10/10/1954 là ngày chính quyền cách mạng tiếp quản Thủ đô,
ngày quân Pháp bàn giao chính quyền theo nội dung Hiệp định Geneva. Sự kiện này
là mốc son chói lọi, đánh dấu thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp ở Việt Nam,
mở ra thời kỳ phát triển của thủ đô và đất nước.
Theo Hiệp định Geneva ký ngày 21/7/1954, một số khu vực ở miền
Bắc nước ta trở thành vùng tập kết, chuyển quân của quân đội Liên hiệp Pháp,
trong đó có Hà Nội, với thời gian là 80 ngày. Trong 80 ngày đó, quân và dân Thủ
đô đấu tranh quyết liệt với âm mưu và hành động phá hoại của quân Pháp.
Pháp âm mưu muốn ta tiếp quản một Thủ đô kiệt quệ, hỗn loạn,
do đó quân Pháp tìm cách di chuyển kho tàng, máy móc, vật liệu, trang thiết bị,
thuốc men, tài liệu quý ra khỏi thành phố. Với ngành điện, nước, chúng hạn chế
cung cấp than, hòng làm sinh hoạt của nhân dân trong thành phố gặp khó khăn, sản
xuất đình đốn, tê liệt. Cùng với đó, địch không ngừng tăng cường tuyên truyền
xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ đối với công chức, trí thức,
học sinh, sinh viên, tư sản, tiểu thương. Luận điệu của chúng là “Việt Minh sẽ
đưa công chức đi tẩy não, bắt ngụy binh đi cải tạo; buộc những phụ nữ đã nhuộm
móng tay, tóc phi - dê đi quét đường; học sinh, sinh viên không được đi học; tư
sản, tiểu thương không được buôn bán,…”. Lợi dụng Điều 14d của Hiệp định Geneva
về quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, bọn phản động tay sai, cùng những kẻ đội lốt
tôn giáo, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào, binh lính, công chức, nhân viên kỹ thuật di
cư vào Nam. Chúng còn tổ chức các “đội hành động bí mật”, sử dụng bọn côn đồ
tay sai phá phách, cướp bóc, tống tiền làm rối loạn trật tự, trị an. Nguy hại
hơn, chúng huy động lực lượng quân đội, cảnh binh uy hiếp, đàn áp các cuộc đấu
tranh của công nhân.
Tháng 8/1954, Thành ủy Hà Nội họp bàn, quyết định những chủ
trương lớn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô, quan trọng trước mắt là công tác tư tưởng
đối với quân và dân Hà Nội về tình hình và nhiệm vụ mới; tăng cường cán bộ cơ sở;
mở rộng mặt trận đoàn kết; phối hợp các mặt đấu tranh chống địch phá hoại tài sản,
máy móc, chống địch cưỡng ép di cư; đẩy mạnh công tác binh địch vận, xây dựng kế
hoạch tiếp quản; xây dựng, phát triển lực lượng tự vệ để cùng với công an giữ
gìn an ninh, trật tự địa phương, bảo vệ sản xuất và tính mạng, tài sản của nhân
dân…
Thực hiện chủ trương của Thành ủy Hà Nội, cán bộ đã được
nhanh chóng phân công vào các nhà máy, xí nghiệp, công sở, các cửa ô, khu vực
lao động,..., dựa vào số quần chúng để xây dựng cơ sở chính trị, truyên truyền,
giáo dục, xây dựng lực lượng tự vệ, vận động, tổ chức nhân dân đấu tranh với địch.
Một phong trào đấu tranh của công nhân được dấy lên mạnh mẽ.
Công nhân Hãng Stai đấu tranh không cho chủ Pháp tháo dỡ máy móc mang vào Nam,
đòi giải quyết công ăn việc làm, bảo đảm đời sống của công nhân. Công nhân Nhà
máy Điện Yên Phụ đòi bảo đảm than dự trữ cho nhà máy hoạt động bình thường.
Công nhân Nhà máy Đèn Bờ Hồ đấu tranh ngăn chặn chủ nhà máy tháo dỡ máy móc,
thiết bị. Công nhân Nhà máy Nước tìm cách giấu những kiện hòm thiết bị quan trọng
mà địch định di chuyển khỏi nhà máy, đồng thời nêu cao cảnh giác, phát hiện và
ngăn chặn kịp thời âm mưu đặt mìn phá các trạm, chòi cấp nước trong thành phố.
Nhân viên Bưu điện Hà Nội mang cơm, nước, rải chiếu, thay nhau túc trực, ngăn
không để địch tháo gỡ thiết bị, chuyển đi. Công nhân Sở Hỏa xa và nhân dân
quanh ga đã đấu tranh chống lại âm mưu của địch là dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di
cư vào Nam và mang theo máy móc, thiết bị, tài liệu. Tự vệ và công nhân đã tổ
chức canh gác suốt ngày đêm. Ta còn chú ý vận động một số lính Âu Phi ở ga Hàng
Cỏ mở cửa kho để ta đưa vật liệu, phụ tùng đi cất giấu, trong đó có 8 chiếc
kích đầu máy xe lửa.
Cuộc đấu tranh của tự vệ, công nhân các nhà máy diễn ra sôi
nổi, rộng khắp, bằng nhiều hình thức phong phú, trong khuôn khổ trật tự, bình
tĩnh, với thái độ kiên quyết, đúng mức, có lý lẽ nên đã ngăn chặn có hiệu quả sự
phá hoại của địch.
Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân, phong trào đấu
tranh của các ngành, các giới, các tầng lớp nhân dân trong thành phố cũng phát
triển liên tục, mạnh mẽ. Tại các nhà thương (bệnh viện), Sở Y tế Bắc Việt, các
trường học, công sở,…, các giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, y tá, giáo viên, các nhà
chuyên môn,… đã cất giấu hoặc chuyển ra vùng an toàn thuốc men, dụng cụ chữa bệnh,
hồ sơ, tài liệu khoa học.
Trải qua hơn hai tháng đấu tranh quyết liệt với địch, giành
được thắng lợi to lớn. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ và nhà máy đèn Bờ Hồ đã
buộc địch phải bảo đảm đủ 4.000 tấn than dự trữ đến ngày tiếp quản. Công nhân
nhà máy nước đã giữ được nguyên vẹn thiết bị máy móc, bảo đảm cấp nước bình thường
cho thành phố. Công nhân Hỏa xa Gia Lâm đã giữ được 3 toa xe nguyên vật liệu;
công nhân hỏa xa Hà Nội giữ lại được tất cả 12 đầu máy và toàn bộ các xe.
Ở các nơi khác, công nhân cũng giữ lại được nhiều máy móc,
nguyên liệu, nhiều hồ sơ tài liệu; đồng thời vận động, thuyết phục nhiều cán bộ,
công nhân kỹ thuật ở Hà Nội, tham gia ổn định sản xuất sau khi ta tiếp quản. Kế
hoạch phá hoại một số cơ sở giao thông, điện nước, cầu và cảng, ngành đường sắt
của quân Pháp bị thất bại thảm hại.
Công cuộc tiếp quản Thủ đô đã hoàn thành tốt đẹp do Trung
ương Đảng lãnh đạo chặt chẽ; Đảng ủy tiếp quản có kế hoạch chuẩn bị tỉ mỉ, chu
đáo; cán bộ, bộ đội làm nhiệm vụ tiếp quản giữ nghiêm kỷ luật. Ta tiếp thu tuyệt
đối an toàn và nhanh gọn toàn bộ các vị trí quân sự của địch ở Hà Nội, trong đó
sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, các cơ quan quân sự ở Đồn Thủy và trong
Thành (Xi-ta-đen) có tầm quan trọng đặc biệt.
Ta cũng đã tiếp thu 129 công sở, công trình lợi ích công cộng,
xí nghiệp, bệnh viện, trường học... với Phủ Toàn quyền cũ. Phủ Thủ hiến Bắc Việt
(Bắc Bộ phủ cũ), Sở mật thám Liên bang Đông Dương, những cơ quan đầu não thống
trị của chính quyền thực dân Pháp và tay sai.
Sinh hoạt của nhân dân vẫn giữ được bình thường không bị
gián đoạn. Các ngành lợi ích công cộng như điện, nước, vệ sinh... vẫn hoạt động
đều. Các cơ quan y tế, văn hóa, giáo dục vẫn làm việc. Giao thông liên lạc
trong thành phố, giữa Hà Nội và các tỉnh được giữ vững và thông suốt. Các cửa
hàng, cửa hiệu, các chợ mở như thường lệ. Việc cung cấp lương thực, thực phẩm,
chất đốt... và nhiều mặt hàng cần thiết khác cho nhân dân được bảo đảm đầy đủ.
Mậu dịch quốc doanh giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định đời sống nhân
dân. An ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm tốt.
Đúng 16h30 ngày 9/10/1954, những lính Pháp cuối cùng rút khỏi cầu Long Biên, đánh dấu chấm hết cho sự hiện diện của quân Pháp ở Thủ đô Hà Nội. Sáng 10/10/1954, Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn 308 tiến vào tiếp quản Hà Nội trong tiếng reo hò của hàng chục vạn người dân. Ngày 10/10/1954 đã trở thành cột mốc lịch sử, ghi nhận bao nỗ lực, cả những mất mát, hy sinh của quân và dân ta./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét