ là một tổ chức có sức ảnh hưởng lớn đối với phong trào dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, bất chấp việc bị cáo buộc là tổ chức khủng bố. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các hoạt động kích động, tuyên truyền và tổ chức biểu tình của Việt Tân không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn gây tổn hại về kinh tế, bất ổn xã hội, gây hoang mang trong dư luận.

2. Thủ đoạn khủng bố trá hình

Một trong những cáo buộc chính của Việt Nam đối với Việt Tân là tổ chức này lợi dụng danh nghĩa "đấu tranh dân chủ" để thực hiện các hành vi khủng bố và kích động bạo lực. Thay vì thúc đẩy các hoạt động hòa bình và xây dựng, Việt Tân đã liên tục kêu gọi người dân biểu tình, gây rối trật tự công cộng và thậm chí là tiến hành những vụ bạo loạn. Những hành động này không những không cải thiện tình hình mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho người dân và đất nước.

3. Đánh lừa dư luận quốc tế

Việt Tân luôn tận dụng các diễn đàn quốc tế để lên án và chỉ trích chính quyền Việt Nam về vấn đề nhân quyền, tạo ra cái nhìn sai lệch về tình hình chính trị trong nước. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những cáo buộc này chỉ là chiêu bài chính trị nhằm thu hút sự ủng hộ từ các quốc gia phương Tây, nơi mà các quy chuẩn về nhân quyền và dân chủ không hoàn toàn phù hợp với tình hình phát triển đặc thù của Việt Nam. Trong khi đó, chính quyền Việt Nam đã liên tục cải thiện hệ thống pháp luật và chính sách, đảm bảo quyền tự do ngôn luận và các quyền con người trong khuôn khổ pháp luật.

4. Lợi dụng người dân và gây chia rẽ

Một trong những chiến thuật của Việt Tân là kích động người dân tham gia vào các hoạt động gây rối dưới danh nghĩa "yêu nước", trong khi thực chất họ đang lợi dụng lòng yêu nước để đạt được mục tiêu chính trị riêng. Những cá nhân tham gia vào các hoạt động của Việt Tân thường không nhận thức rõ được hậu quả, dẫn đến việc bị pháp luật xử lý. Chính quyền không nhằm mục tiêu triệt hạ các phong trào yêu nước, mà là ngăn chặn các tổ chức lợi dụng sự nhiệt tình của người dân để gây bất ổn và chia rẽ đất nước.

Kết luận

Việt Tân, với những hành động tuyên truyền sai lệch và thủ đoạn kích động bạo lực, không phải là một tổ chức vì lợi ích của dân tộc. Dù mang danh nghĩa đấu tranh cho dân chủ, tổ chức này đã nhiều lần vi phạm pháp luật, gây hại cho an ninh quốc gia và ổn định xã hội. Thay vì đóng góp cho sự phát triển của đất nước, Việt Tân chỉ tạo ra sự hỗn loạn và chia rẽ trong xã hội Việt Nam. Việt Tân không đại diện cho mong muốn chính đáng của người dân Việt Nam về một đất nước ổn định, phát triển và hòa bình.

Người dân trong và ngoài nước cần tỉnh táo và có cái nhìn khách quan về các hoạt động chống phá đất nước của tổ chức Việt Tân. Đảng chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ luôn kiên quyết đấu tranh với bất kỳ tổ chức nào làm phương hại đến sự phát triển của đất nước và sự ổn định xã hội như tổ chức Việt Tân./.

 

ĐẬP TAN NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN TRANH TÂM LÝ THỜI KỲ MỚI

 Chiến tranh tâm lý là các hoạt động phá hoại tâm lý của đối phương; các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương, nhằm tạo ra những xung đột tư tưởng, lý tưởng, niềm tin, lợi ích và quyền lợi chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị văn hóa... Từ đó gây ra mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến rồi tự suy sụp, tan rã.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục sử dụng chiến tranh tâm lý với phương thức và thủ đoạn được “nâng cấp”, trong đó lợi dụng công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh với thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là việc làm rất cần thiết.

Sự nguy hại từ âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý.

Trong thời bình, các thế lực thù địch thường coi chiến tranh tâm lý là “vũ khí chiến lược” hòng làm thay đổi sắc thái hòa bình, khiến cho hòa bình chính trị mất đi tính chất yên ổn, từ đó thừa cơ thực hiện tham vọng đen tối. Lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, chiến tranh tâm lý trong thời bình mang những màu sắc tinh vi, khó nhận diện cho đến khi nó xuất hiện trên cả không gian thực và không gian ảo. Do đó, nguy cơ tác động từ chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch đến tư tưởng, tâm lý con người là rất khó kiểm soát.

Công cụ, lực lượng trực tiếp và chủ yếu tiến hành chiến tranh tâm lý là các cơ quan tình báo, các trung tâm truyền thông đại chúng, tổ chức phi chính phủ của một số quốc gia. Ngoài ra, cũng có một số người Việt Nam lưu vong cũng tham gia hành động này. Hoạt động tuyên truyền chiến tranh tâm lý đối với các tầng lớp nhân dân thông qua việc chuyển và tán phát tài liệu chống đối trong nước; tác động, lôi kéo phát triển lực lượng nội địa, xâm nhập vào hệ thống chính trị của ta. Theo thống kê của cơ quan chức năng, mỗi năm ta đã phát hiện hàng nghìn tài liệu có nội dung chiến tranh tâm lý, tài liệu tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước được tán phát vào Việt Nam.

Các đối tượng còn lập ra và sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các báo, tạp chí điện tử có trụ sở ở nước ngoài để tuyên truyền chiến tranh tâm lý. Họ thường xuyện lợi dụng các phương tiện truyền thông này để đưa nhiều nội dung thông tin xuyên tạc về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước hòng gây bất lợi đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Thi thoảng họ phát động những chiến dịch nhằm thổi phồng những khó khăn phức tạp trong xã hội; xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động tâm lý bất bình, bất mãn trong xã hội hòng lôi kéo quần chúng nhân dân vào các hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước ta.

Tạo sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh

Phòng, chống chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là vấn đề khó khăn, phức tạp. Trên thực tế hiện nay, còn không ít người đang mơ hồ về chiến tranh tâm lý. Một bộ phận người dân do nhận thức hạn chế nên không nhận diện được các thủ đoạn chiến tranh tâm lý; thậm chí một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người đã được rèn luyện, thử thách qua các thời kỳ cách mạng, song do chủ quan, mất cảnh giác trong nhận thức nên đã “sập bẫy” chiến tranh tâm lý và vô hình trung trở thành người cổ xúy cho các thế lực chống phá Đảng, Nhà nước.

Do vậy, để các tầng lớp nhân dân có nhận thức tốt hơn về chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở phải chủ động tuyên truyền, trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những hiểu biết cơ bản về phương thức, thủ đoạn, kỹ thuật tiến hành chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Đây là cơ sở, yêu cầu hàng đầu nhằm góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch.

Cần phải đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng thiết lập và sử dụng các trang thông tin chính thống, website, mạng xã hội, diễn đàn để đăng tải những bài viết tuyên truyền về quan điểm chính thống, định hướng dư luận, đồng thời đấu tranh phản bác các thông tin chiến tranh tâm lý nguy hại của các thế lực thù địch. Xây dựng và mở rộng đội ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh phản bác với luận cứ khoa học, có tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông của Đảng, Nhà nước để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả.

Chủ động cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trong mặt trận đấu tranh tâm lý. Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước, các cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Việc chậm trễ cung cấp thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định hướng dư luận chính là tự tạo ra "khoảng trống" thông tin, là mầm mống nảy sinh những biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng trong xã hội; ở mức độ đơn giản là nảy sinh những đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp.

Làm tốt một số nội dung chủ yếu nêu trên chắc chắn sẽ tạo ra hiệu quả trong phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch, phản động hiện nay./.

 

TẤM GƯƠNG HỌC TẬP SUỐT ĐỜI CỦA DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ HỮU TRÁC

 Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724 - 1791), nguyên quán thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên); quê mẹ ở xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông không chỉ là một nhà y dược học vĩ đại mà còn là nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần nhân đạo sâu sắc. Sau khi mất, ông được nhân dân và giới y học cả nước suy tôn là bậc "Y thánh của Việt Nam". Cuộc đời và sự nghiệp của ông được kết tinh bởi tri thức uyên thâm, tư tưởng tiến bộ, đạo đức trong sáng, thể hiện qua những tác phẩm đồ sộ mà giá trị còn mãi đến ngày nay. Ông đã để lại cho hậu thế một tàng thư y học, một tấm gương sáng về y đạo, y đức, y lý, y thuật vô giá trong di sản văn hoá Việt Nam và được coi là ông tổ của ngành y học cổ truyền Việt Nam.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sinh ra trong một gia đình quyền quý dòng dõi nối đời khoa mục thời Lê Trung Hưng có đến bảy người cha, con, ông, cháu, đỗ tiến sĩ và làm quan đại thần. Từ nhỏ, ông sớm được theo cha là tiến sỹ, thị lang Bộ Công triều Lê Hữu Mưu học tập ở kinh thành Thăng Long, nổi tiếng là cậu học trò thông minh, học giỏi, hiểu rộng, thơ hay. Đến năm Kỷ Mùi (1739), Lê Hữu Trác 15 tuổi thì cha mất, phải thôi học, về nhà tiếp tục đọc sách, thi vào tam trường rồi theo học binh thư, mang chí làm quan, lập công danh lớn. Sau đó ông được sung vào quân đội chúa Trịnh.

Với chí khí thanh cao, cương trực, khẳng khái, chán ghét phải chứng kiến những rối ren, ngang trái của xã hội, ông đã sớm từ bỏ mộng công hầu. Sau một thời gian tham gia việc quân chính, viện cớ anh trai qua đời, phải phụng dưỡng mẹ, ông xin về quê mẹ ở ẩn. Trong bối cảnh bấy giờ nổi lên xu hướng tư tưởng cầu danh lợi, thăng quan làm tướng, rẻ rúng nghề y, Lê Hữu Trác đã lội ngược dòng thời cuộc. Ông vứt bỏ mọi danh lợi, từ chối chức tước, bổng lộc, đề cao nghề làm thuốc; lấy tư tưởng nhân đạo bác ái để chữa bệnh cứu người, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân lao động; lấy mục tiêu “chỉ muốn người đời không có bệnh” làm kim chỉ nam phấn đấu. Ông cởi bỏ khăn áo ngự y, vào luồn ra cúi chốn cung đình về làm thầy thuốc chữa bệnh cho dân lành nơi thôn dã; không xu phụng người giàu, kẻ có quyền thế; bệnh nặng của người nghèo lo trước, bệnh nhẹ lo sau; coi đạo làm thuốc là việc giữ gìn tính mệnh cho con người, thương yêu quý trọng bệnh nhân, hết lòng vì người bệnh, không lấy nghề thầy thuốc để cầu danh lợi mà lấy việc chữa bệnh cứu người làm niềm vui, hạnh phúc.

Lãn Ông Lê Hữu Trác tự cho mình là ông già lười, nhưng cái lười của Lãn Ông là lười đua tranh danh lợi, lười đoái lui chốn đô hội phồn hoa, lười tìm kiếm bổng lộc, hư vinh, lười sân si bạc tiền phú quý, lười tửu sắc cuộc cờ, lười đi chơi xa vì sợ bệnh nhân tìm tới nhà mà mình đi vắng.... Mặc dù đã trở thành một đại danh y tiếng tăm lừng lẫy nhưng ông vẫn khiêm tốn khi nhìn nhận cuộc đời mình: "Tôi từ 30 tuổi đến 40 tuổi mới biết làm thuốc, từ 40 đến 50 tuổi mới ít lầm, từ 50 đến 60, 70 mới khỏi lầm".

Tinh thần học tập suốt đời là niềm say mê của Hải Thượng Lãn Ông. Quyết tâm "lấy cái chí muốn đi tới tận cội nguồn của học vấn chứ đâu chịu rơi vào cảnh lạc đường giữa biển cả không bờ bến". "Dựng nhà chân núi, đóng cửa đọc sách, đọc hết bách gia chư tử", "ngày đêm miệt mài, tiếc từng giây từng phút", "quên ăn quên ngủ, không lúc nào ngơi", hiến dâng cả cuộc đời cho mục đích cao cả: "mong đời hết bệnh kéo dài ngày xuân". Ba mươi tuổi ông mới gặp cơ duyên đến với nghề thuốc, đó là lần ốm nặng chạy chữa nhiều nơi không khỏi, ông tìm đến lương y Trần Độc ở Rú Thành, tỉnh Nghệ An chữa bệnh. Trong hơn một năm dưỡng bệnh, khi có điều kiện, Lê Hữu Trác thường mượn sách thuốc của thầy Trần Độc để đọc và nhanh chóng tiếp thu, thấu hiểu, nắm bắt hầu hết những gì trong sách. Thấy Lê Hữu Trác là người sáng dạ, có duyên với nghề y dược, lương y Trần Lộc đã tâm huyết truyền nghề cho ông. Vốn là người thông minh, học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y có thể giúp đời, giúp người, nên quyết chí theo nghề thầy thuốc... Nhờ thế mà chúng ta có được đại danh y suốt 300 năm qua lừng danh tên tuổi. Hải Thượng Lãn Ông là tấm gương "Học tập suốt đời" thắp sáng lên chân lý: Học tập chính là con đường để làm bung ra cái kho báu gồm rất nhiều năng lực của con người chưa được khai thác./.

 

ĐẤU TRANH CHÔNG ÂM MƯU, HÀNH ĐỘNG PHÁ HOẠI CỦA PHÁP TRƯỚC NGÀY TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ (10/10/1954)

10/10/1954 là ngày chính quyền cách mạng tiếp quản Thủ đô, ngày quân Pháp bàn giao chính quyền theo nội dung Hiệp định Geneva. Sự kiện này là mốc son chói lọi, đánh dấu thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp ở Việt Nam, mở ra thời kỳ phát triển của thủ đô và đất nước.

Theo Hiệp định Geneva ký ngày 21/7/1954, một số khu vực ở miền Bắc nước ta trở thành vùng tập kết, chuyển quân của quân đội Liên hiệp Pháp, trong đó có Hà Nội, với thời gian là 80 ngày. Trong 80 ngày đó, quân và dân Thủ đô đấu tranh quyết liệt với âm mưu và hành động phá hoại của quân Pháp.

Pháp âm mưu muốn ta tiếp quản một Thủ đô kiệt quệ, hỗn loạn, do đó quân Pháp tìm cách di chuyển kho tàng, máy móc, vật liệu, trang thiết bị, thuốc men, tài liệu quý ra khỏi thành phố. Với ngành điện, nước, chúng hạn chế cung cấp than, hòng làm sinh hoạt của nhân dân trong thành phố gặp khó khăn, sản xuất đình đốn, tê liệt. Cùng với đó, địch không ngừng tăng cường tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đối với công chức, trí thức, học sinh, sinh viên, tư sản, tiểu thương. Luận điệu của chúng là “Việt Minh sẽ đưa công chức đi tẩy não, bắt ngụy binh đi cải tạo; buộc những phụ nữ đã nhuộm móng tay, tóc phi - dê đi quét đường; học sinh, sinh viên không được đi học; tư sản, tiểu thương không được buôn bán,…”. Lợi dụng Điều 14d của Hiệp định Geneva về quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, bọn phản động tay sai, cùng những kẻ đội lốt tôn giáo, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, binh lính, công chức, nhân viên kỹ thuật di cư vào Nam. Chúng còn tổ chức các “đội hành động bí mật”, sử dụng bọn côn đồ tay sai phá phách, cướp bóc, tống tiền làm rối loạn trật tự, trị an. Nguy hại hơn, chúng huy động lực lượng quân đội, cảnh binh uy hiếp, đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân.

Tháng 8/1954, Thành ủy Hà Nội họp bàn, quyết định những chủ trương lớn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, quan trọng trước mắt là công tác tư tưởng đối với quân và dân Hà Nội về tình hình và nhiệm vụ mới; tăng cường cán bộ cơ sở; mở rộng mặt trận đoàn kết; phối hợp các mặt đấu tranh chống địch phá hoại tài sản, máy móc, chống địch cưỡng ép di cư; đẩy mạnh công tác binh địch vận, xây dựng kế hoạch tiếp quản; xây dựng, phát triển lực lượng tự vệ để cùng với công an giữ gìn an ninh, trật tự địa phương, bảo vệ sản xuất và tính mạng, tài sản của nhân dân…

Thực hiện chủ trương của Thành ủy Hà Nội, cán bộ đã được nhanh chóng phân công vào các nhà máy, xí nghiệp, công sở, các cửa ô, khu vực lao động,..., dựa vào số quần chúng để xây dựng cơ sở chính trị, truyên truyền, giáo dục, xây dựng lực lượng tự vệ, vận động, tổ chức nhân dân đấu tranh với địch.

Một phong trào đấu tranh của công nhân được dấy lên mạnh mẽ. Công nhân Hãng Stai đấu tranh không cho chủ Pháp tháo dỡ máy móc mang vào Nam, đòi giải quyết công ăn việc làm, bảo đảm đời sống của công nhân. Công nhân Nhà máy Điện Yên Phụ đòi bảo đảm than dự trữ cho nhà máy hoạt động bình thường. Công nhân Nhà máy Đèn Bờ Hồ đấu tranh ngăn chặn chủ nhà máy tháo dỡ máy móc, thiết bị. Công nhân Nhà máy Nước tìm cách giấu những kiện hòm thiết bị quan trọng mà địch định di chuyển khỏi nhà máy, đồng thời nêu cao cảnh giác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời âm mưu đặt mìn phá các trạm, chòi cấp nước trong thành phố. Nhân viên Bưu điện Hà Nội mang cơm, nước, rải chiếu, thay nhau túc trực, ngăn không để địch tháo gỡ thiết bị, chuyển đi. Công nhân Sở Hỏa xa và nhân dân quanh ga đã đấu tranh chống lại âm mưu của địch là dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam và mang theo máy móc, thiết bị, tài liệu. Tự vệ và công nhân đã tổ chức canh gác suốt ngày đêm. Ta còn chú ý vận động một số lính Âu Phi ở ga Hàng Cỏ mở cửa kho để ta đưa vật liệu, phụ tùng đi cất giấu, trong đó có 8 chiếc kích đầu máy xe lửa.

Cuộc đấu tranh của tự vệ, công nhân các nhà máy diễn ra sôi nổi, rộng khắp, bằng nhiều hình thức phong phú, trong khuôn khổ trật tự, bình tĩnh, với thái độ kiên quyết, đúng mức, có lý lẽ nên đã ngăn chặn có hiệu quả sự phá hoại của địch.

Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân, phong trào đấu tranh của các ngành, các giới, các tầng lớp nhân dân trong thành phố cũng phát triển liên tục, mạnh mẽ. Tại các nhà thương (bệnh viện), Sở Y tế Bắc Việt, các trường học, công sở,…, các giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, y tá, giáo viên, các nhà chuyên môn,… đã cất giấu hoặc chuyển ra vùng an toàn thuốc men, dụng cụ chữa bệnh, hồ sơ, tài liệu khoa học.

Trải qua hơn hai tháng đấu tranh quyết liệt với địch, giành được thắng lợi to lớn. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ và nhà máy đèn Bờ Hồ đã buộc địch phải bảo đảm đủ 4.000 tấn than dự trữ đến ngày tiếp quản. Công nhân nhà máy nước đã giữ được nguyên vẹn thiết bị máy móc, bảo đảm cấp nước bình thường cho thành phố. Công nhân Hỏa xa Gia Lâm đã giữ được 3 toa xe nguyên vật liệu; công nhân hỏa xa Hà Nội giữ lại được tất cả 12 đầu máy và toàn bộ các xe.

Ở các nơi khác, công nhân cũng giữ lại được nhiều máy móc, nguyên liệu, nhiều hồ sơ tài liệu; đồng thời vận động, thuyết phục nhiều cán bộ, công nhân kỹ thuật ở Hà Nội, tham gia ổn định sản xuất sau khi ta tiếp quản. Kế hoạch phá hoại một số cơ sở giao thông, điện nước, cầu và cảng, ngành đường sắt của quân Pháp bị thất bại thảm hại.

Công cuộc tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành tốt đẹp do Trung ương Đảng lãnh đạo chặt chẽ; Đảng ủy tiếp quản có kế hoạch chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo; cán bộ, bộ đội làm nhiệm vụ tiếp quản giữ nghiêm kỷ luật. Ta tiếp thu tuyệt đối an toàn và nhanh gọn toàn bộ các vị trí quân sự của địch ở Hà Nội, trong đó sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, các cơ quan quân sự ở Đồn Thủy và trong Thành (Xi-ta-đen) có tầm quan trọng đặc biệt.

Ta cũng đã tiếp thu 129 công sở, công trình lợi ích công cộng, xí nghiệp, bệnh viện, trường học... với Phủ Toàn quyền cũ. Phủ Thủ hiến Bắc Việt (Bắc Bộ phủ cũ), Sở mật thám Liên bang Đông Dương, những cơ quan đầu não thống trị của chính quyền thực dân Pháp và tay sai.

Sinh hoạt của nhân dân vẫn giữ được bình thường không bị gián đoạn. Các ngành lợi ích công cộng như điện, nước, vệ sinh... vẫn hoạt động đều. Các cơ quan y tế, văn hóa, giáo dục vẫn làm việc. Giao thông liên lạc trong thành phố, giữa Hà Nội và các tỉnh được giữ vững và thông suốt. Các cửa hàng, cửa hiệu, các chợ mở như thường lệ. Việc cung cấp lương thực, thực phẩm, chất đốt... và nhiều mặt hàng cần thiết khác cho nhân dân được bảo đảm đầy đủ. Mậu dịch quốc doanh giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân dân. An ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm tốt.

Đúng 16h30 ngày 9/10/1954, những lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên, đánh dấu chấm hết cho sự hiện diện của quân Pháp ở Thủ đô Hà Nội. Sáng 10/10/1954, Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn 308 tiến vào tiếp quản Hà Nội trong tiếng reo hò của hàng chục vạn người dân. Ngày 10/10/1954 đã trở thành cột mốc lịch sử, ghi nhận bao nỗ lực, cả những mất mát, hy sinh của quân và dân ta./. 

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Ở Việt Nam các dân tộc có trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội; đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa nông thôn với thành thị, miền xuôi và miền núi còn có sự chênh lệch. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Đây là cơ hội, là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Thực tế hiện nay chúng thường là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trong đó, chúng tích cực truyền bá tư tưởng phản động, kích động ly khai dân tộc, gây chia rẽ đồng bào các dân tộc, mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu trong đồng bào dân tộc thiểu số để chống phá, tập trung vào các địa bàn chiến lược, như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Chúng tổ chức, tập hợp lực lượng phản động, xây dựng cơ sở tạo sự chống đối trong nội bộ các dân tộc, gây nên một số cuộc bạo loạn mang tính chất chính trị, hòng tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp, gây mất ổn định chính trị đất nước. Các thế lực thù địch còn lợi dụng trình độ dân trí thấp, sự hạn chế về nhận thức cũng như phong tục, tập quán của đồng bào ở một số vùng để truyền đạo trái pháp luật, khôi phục tập tục lạc hậu, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân, gây khó khăn cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, lợi dụng đời sống của đồng bào dân tộc, tôn giáo còn khó khăn, sự thoái hóa, biến chất, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và sự khởi sắc của vùng đồng bào dân tộc, miền núi, vùng đông đồng bào có đạo sinh sống, nhằm làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn hoạt động chính của chúng là tung tin thất thiệt, xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta không tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số. Chúng ra sức dụ dỗ, lôi kéo các đối tượng có hận thù với cách mạng, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng chống đối.

Từ tình hình trên, việc chủ động đấu tranh với âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo là nhiệm vụ cấp thiết, cần được tiến hành đồng bộ bằng nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, giữ vững ổn định chính tri, xã hội, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng. Chăm lo xây dựng, củng cố sự đoàn kết, nhất trí trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo. Chủ động phát hiện, ngăn chặn các nhân tố gây nguy cơ mất ổn định, không để các thế lực thù địch lợi dụng, gây bức xúc nhân dân, kích động biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 33- NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia và các nghị định, chỉ thị về tăng cường an ninh tuyến biên giới.

Thứ hai, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng nội lực, tạo sức đề kháng trước mọi âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù. Cần tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện đại đoàn kết phải rộng rãi, lâu dài; mở rộng, da dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; kiên quyết đấu tranh loại trừ nguy cơ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tôn giáo; chống kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Chủ động giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia.

Thứ ba, đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc, tôn giáo. Đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án an sinh xã hội; ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc, vùng tôn giáo, tạo mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo nhanh chóng xóa đói giảm nghèo, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhất là đối tượng người cao tuổi, trẻ em và phụ nữ vùng sâu, vùng xa; tích cực phổ cập giáo dục phổ thông, nâng cao dân trí, không để “tái mù” và xảy ra tình trạng “bản trắng” ở vùng sâu, vùng xa. Chăm lo đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo; tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo tổ chức các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hóa - thể thao, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc dân tộc. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng, có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, vì xét đến cùng khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân thì không kẻ thù nào có thể lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, đoàn thể; chú trọng nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Thực hiện chính sách ưu tiên trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số, tôn giáo. Đổi mới công tác dân vận ở vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc; sử dụng những phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc, từng tôn giáo.

  

TUYÊN BỐ CHUNG VỀ VIỆC THIẾT LẬP QUAN HỆ ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - MÔNG CỔ

 Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Mông Cổ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hai bên đã ra Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Mông Cổ. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung:

1. Nhân kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Mông Cổ, nhận lời mời của Tổng thống Mông Cổ Ukhnaagiin Khurelsukh và Phu nhân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Mông Cổ từ ngày 30/9 đến ngày 01/10/2024. Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Tổng thống Ukhnaagiin Khurelsukh, hội kiến Chủ tịch Quốc hội Dashzegviin Amarbayasgalan và Thủ tướng Luvsannamsrain Oyun - Erdene.

2. Lãnh đạo cấp cao hai nước đánh giá cao quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam - Mông Cổ tăng cường mở rộng mạnh mẽ trong suốt 70 năm qua; trao đổi ý kiến sâu rộng về phương hướng phát triển quan hệ song phương thời gian tới và các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.

3. Phía Mông Cổ khẳng định luôn coi Việt Nam là đối tác quan trọng tại khu vực Đông Nam Á, mong muốn phát triển mở rộng quan hệ hợp tác cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam khẳng định coi trọng phát triển quan hệ với Mông Cổ, tôn trọng chính sách đối ngoại yêu chuộng hòa bình, rộng mở, tự chủ và đa trụ cột của Mông Cổ, chính sách "láng giềng thứ ba" và mong muốn thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển hơn nữa trong thời gian tới.

4. Lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí cho rằng việc phát triển và làm sâu sắc quan hệ giữa Việt Nam và Mông Cổ phù hợp với lợi ích chung của nhân dân hai nước, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới; nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên "Đối tác toàn diện" và tiếp tục thúc đẩy mở rộng hợp tác, cụ thể như sau:

I. Tăng cường hợp tác chính trị

5. Hai bên nhất trí tăng cường hoạt động trao đổi đoàn, giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp thông qua các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội; nhất trí ủng hộ về mặt chính sách mở rộng quan hệ mật thiết giữa nhân dân hai nước; nghiên cứu khả năng thiết lập cơ chế hợp tác mới giữa các bộ, ngành, địa phương hai nước.

6. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa các Cơ quan lập pháp, trong đó phát triển hợp tác giữa các Ủy ban chuyên môn, nhóm Nghị sĩ, nghị sĩ trẻ và nữ nghị sĩ tương xứng với khuôn khổ quan hệ mới; thúc đẩy ký mới Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội thay thế Thỏa thuận đã ký năm 2018.

7. Hai bên nhất trí duy trì hiệu quả cơ chế Tham khảo chính trị luân phiên cấp Thứ trưởng Ngoại giao; thường xuyên trao đổi về hợp tác song phương, chính sách đối ngoại, các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; nghiên cứu hình thức thiết lập cơ chế đàm phán đa phương.

II. Mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật

8. Hai bên đánh giá cao những tiến triển mới trong hợp tác quốc phòng và an ninh thời gian gần đây; nhất trí tiếp tục duy trì gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đoàn các cấp.

9. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục mở rộng hợp tác giữa các lực lượng vũ trang và cơ quan thực thi pháp luật hai nước.

10. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả các thỏa thuận hợp tác đã ký, đẩy nhanh thủ tục đàm phán tiến tới ký kết các hiệp định trong lĩnh vực an ninh, phòng chống tội phạm; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin tội phạm liên quan; phối hợp đánh giá, dự báo về các vấn đề liên quan tới lợi ích và an ninh quốc gia hai nước.

III. Mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại và đầu tư

11. Lãnh đạo cấp cao hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác kinh tế thực chất, hiệu quả và toàn diện; duy trì các cơ chế hợp tác kinh tế song phương, trong đó có cơ chế Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học và kỹ thuật; nhất trí tăng cường vai trò của Hội đồng Doanh nghiệp hai bên thông qua hỗ trợ triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, thúc đẩy kết nối hợp tác doanh nghiệp trong khuôn khổ Thỏa thuận hợp tác đã ký giữa Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Mông Cổ.

12. Lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí nghiên cứu các giải pháp phù hợp cải thiện môi trường đầu tư; xem xét ký mới Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư.

IV. Thúc đẩy hợp tác thực chất về các lĩnh vực nông nghiệp, khoa học, giao thông vận tải, văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, lao động, môi trường và bảo trợ xã hội

13. Lãnh đạo cấp cao hai bên nhất trí đẩy mạnh hiện đại hóa chương trình hợp tác nông nghiệp trong khuôn khổ Bản ghi nhớ giữa Bộ Lương thực, Nông nghiệp và Công nghiệp nhẹ Mông Cổ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp ký năm 2022.

14. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi chính sách, định hướng, giải pháp phát triển ngành nông nghiệp hai bên; tạo môi trường pháp lý xuất khẩu các sản phẩm nguồn gốc nông nghiệp có thế mạnh của hai bên; hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp.

15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hiện thực hóa các thỏa thuận/cam kết trong khuôn khổ Ủy ban liên Chính phủ, trong đó có cơ chế Tiểu ban Khoa học và Công nghệ; tăng cường hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ cao, công nghệ số, đổi mới sáng tạo và thông tin truyền thông.

16. Hai bên nhấn mạnh việc tăng cường phối hợp tìm biện pháp khả thi, tháo gỡ khó khăn, thách thức trong vận tải logistics; trao đổi kinh nghiệm, thực hiện hiệu quả các thỏa thuận hợp tác đã ký trong lĩnh vực đường bộ, đường sắt, vận tải biển và hàng không. Mông Cổ ủng hộ Việt Nam tham gia Hiệp định vận tải đường bộ quốc tế ba bên giữa Nga - Mông Cổ - Trung Quốc đã ký năm 2016. Hai bên nhất trí tăng cường thúc đẩy hợp tác giữa các hãng hàng không hai nước; nhất trí tiếp tục nghiên cứu thành lập cơ chế về vận chuyển hàng hóa 3 nước Việt Nam - Trung Quốc - Mông Cổ.

17. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ hợp tác về văn hóa đã ký giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Thanh niên Mông Cổ năm 2022; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình chung theo hướng khuyến khích thúc đẩy trao đổi các đoàn văn hóa, nghệ thuật và thể thao hai bên.

18. Hai bên nhất trí tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước theo hướng tăng cường hợp tác tu bổ, tôn tạo và phục hồi di tích lịch sử, văn hóa, di sản phi vật thể; tăng cường quảng bá tiềm năng, thế mạnh du lịch hai bên; tích cực hợp tác trao đổi thông tin, kinh nghiệm về chính sách, quản lý ngành du lịch.

19. Trong khuôn khổ Hiệp định về hợp tác giáo dục và đào tạo, hai bên nhất trí trao học bổng cho sinh viên mỗi nước theo nhu cầu và ngành học.

20. Hai bên nhất trí tiếp tục nghiên cứu khả năng cung ứng và tiếp nhận lao động theo các ngành nghề, lĩnh vực mà thị trường lao động hai bên có nhu cầu trên cơ sở Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam và Bộ Lao động và Bảo trợ xã hội Mông Cổ (2017).

21. Việt Nam đánh giá cao những nỗ lực của Mông Cổ trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu, sa mạc hóa, trong đó có Sáng kiến "Trồng một tỷ cây" của Tổng thống Mông Cổ, góp phần phủ xanh thảo nguyên và chống sa mạc hóa ở Mông Cổ. Theo đó, hai bên nhất trí xem xét nghiên cứu trồng một số cây phù hợp với thổ nhưỡng Mông Cổ ở một số vùng được quy hoạch.

22. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng thực hiện các chương trình, dự án chung ứng phó với biến đổi khí hậu.

23. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nghiên cứu ký thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực thông tin truyền thông; cung cấp thông tin, hình ảnh, tư liệu về quá trình phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội để nhân dân hai nước ngày càng hiểu biết sâu sắc về đất nước, con người mỗi nước; hợp tác ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong các lĩnh vực kinh tế.

V. Tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế

24. Lãnh đạo cấp cao hai bên đánh giá cao sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và khu vực, nhất trí tiếp tục hợp tác chặt chẽ, trao đổi thường xuyên về các vấn đề an ninh, chính trị khu vực, tình hình quốc tế cùng quan tâm; tiếp tục hợp tác chặt trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.

25. Hai bên nhất trí hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và khu vực như ASEM, WTO, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), APEC và sáng kiến "Đối thoại Ulaanbaatar" về An ninh Đông Bắc Á. Phía Việt Nam tái khẳng định ủng hộ Mông Cổ tăng cường hợp tác với các nước ASEAN và tham gia APEC khi mở rộng thành viên.

26. Hai bên nhất trí quan tâm mở rộng hợp tác về đối phó với đe dọa an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia.

27. Trong khuôn khổ hợp tác tích cực với cộng đồng quốc tế, góp phần vào nỗ lực chung của thế giới bảo vệ môi trường, chống sa mạc hóa và ứng phó với biến đổi khí hậu, phía Việt Nam bày tỏ sẵn sàng cử đoàn tham dự Hội nghị lần thứ 17 các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa, tổ chức vào năm 2026.

28. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì môi trường hòa bình, an ninh, ổn định tại Biển Đông, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên đã ký các văn kiện sau:

Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực pháp luật giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Tư pháp và Nội vụ Mông Cổ; Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Tư pháp và Nội vụ Mông Cổ về an ninh mạng và phòng chống tội phạm; Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Giao thông vận tải Việt Nam và Bộ Giao thông vận tải Mông Cổ; Bản ghi nhớ hợp tác du lịch giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam và Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Thanh niên Mông Cổ; Bản ghi nhớ về tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Thành phố Hà Nội và Chính quyền thành phố Ulaanbaatar; Bản ghi nhớ hợp tác giữa Viện hàn lâm khoa học công nghệ Việt Nam và Viện hàn lâm khoa học Mông Cổ;. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Khoa học và Công nghệ Mông Cổ.

29. Lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí cho rằng chuyến thăm cấp Nhà nước tới Mông Cổ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm góp phần quan trọng định hướng và mở ra triển vọng quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu của Tổng thống Mông Cổ Ukhnaagiin Khurelsukh và nhân dân Mông Cổ dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Mông Cổ.

 

KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG THỦ ĐÔ (10/10/1954 - 10/10/2024)

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, một ngày đáng nhớ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đánh dấu sự kiện giải phóng Thủ đô Hà Nội. Đây không chỉ là ngày kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn mở ra một trang mới cho sự phát triển của đất nước. Năm 2024, khi kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, chúng ta cùng nhau nhìn lại chặng đường lịch sử đầy cảm xúc này.

Trước khi diễn ra Ngày Giải phóng Thủ đô, đất nước đã trải qua nhiều thăng trầm. Từ năm 1945, sau khi giành được độc lập, Việt Nam lại rơi vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống thực dân Pháp. Thủ đô Hà Nội, trái tim của cả nước, là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của cuộc kháng chiến; nơi đây, nhân dân đã chịu đựng sự cai trị tàn bạo, phải sống trong cảnh đói khổ, lầm than, chiến tranh và mất mát. Trong hoàn cảnh đó, tinh thần yêu nước của người dân Hà Nội và cả nước đã lên cao; dũng cảm đứng lên, tham gia vào các phong trào kháng chiến, đấu tranh giành lại độc lập. Cuộc kháng chiến kéo dài từ năm 1946 cho đến năm 1954, với những chiến dịch lớn nhỏ khác nhau, nhưng quyết định nhất vẫn là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5/1954 đã mở ra cơ hội cho việc giải phóng Thủ đô. Hiệp định Genève được ký kết 20/7/1954 tại Thụy Sĩ, chia cắt đất nước thành hai miền Bắc - Nam. Trong không khí phấn khởi của những ngày tháng 9 lịch sử, quân và dân Hà Nội chuẩn bị cho ngày giải phóng.

Sáng sớm ngày 10 tháng 10 năm 1954, quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Thủ đô. Hình ảnh những người lính bộ đội cụ Hồ, trong quân phục chỉnh tề, tay cầm súng và hoa, bước đi trên những con phố, làm dấy lên niềm vui sướng, phấn khởi trong lòng người dân. Đường phố Hà Nội, nơi từng bị chiếm đóng, giờ đây tràn ngập sắc hoa, tiếng nhạc hòa cùng tiếng hô vang "Việt Nam độc lập". Người dân Hà Nội nô nức vui sướng, phấn khởi đổ ra đường, cùng nhau hòa chung trong không khí lễ hội. Từ những cụ già cho đến trẻ nhỏ, ai cũng nở nụ cười rạng rỡ. Họ ôm nhau, khóc trong niềm hạnh phúc khi thấy quân đội trở về mang theo tự do. Lễ diễu hành được tổ chức long trọng tại Quảng trường Ba Đình. Hàng ngàn người dân tập trung, hô vang những khẩu hiệu thể hiện lòng yêu nước và sự quyết tâm xây dựng một Thủ đô mới, hòa bình và phát triển. Cảm xúc trong lòng mỗi người không thể diễn tả bằng lời. Đây là một khoảnh khắc lịch sử, nơi niềm vui và tự hào chạm đến đỉnh cao.

Ngày Giải phóng Thủ đô 10/10/1954 không chỉ mang ý nghĩa là sự kết thúc của một cuộc chiến, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước. Đây là biểu tượng của khát vọng hòa bình, độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam. Nó nhắc nhở chúng ta về những hy sinh lớn lao của các thế hệ đi trước, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô vào năm 2024, chúng ta cần ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh vì tự do và hạnh phúc của dân tộc. Đây cũng là dịp để mỗi người tự hỏi: "Chúng ta đã làm gì để bảo vệ và phát huy những giá trị đó trong cuộc sống hiện đại?"

Trong những năm gần đây, các hoạt động kỷ niệm Ngày Giải phóng Thủ đô ngày càng được tổ chức phong phú và đa dạng. Các sự kiện văn hóa, thể thao, nghệ thuật diễn ra trên khắp Thủ đô, thu hút đông đảo người dân tham gia. Những buổi lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử, triển lãm ảnh, phim tư liệu về cuộc kháng chiến cũng được tổ chức nhằm giáo dục thế hệ trẻ.

Đặc biệt, vào dịp kỷ niệm 70 năm này, các hoạt động sẽ được tổ chức quy mô hơn, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân và các đơn vị nghệ thuật. Các buổi biểu diễn nghệ thuật tái hiện lại những khoảnh khắc lịch sử, các buổi tọa đàm về vai trò của Thủ đô trong sự nghiệp cách mạng cũng sẽ diễn ra, nhằm giúp người dân hiểu rõ hơn về ý nghĩa của ngày này. Bên cạnh đó, các trường học cũng sẽ tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, giáo dục lịch sử cho học sinh, sinh viên. Những câu chuyện, hình ảnh về cuộc kháng chiến sẽ được truyền tải một cách sinh động, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về công lao của cha ông.

Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô, trách nhiệm của thế hệ trẻ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta cần tiếp tục gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa, lịch sử của dân tộc. Thế hệ trẻ chúng ta ngày hôm nay không chỉ là người thừa kế mà còn là những người xây dựng tương lai. Chính vì vậy, việc hiểu và trân trọng lịch sử là điều cần thiết. Do vậy, chúng ta cần tham gia tích cực vào các hoạt động kỷ niệm, tham gia các phong trào thanh niên, tình nguyện vì cộng đồng; nên tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử, tham gia các chương trình giáo dục, nhằm trang bị cho mình những kiến thức vững vàng, từ đó có thể góp phần xây dựng đất nước.

Kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô 10/10/1954-10/10/2024 là dịp để mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân Thủ đô Hà Nội, ôn lại quá khứ hào hùng, tự hào về những gì cha ông đã làm. Đây cũng là cơ hội để chúng ta suy ngẫm về trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị đó trong cuộc sống hiện đại. Hãy cùng nhau hướng về ngày lễ trọng đại này với tấm lòng tự hào, trân trọng và biết ơn, để tiếp tục xây dựng một Thủ đô ngày càng phát triển, hòa bình và thịnh vượng. Mỗi bước đi của chúng ta hôm nay sẽ góp phần viết nên trang sử vàng của dân tộc trong tương lai. 

KẺ PHẢN ĐỘNG VIỆT TÂN VÀ NHỮNG THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Việt Tân là một tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài có hoạt động chống phá Việt Nam qua nhiều hình thức, đặc biệt là thông qua việc lợi dụng vấn đề nhân quyền. Những hoạt động này thường tập trung vào việc xuyên tạc, vu khống chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhằm mục đích kích động, gây mất ổn định chính trị và làm suy yếu lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Trong thời gian vừa, tổ chức phản động Việt Tân tiếp tục tuyên truyền rằng Việt Nam không tôn trọng quyền con người, dù đất nước đã đạt được nhiều tiến bộ về kinh tế và xã hội. Một ví dụ là việc họ tổ chức các chiến dịch truyền thông quốc tế, vu khống rằng Việt Nam đàn áp những tiếng nói bất đồng, trong khi thực tế là Việt Nam đã có những cải cách và hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế về nhân quyền. Kẻ phản động Việt Tân sử dụng mạng xã hội để kích động người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, tham gia vào các hoạt động chống đối chính quyền dưới danh nghĩa bảo vệ nhân quyền. Một trường hợp điển hình là kêu gọi biểu tình trái phép qua mạng xã hội, khiến cho một số người bị lôi kéo tham gia các hoạt động gây rối. Chúng đã liên kết với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tạo sức ép lên chính phủ Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến tự do báo chí, tự do ngôn luận… Việt Tân đã gửi các báo cáo sai lệch lên các cơ quan quốc tế nhằm làm suy yếu hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhận thức rõ bản chất phản động của Việt Tân, mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và người dân trên đất nước ta cần hiểu rằng các hoạt động của Việt Tân không chỉ là những chỉ trích đơn thuần mà còn là các hành vi cố tình gây chia rẽ nội bộ (phản động), làm suy yếu nền tảng chính trị và xã hội của đất nước.

Do vậy, chúng ta cần được trang bị kỹ năng để nhận diện thông tin giả mạo, xuyên tạc từ Việt Tân, đồng thời có trách nhiệm đấu tranh phản bác và góp phần chống lại các thông tin sai lệch, phản động lan truyền trên mạng xã hội.

Cấp ủy, chính quyền địa phương, người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị lực lượng vũ trang cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền để giúp người dân hiểu rõ hơn về các quyền con người mà Việt Nam đã cam kết và thực hiện, qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi người trong việc bảo vệ thành quả cách mạng. Thông qua đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ và người dân đều cần có trách nhiệm tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ an ninh trật tự, chống lại những âm mưu phá hoại của các tổ chức phản động như Việt Tân.

Việc đối phó với những thủ đoạn của Việt Tân không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, mà còn đòi hỏi sự đồng lòng và nhận thức đúng đắn từ toàn thể nhân dân, để chúng ta ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; bảo vệ tư tưởng chính trị và hệ thống chính trị của Đảng; ngăn chặn sự can thiệp từ bên ngoài; đảm bảo sự phát triển ổn định của đất nước.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA

Thời gian qua công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng nhiều chiêu bài thâm độc hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta... Vì vậy, cần nhận diện các thủ đoạn, chiêu bài của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị để phản bác, đấu tranh hiệu quả.

Với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong đó có Việt Tân đã đưa ra những luận điệu sai trái; thậm chí trơ trẽn đánh tráo khái niệm, tốt vẫn nói xấu, có khuyết điểm thì bới móc, thổi phồng, làm lệch lạc bản chất vấn đề hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta.

Đầu tiên chúng ta thấy rằng bản chất của tham nhũng bắt nguồn từ lòng tham con người, lòng tham chính là “hạt giống” tồn tại với tư cách là một thuộc tính cố hữu của con người, trong điều kiện thích hợp có thể “sinh sôi nảy nở”, phát triển thành các biểu hiện cụ thể của hành vi tham nhũng. Nguyên nhân của các hành vi tham nhũng là do người cán bộ thiếu đạo đức cách mạng, thiếu tinh thần trách nhiệm, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, xa rời quần chúng. Như vậy, có thể thấy chính sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chính là nguyên nhân căn cơ để tình trạng tham nhũng, tiêu cực phát sinh, phát triển.

Thứ hai, Đảng ta xác định “Đoàn kết, thống nhất trong Đảng” là một trong những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Điều này bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời đây là sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Trong từng thời kỳ cách mạng khác nhau, Đảng ta luôn nhất quán xây dựng và không ngừng củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng.

Thứ ba, phải khẳng định rằng, những kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã góp phần làm cho nước ta ngày càng phát triển. Điều đó đã được chứng minh rõ nhất bằng hiệu quả của việc phòng, chống tham nhũng từ sau khi Chính phủ ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Nghị định số 59 ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Nghị định số 130 ngày 30/10/2020 quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị... Nhờ đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà nhiều sai phạm của không ít cán bộ, đảng viên đã được xử lý, nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực phức tạp được giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” như: đại án Việt Á, FLC, Tân Hoàng Minh, AIC, Vạn Thịnh Phát,…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam thời gian qua là không đúng sự thật. Qua lăng kính đánh giá của các đối tượng xấu, chúng đã tô vẽ, biến tướng, gây nhiễu loạn dư luận, kích động sự hoài nghi, hoang mang, dao động trong xã hội, dần dần làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân là các chủ thể thống nhất với nhau về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục đem lại những hiệu quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta./.

  

Sân chơi mang đậm giá trị văn hóa truyền thống.

 Không chỉ là sân chơi mang đậm giá trị văn hóa truyền thống, Chương trình giao lưu hát ru, hát dân ca còn là dịp để cán bộ, hội viên phụ nữ Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kiến thức, phương pháp, kỹ năng công tác Hội.

Hát ru, hát dân ca là một loại hình nghệ thuật dân tộc mang giá trị nhân văn cao đẹp, được lưu truyền trong dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các làn điệu hát ru, hát dân ca có chức năng giáo dục, thẩm mỹ cao, góp phần hình thành nuôi dưỡng và phát huy nhân cách, di dưỡng tâm hồn, gieo vào tâm thức tuổi thơ những ký ức, những hình ảnh đẹp về lòng nhân ái, đạo lý làm người và tình yêu quê hương đất nước. Nhằm giữ gìn, lan tỏa những giá trị của hát ru, hát dân ca, Chương trình giao lưu hát ru, hát dân ca đã có sự tham gia của 11 đội đến từ Hội phụ nữ các đơn vị: Vùng 4 Hải quân, Học viện Hải quân, Lữ đoàn 189, Lữ đoàn 954, Trung đoàn 196, Kho 858/Cục Kỹ thuật Hải quân cùng hơn 400 đồng chí cán bộ, chiến sĩ, quân nhân các đơn đơn vị.

Nét nổi bật của Chương trình giao lưu đó là tiết mục tham gia của các đội đã được đầu tư dàn dựng công phu, bảo đảm tính nghệ thuật và tính giáo dục cao vì vậy đã thực sự cuốn hút người xem. Khơi dậy, phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ, hội viên, các đội đã khéo léo sử dụng những chất liệu hát ru, dân ca của địa phương để giới thiệu về đơn vị mình gắn với đặc trưng văn hóa vùng miền nơi đơn vị đóng quân. Phần tuyên truyền các làn điệu hát ru, hát dân ca được thể hiện các hoạt cảnh, ca cảnh, tiểu phẩm, kịch hát, kịch múa với nhiều nội dung hay dựa trên nền nhạc mang âm hưởng những làn điệu hát ru, dân ca truyền thống của quê hương, đất nước.

Đồng chí Thiếu tá, QNCN Thái Thị Huệ, Chủ tịch Hội Phụ nữ cơ sở Lữ đoàn 146 chia sẻ: “Xuất phát từ tình yêu hát ru, hát dân ca nên từng hội viên đều rất tâm huyết trong chuẩn bị, luyện tập. Những nội dung thể hiện trong chương trình giao lưu thực sự là những đứa con tinh thần của cả đội; từ phần giới thiệu về đội đến phần thi tuyên truyền với chủ đề “Mẹ và người lính Trường Sa” đều phản ánh nét riêng của phụ nữ Trường Sa. Chương trình giao lưu hát ru, hát dân ca đã là sân chơi bổ ích. Chúng tôi mong muốn được tham gia nhiều hơn những sân chơi như vậy”.

Cùng chung cảm xúc nói trên, đồng chí Thượng úy, QNCN Dương Thị Thương, nhân viên phòng Hậu cần - Kỹ thuật, Lữ đoàn 189 cho biết: “Tham gia chương trình giao lưu, tôi ấn tượng nhất với phần tuyên truyền các làn điệu hát ru, hát dân ca của các đội. Các tiết mục được dàn dựng công phu, giàu tính nghệ thuật đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ trong đơn vị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ và hội viên phụ nữ”.

Trao đổi cùng chúng tôi, Đại tá Nguyễn Hữu Minh, UVBTV, Phó Chính ủy Vùng 4 Hải quân cho biết, tham gia Chương trình giao lưu, các đội đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tiết mục hát ru, hát dân ca với những hình thức minh họa, hình ảnh trực quan trên sân khấu hoặc hình ảnh, clip trình chiếu trên màn hình led. Thông qua những làn điệu hát ru, hát dân ca được chuyển thể gắn với đặc điểm nhiệm vụ của mỗi cơ quan, đơn vị đã hướng vào tuyên truyền các nội dung ý nghĩa, như: Phụ nữ Quân đội học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; các phẩm chất “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ - Người chiến sỹ Hải quân thời kỳ mới” của phụ nữ Hải quân;… Qua đó, góp phần nâng cao kiến thức, phương pháp, kỹ năng công tác Hội và tham gia hoạt động Hội; khẳng định hiệu quả của sự vận dụng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Hội Phụ nữ trong xây dựng, triển khai các mô hình hoạt động thực tiễn.

Có thể thấy, Chương trình giao lưu hát ru, hát dân ca do Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân phối hợp với các đơn vị trong cụm lực lượng Hải quân trong khu vực tổ chức là dịp để tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên phụ nữ nói riêng, cán bộ, chiến sĩ nói chung về vị trí, vai trò của văn hóa trong xây dựng Quân đội, phát triển đất nước; khơi dậy niềm tự hào, trách nhiệm giữ gìn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa kết tinh trong mỗi làn điệu hát ru, hát dân ca. Chương trình thực sự là sân chơi mang đậm giá trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc; phù hợp với tâm lý, góp phần bồi dưỡng tâm hồn và làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và hội viên phụ nữ ở các cơ quan, đơn vị./.

Nét đặc trưng tiêu biểu của “Bộ đội Cụ Hồ”

 


        Hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đã khẳng định: ý chí quyết chiến, quyết thắng là một nét đặc trưng tiêu biểu của “Bộ đội Cụ Hồ”, được hun đúc bởi truyền thống hào hùng của dân tộc trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, không ngừng được tôi luyện qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Dù trong hoàn cảnh nào, ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn được thể hiện sâu sắc và triệt để, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng đã trở thành truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta, là đặc trưng tiêu biểu trong đạo đức, nhân cách người quân nhân cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ”. Ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân tạo nên sức mạnh để Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù. Từ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động của Quân đội và trong nhân cách của mỗi quân nhân đều thấm nhuần nguyên tắc “dĩ công vi thượng”; động cơ thôi thúc hành động duy nhất và vô cùng mạnh mẽ của mỗi cán bộ, chiến sĩ là vì lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Đó là kết quả giáo dục, rèn luyện của Đảng, là dấu ấn sâu đậm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình tổ chức xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta.

Trong giai đoạn hiện nay, nhiều thang giá trị xã hội đã và đang có sự thay đổi, lợi ích vật chất ngày càng chi phối, tác động đến động cơ, mục đích hoạt động của con người; nhận thức và quan niệm giữa cống hiến, hy sinh và hưởng thụ có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng với mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội, không đặt lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân làm điều kiện tiên quyết cho việc thực thi nhiệm vụ của mình. Đó chính là động cơ phấn đấu đúng đắn, thúc đẩy mỗi quân nhân luôn yên tâm công tác, xác định tốt nhiệm vụ, tận tâm, tận lực với nghề nghiệp; đồng cam, cộng khổ; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không để Tổ quốc bị bất ngờ trong mọi tình huống. Động cơ phấn đấu đúng đắn, tâm huyết với nghề nghiệp, tận tụy, gắn bó xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện không chỉ là biểu hiện mới trong phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, trong giá trị nhân cách “Bộ đội cụ Hồ” đã được lớp lớp thế hệ cha anh xây đắp, trao truyền cho thế hệ ngày nay, mà còn là yêu cầu nghiêm ngặt của nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.