Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

“CÁN BỘ CHĂM CHỈ LÀM VIỆC CHƯA ĐỦ, CẦN PHẢI BIẾT LÀM VIỆC CHO CÓ PHƯƠNG PHÁP. PHẢI CẦN MÀ PHẢI CẨN NỮA”

 Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức – một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945.

Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.

 

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI CHỦ NGHĨA CƠ HỘI HIỆN NAY

 Một trong nhiều loại biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội cực kỳ nguy hiểm là cơ hội về chính trị. Loại cơ hội về chính trị thường không rõ ràng, lờ mờ và không thể hiểu được. Bản chất của chủ nghĩa cơ hội bao giờ cũng tránh đặt vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ nó cũng tìm con đường quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những sự bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại. Khi cách mạng thuận lợi thì tỏ ra “cấp tiến”, khi cách mạng gặp khó khăn thì thoái lui, thỏa hiệp. Những người này thường che giấu bộ mặt thật, vừa tỏ ra ủng hộ đường lối của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa với danh nghĩa đổi mới tư duy để bổ sung, cụ thể hóa đường lối của Đảng, thêm “chi tiết” này, “khía cạnh” kia mà thực chất là sửa lại đường lối của Đảng.

Hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên thoái hoá về đạo đức, lối sống, biểu hiện dưới các dạng khác nhau: Sống thực dụng, vì tiền, xa hoa lãng phí, thậm chí sa đọa; ích kỷ, chỉ muốn “mọi người vì mình” mà không “mình vì mọi người”, lợi dụng chức vụ làm giàu bất chính. Sự suy thoái, biến chất về tư tưởng và lập trường chính trị và sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên đó là nguy cơ tự diễn biến từ bên trong Đảng và chế độ ta.

Tăng cường đấu tranh đẩy lùi và khắc phục chủ nghĩa cơ hội dưới mọi biểu hiện của nó là vấn đề cấp thiết trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, Các cấp uỷ, tổ chức đảng cần thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, nhận thức của cán bộ, đảng viên. Thông qua học tập, sinh hoạt và các phong trào hoạt động của cơ quan, đơn vị để giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội; kịp thời uốn nắn những nhận thức lệch lạc. Trong mọi hoạt động của các tổ chức phải giữ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên tự phê bình và phê bình nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, khắc phục thiếu sót khuyết điểm, những ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội. Nâng cao chất lượng giáo dục tư tưởng, chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân tạo sức đề kháng từ mỗi cán bộ, đảng viên. Các hình thức và phương pháp đấu tranh phải được kết hợp chặt chẽ, tạo sức mạnh tổng hợp, có hiệu quả cao./.

 

Quân đội nghiên cứu sử dụng phà quân sự phục vụ người dân lưu thông tại khu vực cầu Phong Châu (Phú Thọ).

 

Đó là chỉ đạo của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tại Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng tháng 9-2024, được tổ chức ngày 3-10.

Tại hội nghị, sau khi nghe các lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại hiện trường cầu Phong Châu (Phú Thọ) báo cáo lý do phải tạm dừng hoạt động của cầu phao quân sự vì lý do lũ tiếp tục lên cao và dòng chảy trên sông không đảm bảo an toàn, Đại tướng Phan Văn Giang đã chỉ đạo Binh chủng Công binh nghiên cứu phương án sử dụng phà quân sự để phục vụ vận chuyển người dân.

Đại tướng Phan Văn Giang chỉ đạo Binh chủng Công binh nghiên cứu sử dụng phà quân sự đưa đón người dân qua sông tại khu vực cầu Phong Châu (Phú Thọ).  
Quân đội nghiên cứu sử dụng phà quân sự phục vụ người dân lưu thông tại khu vực cầu Phong Châu (Phú Thọ)
 
Quân đội nghiên cứu sử dụng phà quân sự phục vụ người dân lưu thông tại khu vực cầu Phong Châu (Phú Thọ)
Đại tướng Phan Văn Giang chủ trì Hội nghị giao ban Bộ Quốc phòng tháng 9-2024. 

Theo đó, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho Binh chủng Công binh nghiên cứu sử dụng 2 phà chuyên dụng quân sự, gia cố thành phà dân sự để có thể chở được người đi bộ và các phương tiện như xe máy, xe đạp cùng hàng hóa trong phạm vi cho phép.

Đại tướng Phan Văn Giang cũng chỉ đạo Binh chủng Công binh phối hợp cùng Quân khu 2 và các ngành chức năng như: Quân sự, Công an, Giao thông vận tải của tỉnh Phú Thọ tổ chức thực hiện công tác phân luồng, hướng tuyến và điều tiết giao thông khi tổ chức thực hiện đưa người dân qua sông bằng phà quân sự. Đồng thời, trong quá trình thực hiện cần tăng cường các phương tiện thủy như ca nô, đầu kéo dự phòng hoạt động song hành cùng phà chở khách để sẵn sàng xử lý các tình huống, nhằm đảm bảo mức độ an toàn cao nhất trong suốt quá trình thực hiện.

Kết hợp pháp trị và đức trị trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng - Bài 2: Vì hiệu quả thực chất, bền vững...

 

Quyền lực là một trong những căn nguyên dễ làm tha hóa đạo đức con người. Vì thế, để ngăn chặn sự tha hóa, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự giác trau dồi đạo đức, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Đó cũng chính là một trong những nhân tố căn bản để rèn luyện tinh thần thượng tôn pháp luật...

Coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý

V.I.Lênin từng nói: Có ba kẻ thù chính trong mỗi người nắm quyền lực, kẻ thù thứ nhất là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, kẻ thù thứ hai là nạn mù chữ, kẻ thù thứ ba là nạn hối lộ. Trong quá trình nắm quyền, người cán bộ có thể chuyển từ người tốt sang người xấu. Để ngăn chặn, phải có đạo đức và coi trọng tu dưỡng đạo đức. Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng, đạo đức có tính tự giác, tự nguyện, là cái bên trong mỗi con người. Từ cái bên trong mà chi phối suy nghĩ, hành vi bên ngoài. Đạo đức khi được hình thành, tu dưỡng liên tục sẽ trở nên bền vững, thành nền tảng về tư cách, phẩm chất của người cán bộ cách mạng. Dù đời sống xã hội thay đổi, nhu cầu phát sinh thì nhờ có đạo đức mà điều chỉnh con người có hành vi đúng với giá trị đạo lý.

Nhờ có đạo đức mà cán bộ, đảng viên sẽ có tính hấp dẫn, tính thu hút đối với cộng đồng, xã hội. Đạo đức có sức mạnh nội sinh, tính lan tỏa lớn, đạo đức không chỉ đưa ra nguyên tắc cho cán bộ tự giác thực hiện mà còn khuyên cán bộ nên làm cái này tốt đẹp hay làm cái kia lương thiện từ đó mà tạo ra những phong trào tích cực trong xã hội. Nếu như pháp luật yêu cầu người cán bộ, đảng viên tối thiểu phải đạt được những quy định của pháp luật, bắt buộc phải thực hiện những quy phạm có tính phổ biến, phổ thông, thì ngược lại, đạo đức yêu cầu tối đa.

Đó là, đạo đức là những quy tắc, chuẩn mực có tính cách tự giác, tự nguyện, đạt đến yêu cầu cao: Khuyến khích, động viên, khêu gợi nên làm những điều cao đẹp, những điều lý tưởng, từ đó, người cán bộ hình thành những phẩm chất cao đẹp, dám hy sinh vì lý tưởng cách mạng. Đạo đức cán bộ, đảng viên tốt đẹp sẽ như ruộng lúa tốt, cỏ dại không có cơ hội mọc chen lấn, xã hội sẽ dần loại trừ những hành vi xấu, tiêu cực. Người cán bộ có đạo đức tốt sẽ khắc phục được khó khăn, gian khổ, không nề hà với công việc, rèn luyện được bản lĩnh thắng không kiêu, bại không nản, chất phác, khiêm tốn, chỉ lo hoàn thành nhiệm vụ tốt chứ không kèn cựa về lợi ích. Cũng từ đó mà người cán bộ, đảng viên tránh được tính công thần, quan liêu; không kiêu ngạo, không hủ hóa...

Lịch sử và thực tiễn cho thấy, khi chính quyền dùng đức trị bên cạnh pháp trị để quản lý, điều hành xã hội sẽ đạt được hiệu quả tối ưu. Kế thừa kinh nghiệm ấy, bên cạnh việc thực hiện quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật, Đảng, Nhà nước ta còn phát huy được sức mạnh của đạo đức, của nội lực bên trong. Đảng ta là đạo đức, là văn minh, tức là coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý. Một đảng cầm quyền mà coi trọng đạo đức thì sẽ giảm bớt rất nhiều quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch. Đảng cầm quyền mà coi trọng đạo đức thì cán bộ mắc khuyết điểm sẽ yên tâm sửa chữa để tiến bộ hơn, tránh được mặc cảm, tự ti khi đã mắc khuyết điểm.

Nhận được lòng bao dung, độ lượng của các cấp lãnh đạo, cán bộ vi phạm khuyết điểm sẽ có thái độ, tư tưởng tích cực hơn trong cuộc sống cũng như trong công tác. Đảng, Nhà nước coi trọng đạo đức trong lãnh đạo, quản lý sẽ tạo điều kiện tốt cho cán bộ, đảng viên tự giác, thành khẩn nhận khuyết điểm, tránh được tình trạng che giấu khuyết điểm. Cán bộ, đảng viên có đạo đức tốt sẽ có phương pháp giúp những cán bộ có khuyết điểm sửa sai, giúp nhau tiến bộ. Nỗi ân hận, ăn năn của người vi phạm khuyết điểm cũng chính là nỗi đau của mình. Trong xã hội, giữa cái đúng, cái sai, cái tích cực và tiêu cực còn đan xen trên nhiều lĩnh vực, phân khúc, thì việc cùng nhau nhận diện, cùng giúp nhau sửa chữa, tiến bộ là vô cùng cần thiết.

Nhìn nhận con người trong bối cảnh hiện nay cần có thái độ khách quan, toàn diện, biện chứng. Cán bộ, đảng viên cần tránh thái độ thấy đồng chí, đồng nghiệp mắc khuyết điểm thì bàng quan hoặc hả hê, chì chiết, hay có tư tưởng “giậu đổ bìm leo”, "tát nước theo mưa". Làm như thế sẽ đẩy người mắc khuyết điểm đi vào ngõ cụt của cuộc sống. Đồng thời, tránh tư tưởng, thái độ, lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng để khai thác điểm yếu, khai thác sơ hở, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin để cài bẫy cho đồng chí của mình mắc sai lầm. Cán bộ, đảng viên phải thẳng thắn, trung thực, chân thành để khuyên bảo nhau cùng tiến bộ. Yêu thương, quý mến nhau không có nghĩa là thấy đồng chí vi phạm khuyết điểm thì nể nang, né tránh không dám thẳng thắn góp ý phê bình. Đến khi đồng chí của mình vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật thì mới bới móc. Như thế là kẻ cơ hội, thiếu chân thành. Người cán bộ ngoài hiểu biết đạo đức cũng cần có lòng dũng cảm, khẳng khái thì mới thực hiện được đạo đức tốt đẹp.

Một con người, dù có vi phạm pháp luật, có tội lỗi cũng không thể đẩy họ ra khỏi xã hội. Họ vẫn phải sinh sống trong cộng đồng. Vì thế, bên cạnh sự nghiêm minh của pháp luật, xã hội cần có lòng nhân ái, bao dung, sẵn sàng thông cảm khi người mắc khuyết điểm biết ăn năn hối cải. Từ đó làm cho họ có bài học sâu sắc hơn trong cuộc sống. Những bài học đắt giá, bổ ích đó sẽ lan tỏa trong các thế hệ cán bộ, đảng viên. Từ những bài học trong quá khứ sẽ ngăn chặn được những hành vi tiêu cực tương tự có khả năng xảy ra trong hiện tại và tương lai.

Lấy đạo đức làm gốc, lấy pháp luật làm chuẩn

Sức mạnh của đạo đức và sức mạnh của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng có quan hệ biện chứng với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một xã hội phát triển tốt đẹp là xã hội lấy đạo đức làm gốc, lấy pháp luật làm chuẩn. Trong công cuộc chống tham nhũng hiện nay, không thể tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm chỉ xử lý theo pháp luật thì mới chỉ giải quyết quan hệ bên ngoài: Tội danh được chứng minh bằng tang chứng, vật chứng nhưng cái tâm, cái ý thức, tư tưởng chưa được giải quyết.

Trong các vụ án cán bộ tham nhũng, hối lộ, vấn đề đấu tranh rất khó khăn, phức tạp khi thiếu tang chứng, vật chứng. Tất cả những vấn đề đó là cái bên ngoài, bản thân người vi phạm có thể tìm cách để chối bỏ nhằm thoát tội. Vấn đề sâu xa của cán bộ, đảng viên là cái tâm phải thực sự trong sáng, nhận thức phải thật sự thấu đáo về khuyết điểm, về sai phạm. Cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ về giá trị của danh dự, của đạo đức cao đẹp thì mới có thể dứt bỏ được những cám dỗ của đời sống vật chất. Từ đó, mới tự giác nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, lấy những quy phạm pháp luật làm chuẩn mực của công vụ.

Trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nếu tách rời đạo đức khỏi pháp luật hoặc coi nhẹ, việc thực thi pháp luật của Nhà nước sẽ trở nên hà khắc, thô bạo, con người với con người trở nên xa lạ, thiếu đi cái sinh động của tình nghĩa cao thượng, thiếu tính nhân văn trong đời sống xã hội. Trước tòa, với những bằng chứng tội phạm, các vị thẩm phán, các vị luật sư luận tội buộc người vi phạm phải nhận tội nhưng nếu thiếu đạo đức thì tính tâm phục không cao. Sự miễn cưỡng nhận tội của người vi phạm pháp luật sẽ xa lạ với việc tự giác chấp hành hình phạt, từ đó cũng ảnh hưởng đến chiều sâu tính nghiêm minh của pháp luật.

Đạo đức khi được phát huy giá trị cao đẹp của nó, việc thực thi pháp luật sẽ có tính hiệu quả, tính thực thi cao. Cán bộ chấp pháp mà đạo đức kém thì có thể sử dụng pháp luật không công tâm, luận tội thiếu khách quan, thiếu chuẩn mực, xảy ra oan sai, khuất tất. Từ đó, xảy ra tình trạng thực thi pháp luật khó khăn, khiếu kiện kéo dài, vụ án có thể chấm dứt nhưng dư luận vẫn âm ỉ. Ngược lại, cán bộ có đạo đức tốt, sẽ sử dụng pháp luật nghiêm minh, chặt chẽ, công khai, thấu tình đạt lý, xử đúng người, đúng tội. Từ đó, lòng tin của nhân dân vào tính chính trực của pháp luật được khẳng định.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước ta không ngừng quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhưng đồng thời khẳng định pháp luật Việt Nam trừng trị nghiêm khắc những ai vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì. Có như vậy, tính nghiêm minh của pháp luật mới được hiện thực hóa vào trong đời sống xã hội.

Kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng là vô cùng cần thiết trong tình hình hiện nay. Bởi vì, nó vừa phát huy được sức mạnh nền tảng của đạo đức, vừa bảo đảm tính chuẩn mực của pháp luật. Có như vậy, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mới đạt được mục tiêu, kết quả thực chất, bền vững...

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Thủ tướng Ireland.

 

Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ireland, sáng 3-10 (theo giờ địa phương), tại thủ đô Dublin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Thủ tướng Ireland Simon Harris.

Trong không khí chân thành, hữu nghị và cởi mở, hai Lãnh đạo đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi nước, trao đổi về các định hướng hợp tác và biện pháp nhằm làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Ireland.

Thủ tướng Simon Harris nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Ireland, tin tưởng chuyến thăm sẽ tạo xung lực mới thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ Việt Nam - Ireland trong giai đoạn tới; chúc mừng những thành tựu to lớn của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội thời gian qua; chia sẻ về những mất mát do cơn bão số 3 (bão Yagi) gây ra, cho biết sẽ hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả của cơn bão này; khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn sự đón tiếp trọng thị và chu đáo mà Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Ireland dành cho đoàn, khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Ireland.

Trao đổi về quan hệ song phương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ireland Simon Harris bày tỏ hài lòng về sự phát triển thực chất và hiệu quả sau gần ba thập kỷ của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực. Ireland hiện là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam tại thị trường châu Âu với kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây, đạt 3,5 tỷ USD trong năm 2023. Chính phủ Ireland đã dành cho Việt Nam những khoản hỗ trợ phát triển quan trọng, góp phần giúp Việt Nam đạt trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và hiện thực hóa các Mục tiêu phát triển bền vững. Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, nông nghiệp, dược phẩm, hàng điện tử, văn hóa và giao lưu nhân dân cũng có những bước tiến đáng kể trong thời gian qua.

Nhằm gia tăng tin cậy chính trị và khai thác tiềm năng hợp tác của hai nước, hai Lãnh đạo nhất trí tăng cường trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao và các cấp bộ, ngành; triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác sẵn có, đồng thời nghiên cứu thiết lập các khuôn khổ hợp tác mới phù hợp với tình hình mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vui mừng thông báo với Thủ tướng Simon Harris việc Chính phủ Việt Nam đã quyết định và đang tiến hành các bước mở Đại sứ quán Việt Nam tại Ireland nhằm đóng góp tích cực vào sự phát triển của quan hệ hai nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Thủ tướng Ireland

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong cuộc gặp Thủ tướng Ireland Simon Harris tại thủ đô Dublin, ngày 3-10-2024. Ảnh: TTXVN

Về hợp tác kinh tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai bên cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ, tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), trong đó có việc xem xét tạo thuận lợi cho các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của mỗi nước tiếp cận thị trường của nhau; hoan nghênh Ireland có chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Ireland tăng cường đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực thế mạnh như chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đề nghị Ireland sớm hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam – EU (EVIPA) nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ đầu tư bình đẳng, cùng có lợi giữa hai bên.

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường hợp trong các lĩnh vực nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, chuyển đổi hệ thống thực phẩm bền vững, nuôi trồng thủy sản; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; ứng phó với biến đổi khí hậu.

Để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh cần đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch tại hai nước.

Hai bên nhất trí sẽ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho kiều dân hai nước sinh sống, học tập và làm việc ở cả hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước.

Trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao việc Ireland quan tâm thúc đẩy quan hệ với khu vực Đông Nam Á, Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối giúp Ireland tăng cường quan hệ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); đề nghị Ireland là cầu nối giúp Việt Nam tăng cường quan hệ với EU.

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Liên hợp quốc, ASEAN – EU…; tăng cường hợp tác trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Đối với các vấn đề an ninh khu vực và quốc tế, hai bên bày tỏ quan ngại về leo thang căng thẳng ở Trung Đông và xung đột Nga - Ukraine, kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, không dùng vũ lực, đối thoại nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình cho xung đột vì ổn định, hợp tác và phát triển của các khu vực và trên toàn thế giới. Về Biển Đông, hai nhà Lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh và tự do hàng hải tại Biển Đông, nhấn mạnh cần giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Nhân dịp này, hai bên ra Tuyên bố chung về thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - Ireland; khẳng định chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là dấu mốc quan trọng, góp phần đưa quan hệ Việt Nam – Ireland lên một tầm cao mới; nhất trí hợp tác vì sự thịnh vượng và phát triển toàn diện của cả hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển trên toàn cầu, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Tuyên bố chung cũng đề ra các định hướng hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực chính trị- ngoại giao, an ninh, giáo dục - đào tạo, thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển và các lĩnh vực tiềm năng khác, trong đó chú trọng giáo dục, nông nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa và khắc phục hậu quả bom mìn.

Sau hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ireland đã chứng kiến Lễ ký kết Thỏa thuận thiết lập Đối tác chiến lược về giáo dục đại học giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục Đại học, Nghiên cứu, Đổi mới và Khoa học Ireland nhằm đẩy mạnh các hoạt động hợp tác về giáo dục - đào tạo, trong đó chú trọng tăng cường trao đổi học bổng cho sinh viên, nghiên cứu sinh, liên kết giữa các cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu của hai nước.

*Trước đó, trong khuôn khổ chuyến thăm, Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Doanh nghiệp, Thương mại và Việc làm Ireland đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và năng lượng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp, Thực phẩm, Hàng hải Ireland đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về chuyển đổi hệ thống lương thực.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: 6 nhiệm vụ để tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển hạ tầng chiến lược.

 

Chiều 3-10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc làm việc giữa Thường trực Chính phủ với các hiệp hội, doanh nghiệp xây dựng nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy triển khai các công trình trọng điểm quốc gia.

Tại cuộc làm việc, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp xây dựng cho biết, mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết liệt, sát sao tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy triển khai các công trình trọng điểm, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như: Khó khăn trong giải phóng mặt bằng, nhất là liên quan chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng; việc cung cấp mỏ vật liệu xây dựng; hệ thống định mức xây dựng; suất vốn đầu tư xây dựng công trình; đơn giá xây dựng; việc áp dụng các công nghệ mới vào thi công các công trình; thanh quyết toán công trình còn chậm, mức phí bảo hiểm công trình còn cao, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao…

Ông Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam cho rằng, hệ thống định mức xây dựng hiện hành vẫn còn một số hạn chế như: Thiếu định mức cho một số công tác xây dựng sử dụng công nghệ mới, vật liệu mới, áp dụng phương pháp thi công mới; một số định mức vẫn còn bất cập, chưa phủ kín các loại công tác xây dựng, điều kiện áp dụng.

Ông Nguyễn Văn Trường, Giám đốc Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường phản ánh, do thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành và sự “cứng nhắc” trong các quy định nên đề xuất của doanh nghiệp về việc cứng hóa đất bùn nạo vét để sử dụng trong san lấp mặt bằng, giúp thay thế vật liệu xây dựng đang khan hiếm hiện nay và giảm thiểu tác động môi trường không được chấp nhận.

Các đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo: Hoàn thiện thể chế về đầu tư, hợp đồng, đấu thầu; phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn nữa; các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa; có cơ chế chỉ định thầu đối với một số công trình, gói thầu đặc biệt; tăng hạn mức vay cho các doanh nghiệp xây dựng; tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước liên kết với doanh nghiệp quốc tế để triển khai các dự án nhằm tranh thủ công nghệ, kinh nghiệm, nguồn lực, quản lý để doanh nghiệp trong nước không ngừng lớn mạnh…

Ông Hồ Minh Hoàng, Chủ tịch Tập đoàn Đèo Cả đề nghị Nhà nước hỗ trợ tổ chức cho doanh nghiệp Việt Nam học tập kinh nghiệm của doanh nghiệp lớn nước ngoài về triển khai các công trình quy mô lớn; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của một số bộ, ngành liên quan tiêu chuẩn, định mức chuyên ngành, mô hình BIM để áp dụng cho các công trình ngành giao thông, đặc biệt là công trình đường sắt tốc độ cao…

Sau khi đại diện các bộ, ngành và các Phó thủ tướng giải đáp, làm rõ các vấn đề mà các hiệp hội, doanh nghiệp có ý kiến; kết luận cuộc làm việc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nêu lại mục đích, ý nghĩa của cuộc làm việc; khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự vào cuộc, tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đặc biệt là các địa phương, các doanh nghiệp xây dựng, hiện nay các dự án trọng điểm, các dự án quan trọng quốc gia được triển khai tích cực, nhiều công trình đã hoàn thành, dần được hoàn thành và tiếp tục triển khai tích cực, tạo sự đột phá trong xây dựng và phát triển đất nước.

Thủ tướng Chính phủ cũng thẳng thắn chỉ rõ, mặc dù có kết quả tích cực, song hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan để triển khai thực hiện dự án và phương pháp tổ chức triển khai các dự án còn những bất cập nhất định; công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển chưa đáp ứng yêu cầu…

Nêu nhiệm vụ về phát triển hạ tầng chiến lược đã được Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ rõ 6 nhiệm vụ để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển hạ tầng chiến lược.

Trong đó, Thủ tướng yêu cầu phải nhận thức rõ, việc thực hiện đột phá chiến lược về hạ tầng là động lực cơ bản, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở ra không gian phát triển mới, tạo khu đô thị, dịch vụ mới, giảm chi phí logistics, tạo công ăn việc làm, sinh kế cho người dân, phát triển doanh nghiệp.

Do đó, phải có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, đa dạng hóa các nguồn lực gồm: Nguồn lực của Nhà nước, của doanh nghiệp, của nhân dân, của nhà đầu tư trực tiếp và gián tiếp, nguồn lực hợp tác công-tư để… phát triển hạ tầng chiến lược, với tinh thần “hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân, doanh nghiệp”; tập trung vận dụng hiệu quả thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đẩy mạnh chuyển giao khoa học công nghệ, thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển thời kỳ mới.

Nhấn mạnh, thể chế cũng là nguồn lực, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, nhất là pháp luật liên quan giải phóng mặt bằng, nguyên vật liệu, các quy chuẩn, quy trình, định mức, đầu thầu…, với yêu cầu pháp luật phải thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện hiệu quả hơn. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực thực thi, thiết kế công cụ kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân, doanh nghiệp…

Đề nghị các doanh nghiệp phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đi lên bằng bàn tay, khối óc, sức mạnh nội sinh, với sự hỗ trợ của Nhà nước về thể chế, nguồn lực và hợp tác quốc tế để phát triển lớn mạnh, Thủ tướng Chính phủ khẳng định, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp phải luôn luôn lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ những khó khăn, thách thức, kịp thời tháo gỡ để giúp doanh nghiệp phát triển, góp phần cùng đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương chủ động xử lý những nội dung nhiệm vụ trọng tâm thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm của mình, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao Bộ Xây dựng phải làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức đảm bảo hài hoà lợi ích; đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp, người dân thực hiện.

Bộ Tài nguyên và Môi trường lắng nghe, kiểm tra, giám sát, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp, xử lý kịp thời các vướng mắc; phối hợp với các địa phương xử lý các vấn đề liên quan mỏ vật liệu và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, rừng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện quản lý Nhà nước về quy hoạch, tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách mới phù hợp tình hình thực tế và huy động mọi nguồn lực xã hội để phát triển hạ tầng chiến lược.

Bộ Tài chính, cùng với đề xuất, điều hành chính sách tài khoá, nghiên cứu các chính sách về thuế, phí, lệ phí, giá cả, thanh quyết toán công trình đảm bảo thuận lợi, hiệu quả. Ngân hàng Nhà nước cùng với kiểm soát lạm phát, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, đề xuất các chính sách về lãi suất, cung cấp tín dụng, trong đó nghiên cứu có gói tín dụng cho phát triển hạ tầng chiến lược.

Yêu cầu các Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu tổ chức đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề cho lao động, phục vụ thời kỳ phát triển mới, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các địa phương phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc thúc đẩy triển khai các công trình quan trọng quốc gia, nhất là trong giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các chủ đầu tư, với tinh thần “coi công việc của các nhà thầu là công việc của mình” quản lý tốt hồ sơ, giấy tờ, quy trình thủ tục chặt chẽ; hướng dẫn cụ thể các doanh nghiệp các công việc; đồng thời tránh tiêu cực, tham nhũng trong suốt quá trình triển khai các dự án.

Đối với các doanh nghiệp, nhà thầu thi công, thiết kế, tư vấn, giám sát, với tinh thần “hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, người dân, doanh nghiệp” và “đặt lợi ích của đất nước lên trên hết, trước hết”, tuân thủ pháp luật, thực hiện tốt phương châm “đã nói là làm, cam kết phải thực hiện”; tổ chức thi công các công trình với quyết tâm “vượt nắng, thắng mưa”, “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương”, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, “làm việc xuyên ngày lễ, xuyên Tết”; phát huy tính năng động, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm triển khai các công trình đảm bảo tiến độ, chất lượng, kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường.

Chỉ đạo các hiệp hội cần nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của doanh nghiệp, tập hợp, phản ánh lên cấp có thẩm quyền, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành căn cứ chức năng, nhiệm vụ phân công “rõ người, rõ việc, rõ nhiệm vụ, rõ thời gian, rõ sản phẩm” để xử lý, với tinh thần “cái gì đã chín, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, thực hiện có hiệu quả, đa số đồng tình thì tiếp tục thực hiện, luật hóa; cái gì chưa có quy định hay thực tế vượt quá quy định thì mạnh dạn thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn và không nóng vội”.

Với quan điểm “nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân”, “đi lên từ bàn tay, khối óc, khung trời, cửa biển của mình” để “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể”, Thủ tướng mong muốn và tin tưởng các chủ thể tham gia dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia “đã làm tốt rồi, làm tốt hơn; quyết tâm rồi, quyết tâm hơn nữa; nỗ lực rồi, nỗ lực hơn nữa; quyết liệt rồi, quyết liệt hơn nữa”, tiếp tục phát triển mạnh mẽ, ngày càng khẳng định vai trò và đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 Mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu

khách quan và rõ ràng như vậy nhưng các thế lực thù địch vẫn thường xuyên sử dụng tôn giáo

hòng thực hiện các mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng vấn đề dân

chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bóp méo, cho rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo”; lợi dụng các vấn

đề chính trị-xã hội phức tạp trong nước để kích động ly khai, biểu tình; lợi dụng sự thiếu hiểu

biết, cả tin của một bộ phận dân chúng để thành lập các “đạo lạ”, các tổ chức núp dưới danh

nghĩa tôn giáo nhưng mang màu sắc chính trị, truyền đạo trái phép. Các đối tượng lồng ghép

những tư tưởng phản động, xuyên tạc bản chất chế độ chính trị, chống đối chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền, gieo

nên những cái nhìn định kiến, ác cảm; kích động gây rối, làm mất ổn định chính trị-xã hội, gây

mất đoàn kết lương-giáo, chia rẽ dân tộc... Các đối tượng âm mưu lôi kéo đồng bào tôn giáo khỏi

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, gây sức ép để vô hiệu hóa chính quyền cơ sở,

kích động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Lợi dụng quyền “tự do tôn giáo”, chúng cố tình

đánh tráo khái niệm để cho rằng con người có quyền “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, tức là để tôn

giáo đứng ngoài pháp luật.

KHẢ NĂNG “DUNG HÒA” TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 Một trong những đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam là tính dung hoà: người Việt luôn luôn

muốn sống hoà hợp với tự nhiên, dung hoà với xã hội và con người. Mặc dù là một đất nước đa

tôn giáo nhưng với tính cách dung hoà vốn có từ ngàn xưa, người Việt không có tư tưởng kỳ thị

hoặc chia rẽ tôn giáo. Do vị trí địa lý đặc biệt nên từ xa xưa, Việt Nam trở thành nơi giao thoa

của các nền văn hoá trong khu vực và trên thế giới. Mỗi khi có luồng tư tưởng mới, có một tôn

giáo mới du nhập, truyền bá vào nước ta, ông cha ta thường giữ tâm thế “lấy tĩnh chế động” để

quan sát và “gạn đục khơi trong”, tiếp nhận những tinh hoa của nó, đồng thời Việt hoá để nó phù

hợp với tâm lý xã hội, thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Có lẽ với đặc tính đó mà ngày nay, chúng

ta rất dễ dàng nhận thấy ở hầu hết các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ còn có rất

nhiều người dân, thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch,

tìm hiểu văn hoá, tín ngưỡng… Bức tranh tôn giáo đa dạng đã góp phần làm giàu cho đời sống

tinh thần của người Việt. Những giá trị đạo đức, nhân văn của các tôn giáo, những công trình

kiến trúc, những tác phẩm văn học, nghệ thuật về đời sống tôn giáo… cùng với hệ thống lễ hội

tôn giáo đã tạo nên bức tranh muôn màu của văn hoá Việt Nam.

VIỆC ĐẢM BẢO TỰ DO, TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Qua thống kê cho thấy, tính đến nay, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo

khác nhau với trên 27,2 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 148 nghìn chức việc, số

lượng chức sắc, chức việc trong tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức Giáo hội, là

người thụ hưởng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trên 29.718 cơ sở thờ tự… Bên

cạnh đó, hàng năm có trên 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia; các

tổ chức, cá nhân tôn giáo được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã

hội, các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở

khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, với 300 trường mầm non... Từ năm 2018-2021 đã

cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm với hơn 7 triệu bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được

dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng dân tộc và có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt

động. 10 năm qua, thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ sở thờ tự. Năm 2022, chính quyền các

cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo cho 486 cơ sở, tăng 60 cơ sở thờ tự tôn giáo so với

năm 2021; cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản

cho 140 xuất bản phẩm với 684.250 bản in.

Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay, quan hệ

quốc tế ngày càng mở rộng, chức sắc, chức việc, tín đồ ngày càng đông, cơ sở thờ tự ngày càng

khang trang, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy

định của pháp luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi

các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay đã có gần 2.000 lượt cá

nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế

liên quan đến tôn giáo, gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao

đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự ở Việt Nam. Điều đó không chỉ thể hiện sự chăm lo toàn

diện của Đảng, Nhà nước đối với đời sống tôn giáo mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng của đông

đảo chức sắc, tín đồ về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng qua những giá trị tinh thần cao

đẹp của dân tộc. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

QUYỀN CON NGƯỜI VỀ MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC TÔN TRỌNG Ở VIỆT NAM

 Đảng, Nhà nước ta luôn xác định bảo vệ môi trường và phát triển bền vững có mối quan hệ biện

chứng với nhau. Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, mối quan hệ lớn “Giữa tăng trưởng kinh

tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” được bổ sung thêm nội dung bảo vệ

môi trường. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2026 tiếp tục khẳng định: “Phát triển

nhanh và bền vững…; phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường và

thích ứng với biến đổi khí hậu”.

Đối với quyền con người về môi trường và tiếp cận quyền con người trong bảo vệ môi trường là

vấn đề mới với các quốc gia khác trên thế giới. Ngày 20/9/1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc.

Quá trình phát triển đều xác định bảo vệ môi trường và quyền con người về môi trường là một

nội dung được quan tâm, chú trọng trong chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước ta. Các bản

Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013 đều khẳng định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

trong bảo vệ môi trường. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 chính thức coi quyền con người về môi

trường là một quyền cơ bản, được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm. Điều 43 quy định:

“Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.

Trên tinh thần khẳng định quyền con người về môi trường của các bản hiến pháp, nhiều chính

sách pháp luật cụ thể hóa Hiến pháp về bảo vệ môi trường được ban hành. Trong đó, vấn đề

quyền con người trong bảo vệ môi trường không ngừng được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với

thực tiễn. Cho đến nay, quyền con người về môi trường được thể hiện trong nhiều văn bản pháp

luật, từ Luật Điện lực sửa đổi 2012, Luật Thủy sản 2017, Luật Lâm nghiệp 2017, Luật Đo đạc và

bản đồ 2018 đến Luật Bảo vệ môi trường 2020...

Trong quá trình tham gia hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, Việt Nam đã chứng minh là

thành viên có trách nhiệm trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn

cầu, nỗ lực hoạt động và có nhiều sáng kiến thiết thực. Thể hiện qua các cam kết mạnh mẽ của

Việt Nam như: Đưa phát thải ròng về “0” vào năm 2050; không xây mới điện than từ năm 2030

và loại bỏ dần điện than từ năm 2040; tuyên bố về rừng và sử dụng đất; tham gia liên minh thích

ứng toàn cầu; giảm 30% khí thải metan vào năm 2030 so với mức năm 2020…

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Có thể thấy, các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền trong mọi lĩnh vực

đời sống xã hội, trong đó có bảo vệ môi trường để chống phá Việt Nam. Không khó để hiểu vì

sao những năm gần đây họ lại vin vào vấn đề môi trường, quyền con người trong lĩnh vực này để

tìm cách xuyên tạc, đưa ra những luận điệu sai trái để đả phá. Bởi lẽ, vấn đề bảo vệ môi trường

đang trở nên nóng hổi, bức thiết hơn bao giờ hết, luôn được các nước, tổ chức quốc tế quan tâm

khi mà tình trạng ô nhiệm môi trường đang là vấn nạn của các quốc gia, thách thức toàn cầu.

Mục đích của các thế lực thù địch đưa vấn đề quyền con người trong bảo vệ môi trường để tạo ra

bức bình phong, vỏ bọc để dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá. Từ đó họ cố gắng “bẻ

lái”, thay đổi sự thật nhằm tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào nước ta, vu cáo “bắt bỏ tù nhà

hoạt động môi trường” để gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Từ đó, họ phủ

nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ năng lực quản lý xã hội của Nhà nước; hạ thấp vị thế, uy

tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Còn ở trong nước, một số đối tượng cũng che đậy dưới

danh nghĩa “hoạt động vì môi trường” để thực hiện hành vi chống đối, gây rối trật tự.

ĐẢNG TA ĐỦ KHẢ NĂNG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ

 Thực tế cho thấy, bản chất cách mạng, tính tiền phong và năng lực lãnh đạo, tổ chức thực tiễn là

nhân tố cơ bản quyết định, bảo đảm Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng để chống tham

nhũng hiệu quả.

Theo báo cáo của TI, trong lúc tình hình không được cải thiện hoặc tồi tệ hơn ở 86% các quốc

gia trong bảng xếp hạng thì chỉ số CPI của Việt Nam liên tục được cải thiện..

Đó là kết quả của cả một quá trình PCTNTC rất quyết liệt do Đảng ta lãnh đạo. Với nhận thức,

tham nhũng là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, Đảng ta xác định đấu tranh PCTNTC là

một việc làm cần thết, tất yếu, hợp lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại. Vì vậy, tiếp nối

kết quả từ những nhiệm kỳ trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra phương châm: “Kiên quyết, kiên

trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động

mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”.   

Dấu ấn nổi bật là việc Bộ Chính trị quyết định bổ sung, mở rộng chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng để chỉ đạo cả công tác phòng,

chống tiêu cực. Từ đây, cuộc đấu tranh PCTNTC bước sang giai đoạn mới, đi vào chiều sâu, gắn

kết chặt chẽ hơn giữa “xây” và “chống”, giữa PCTNTC với xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ngay sau

đó, Ban chỉ đạo đã quyết định đưa một số vụ việc tiêu cực vào diện theo dõi, chỉ đạo, qua đó, các

cơ quan chức năng đã làm rõ, xử lý nghiêm hành vi tiêu cực của nhiều cán bộ, đảng viên.

Công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh. Các

cơ quan chức năng đã chủ động phát hiện, quyết liệt đấu tranh, khởi tố, điều tra, xử lý nhiều vụ

án tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra trên diện rộng, trong các

lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, vi phạm có tính hệ thống, có tổ chức, cả trong khu

vực nhà nước và ngoài nhà nước. Qua xử lý các sai phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực đã

xử lý trách nhiệm chính trị của người đứng đầu trong việc để xảy ra vi phạm, khuyết điểm

trong lĩnh vực được phân công quản lý, phụ trách theo đúng nguyên tắc “không có vùng

cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.. Đảng ta đã “nói đi đôi với làm”, chống tham

nhũng, tiêu cực đã “tắm từ trên đầu xuống”, không phải chỉ “tắm từ vai xuống” như có ý kiến

băn khoăn, lo lắng thời gian trước.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ THAM NHŨNG

 Có thể khẳng định luận điểm cho rằng “tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ xã hội chủ

nghĩa, của chế độ một đảng cầm quyền” và “chế độ một đảng không chống được tham nhũng” là

hoàn toàn sai cả về lý luận và thực tiễn. Tham nhũng gắn với cá nhân có quyền lực và tham

nhũng tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Nhà nước ta

là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên xét về bản chất, không có cơ sở sinh

ra tham nhũng. Tham nhũng, tiêu cực về bản chất là tàn dư của chế độ cũ, xã hội cũ, con người

cũ. Chỉ những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, nhưng thiếu tu dưỡng, rèn luyện mới sa vào

chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, rồi việc thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức, của

nhân dân mới dễ làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Hiệu quả của việc Phòng chống tham nhũng tiêu cực  đến đâu là do sức đề kháng của chế độ xã hội mới-xã hội chủ nghĩa, do năng lực của Đảng cầm quyền, do chất lượng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phụ thuộc vào phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

CHẾ ĐỘ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN KHÔNG PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN SINH RA THAM NHŨNG

 Các thế lực thù địch, phản động thời gian qua vẫn cố gieo rắc quan điểm sai trái cho rằng: Chế

độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tham nhũng; tham nhũng là thuộc về bản chất

của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chỉ khi nào ở Việt Nam bỏ chế độ độc đảng lãnh đạo,

thực hiện chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới được dẹp bỏ.

Trước hết, tham nhũng là căn bệnh do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra. Có nhà

nước là có nguy cơ sinh ra căn bệnh tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó là xã hội chủ

nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, đi theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Chỉ khi quyền lực

được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện thì

quyền lực sẽ không thể bị lạm dụng, tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa.

Như vậy, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham

nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng.

Thực tế là, ở các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn cứ hoành hành. Báo cáo

Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2022, do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) vừa công bố

đầu năm 2023 cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào không có tham nhũng, không nhà

nước nào là hoàn toàn minh bạch, trong sạch. TI sử dụng thang điểm từ 0 đến 100 để phản ánh

quan điểm của các chuyên gia và giới kinh doanh đánh giá về tình trạng minh bạch và hiệu quả

công tác phòng, chống tham nhũng của mỗi quốc gia, trong đó điểm số 0 là rất tham nhũng và

điểm số 100 là rất trong sạch. Quốc gia có điểm số cao nhất thế giới trong bảng xếp hạng này là

Đan Mạch với số điểm 90, Phần Lan và New Zealand cùng đứng thứ hai với số điểm 87. Cũng

trong bảng xếp hạng này, Nhật Bản và Vương quốc Anh cùng xếp thứ 18 với số điểm là 73, Hoa

Kỳ xếp thứ 24 với số điểm là 69, Hàn Quốc xếp thứ 31 với số điểm là 63. Như vậy, từ báo cáo

trên thì các quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng về phòng, chống tham nhũng vẫn không hoàn toàn

trong sạch và minh bạch. Những quốc gia luôn tự đề cao như một hình mẫu về dân chủ và tinh

thần chống tham nhũng thì vẫn có chỉ số chống tham nhũng khá khiêm tốn.

Nếu ai đó cho rằng, thực hiện chế độ đa đảng sẽ tạo ra phép màu để triệt tiêu được tham nhũng là

hoàn toàn sai lầm. Việt Nam chúng ta đứng thứ 80 trong bảng xếp hạng 180 quốc gia, vùng lãnh

thổ về chỉ số CPI. Như thế, có 100 quốc gia, vùng lãnh thổ xếp dưới chúng ta trong bảng xếp

hạng này. Mà trong đó, đại đa số quốc gia này theo chế độ đa đảng. Vậy tại sao các quốc gia,

vùng lãnh thổ có hệ thống chính trị đa đảng phái vẫn có hiệu quả phòng, chống tham nhũng kém

Việt Nam?

Như thế có thể thấy hiệu quả phòng, chống tham nhũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng

lãnh đạo hay chế độ đa đảng mà phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật, năng lực quản

trị của Nhà nước và phẩm chất của cán bộ, công chức. Sẽ thật ngây thơ khi ai đó tin rằng, cứ có

đa đảng thì sẽ có sự kiểm soát quyền lực tốt hơn, dẫn tới triệt tiêu tham nhũng. Tại những quốc

gia đa đảng phái thì vẫn luôn có sự thỏa thuận quyền lực của các đảng phái đại diện cho giai cấp

thống trị xã hội. Dù có bao nhiêu cuộc bầu cử thì quyền lực nhà nước vẫn không thoát khỏi sự

thống trị của các đảng phái này. Vì thế, tại các quốc gia đó, nguy cơ và thực tế tham nhũng vẫn

luôn là thách thức hiện hữu.

CÁC BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các cá nhân

và tổ chức ở Việt Nam. Nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền phải được thường xuyên

đổi mới, phù hợp với thực tế, đặc biệt chú ý đến phương pháp, phù hợp với trình độ dân trí,

phong tục tập quán… để mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến

được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, các tổ chức và người dân cần hết sức tỉnh táo; nhận

định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện

pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng

cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy đảng,

chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của

bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Cần khẳng định rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cổ xúy và bảo vệ những hành

vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý tổn hại đến trật

tự, an toàn xã hội; dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để chống phá

đất nước, xâm phạm đến lợi ích Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân. Nhà nước Việt

Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm

việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Từ đây cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng

ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và cải cách hành chính; nâng

cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc

thực thi các quy định của pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên,

môi trường…

Phát huy dân chủ, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân; gắn dân chủ với tăng cường kỷ

cương, kỷ luật, pháp luật của Nhà nước. Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng

liêng, là một biểu hiện cho tiến bộ, phát triển của xã hội nhưng tuyệt đối không thể là sự tự

do “vô chính phủ”. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật các quốc gia và pháp luật

quốc tế.

Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” của

các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan

trọng, có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, góp phần thống nhất nhận thức và hành

động trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân vì sự ổn định và phát triển bền

vững của đất nước.

MỤC TIÊU VÀ BẢN CHẤT CỦA THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là tạo sự chuyển hóa

từ bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước ta, chúng tập trung chống phá cả về lý luận, quan điểm,

đường lối, xóa bỏ nền tảng tư tưởng và đòi tước bỏ cơ sở pháp lý bảo đảm vai trò lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt Nam; khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã

hội “dân chủ”.

Chúng kêu gọi và thổi phồng rằng người dân cần phải được “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức

trách nhiệm công dân”, “ý thức pháp luật”, lên tiếng để thay đổi luật pháp cho phù hợp với ý chí

của cá nhân, và kêu gọi rằng không thể chỉ dừng lại ở đấu tranh cho một số đạo luật, và muốn

bảo đảm “thượng tôn pháp luật” phải thực hiện đa nguyên đa đảng theo mô hình dân chủ phương

Tây.

Về bản chất, hoạt động “bất tuân dân sự” là tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương,

đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; không ngừng sử dụng luận điệu kêu gọi

thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương

lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập”; thúc đẩy,

kích động tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật

tự, an toàn xã hội...

Trước những âm mưu, thủ đoạn “bất tuân dân sự” hiện nay đòi hỏi cả hệ thống chính trị cùng

mọi người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, trách nhiệm xã hội, chủ động nắm chắc tình hình,

âm mưu, ý đồ của các đối tượng chống phá để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu

những mầm mống mới phát sinh, kịp thời xử lý một cách linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu

quả những tình huống phức tạp.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG “BẤT TUÂN DÂN SỰ” ĐỂ CHỐNG PHÁ

 Nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các đối tượng cơ hội chính trị, các

thế lực thù địch ra sức cổ xúy cho “bất tuân dân sự”. Trong các cuộc “cách mạng màu”, “cách

mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Đông Đức; “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia; “cách mạng cam” ở

Ucraina; “cách mạng hoa nhài” (Mùa xuân Ả Rập) ở các nước Trung Đông và Bắc Phi trong

những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Công

(Trung Quốc) hay các cuộc biểu tình phản đối sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng

Công (Trung Quốc) năm 2019, năm 2020… đều có dấu ấn của “bất tuân dân sự”. Điểm chung

của các phong trào này là nhằm gây trở ngại cho hoạt động thực thi công lý, gây mất ổn định an

ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây khủng hoảng toàn diện cho nhiều quốc gia và vùng lãnh

thổ.

Ở Việt Nam, thủ đoạn “bất tuân dân sự” được các thế lực thù địch triệt để sử dụng dựa trên các

vấn đề nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, bất cập, hạn chế trong

triển khai các quyết sách phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa, đối ngoại... Các đối tượng chống phá

lợi dụng một số sai phạm, yếu kém của tổ chức, cá nhân để rêu rao Việt Nam vi phạm tự do, dân

chủ, nhân quyền, từ đó kích động lôi kéo người dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, tập dượt kịch

bản đấu tranh chuẩn bị cho những bước chống phá cao hơn. Các đối tượng không ngừng tuyên

truyền cho rằng: “Lối thoát cho Việt Nam là bất tuân dân sự”, hay “Bất tuân dân sự là con đường

tự do cho Việt Nam”.

Trong những năm gần đây diễn ra hàng loạt vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự” như khi

giải phóng mặt bằng ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng, Đắk Nông, Gia Lai, một số đối tượng đã

“bất tuân cưỡng chế”, chống lại cơ quan thực thi pháp luật; hay “bất tuân” quy định về thành lập

hội (nhóm) để lập các tổ chức dân sự nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền như “hội văn đoàn

độc lập”, “hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “hội anh em dân chủ”, “hội cựu tù nhân lương tâm

Việt Nam”, “hội phụ nữ nhân quyền”… lập ra để phản đối các bộ luật ở nước ta. Vụ việc phức

tạp tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội tháng 1/2020 là điển hình của việc coi thường pháp

luật, vi phạm các quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến dư luật hết sức bất bình.


HIỂU RÕ VỀ THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

 Trong giai đoạn hiện nay, một thủ đoạn mới mang tên “bất tuân dân sự” được các thế lực thù

địch sử dụng nhằm tăng cường“diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội

chủ nghĩa. Nhận diện thủ đoạn “bất tuân dân sự” ở Việt Nam hiện nay để có biện pháp ngăn chặn

kịp thời, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ sự ổn định chính trị-xã hội

là hết sức cần thiết.

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” bắt nguồn lần đầu tiên trong tập tiểu luận của tác giả người Mỹ

Henry David Thoreau với tiêu đề “Dân sự bất hợp tác” viết vào tháng 5/1849. Nhằm bào chữa

cho việc phải ngồi tù vì tội không đóng thuế ở Massachusetts, Henry David Thoreau viết tập tiểu

luận để khẳng định rằng cá nhân (hoặc một bộ phận thiểu số công dân) không cần tuân thủ và

phục tùng nhà nước, thậm chí có thể chống lại việc thực thi luật pháp của nhà nước nếu thấy

không phù hợp.

Thực chất, đây là quan điểm cực đoan, vô chính phủ, tiềm tàng nguy cơ bất ổn cho xã hội. Sau

này, “bất tuân dân sự” dần được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế sử dụng

thành thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, âm mưu làm thay đổi chế

độ chính trị ở những quốc gia tiến bộ, không cùng “quỹ đạo” với chúng. Dù bề ngoài có vẻ ôn

hòa, núp bóng “dân sự”, không bạo lực vũ trang, nhưng phong trào “bất tuân dân sự” đem lại

những hiểm họa khôn lường cho xã hội.

Hiện nay, “bất tuân dân sự” được hiểu là hoạt động công khai từ chối tuân theo hoặc cố ý vi

phạm với một số quy định pháp luật của nhà nước với những lý do không chính đáng. Về cơ bản,

những hành động “bất tuân dân sự” là hình thức phản kháng ôn hòa, bất bạo động nhưng lại thể

hiện rõ ràng sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền

trong một xã hội văn minh.

Đặc biệt, với chiến lược “diễn biến hòa bình” từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế

quốc xây dựng tư tưởng chủ đạo muốn chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ

nghĩa bởi vậy “bất tuân dân sự” dần trở thành phương thức thủ đoạn có sự liên hệ chặt chẽ các

phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”.

PHƯƠNG PHÁP ĐỂ TRUYỀN TẢI THÔNG TIN TÍCH CỰC CÓ HIỆU QUẢ

 Trước hết, các cấp, các ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, nhất là người đứng đầu, cán bộ,

đảng viên cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lan tỏa thông tin tích cực trong

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là ngăn chặn,

triệt phá, xóa bỏ thông tin tiêu cực, thông tin xấu, độc, đấu tranh trực diện với các luận điệu

xuyên tạc, sai trái, thù địch mà còn phải chủ động đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin

tích cực, thông tin có tính định hướng, tạo môi trường thông tin lành mạnh, “giải độc” thông tin

kịp thời, góp phần ổn định, định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự

lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, vào những thành tựu đã đạt được của đất nước.

Hai là, mỗi cán bộ, đảng viên, thanh niên, quần chúng nhân dân cần chủ động, tích cực đăng tải,

chia sẻ thông tin tốt, thông tin tích cực trên các trang tin, tài khoản mạng xã hội. Đặc biệt, cần

tích cực sử dụng tài khoản mạng xã hội, trang cá nhân để đăng tải, chia sẻ các thông tin tích cực,

thông tin tốt, thông tin chính thống nhằm lan tỏa những thông tin, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay,

việc làm ý nghĩa, những điều tốt đẹp trong xã hội đến với cộng đồng. Hiện nay, hầu hết mỗi cán

bộ, đảng viên trẻ, đoàn viên, thanh niên đều sử dụng mạng xã hội và có ít nhất một tài khoản

mạng xã hội. Nếu mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên mỗi ngày đăng tải, chia sẻ một

tin tốt, mỗi tuần đăng tải, chia sẻ một câu chuyện đẹp thì sẽ góp phần lấn át, ngăn chặn, đẩy lùi

các thông tin tiêu cực, thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Bên cạnh

đó, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên cần vận động người thân, bạn bè tích cực đăng tải,

chia sẻ các thông tin tốt, hình ảnh đẹp, những câu chuyện mang giá trị nhân văn, đề cao cái tốt,

cái đẹp lên mạng xã hội, qua đó hướng mọi người tới các giá trị cao đẹp, sống có lý tưởng, có

hoài bão, có bản lĩnh, sống đẹp, sống có ích, trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, góp phần

phản bác các thông tin xấu, độc, quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức trong việc lan tỏa thông tin tích cực,

thông tin chính thống. Triển khai xây dựng hệ thống các trang tin, fanpage của các xã, thị trấn,

phấn đấu 100% các xã, thị trấn trong cả nước đều có trang fanpage riêng nhằm tạo thành hệ

thống thông tin tuyên truyền. Thông qua các trang tin, tài khoản mạng xã hội này để đăng tải,

chia sẻ thông tin tích cực, thông tin tốt, phản bác mạnh mẽ các quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong cả nước, các trang tin, tài

khoản mạng xã hội của các cơ quan, tổ chức, bộ, ngành, địa phương, Đoàn Thanh niên trong việc

đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin tích cực. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần tiếp

tục duy trì có hiệu quả các chuyên mục, chuyên trang về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng thời, tăng cường liều lượng đăng phát các thông tin tốt, tích cực, gương người tốt việc tốt

để góp phần lan tỏa những điều tốt đẹp, ý nghĩa, nhân văn trong cuộc sống, định hướng dư luận

xã hội. Bên cạnh đó, cần huy động đội ngũ trí thức, chuyên gia, các nhà khoa học, nhà nghiên

cứu, nhà báo có uy tín, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ, thanh niên, những người có uy tín, ảnh

hưởng trên không gian mạng… đăng tải, chia sẻ các thông tin tốt, thông tin tích cực, góp phần

bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, đa dạng hóa các hình thức, cách thức lan tỏa thông tin tích cực. Kết hợp lan tỏa thông tin

tích cực trên các cơ quan báo chí, truyền thông với sử dụng các trang thông tin điện tử, tài khoản

mạng xã hội để đăng tải thông tin tích cực. Đặc biệt, cần chú ý, thông tin tốt, thông tin tích cực

được đăng tải, chia sẻ trên các nền tảng Internet, mạng xã hội cần phải đa dạng, sinh động, “bắt

mắt, lọt tai”, phù hợp với tâm lý công chúng, nhất là giới trẻ và nền tảng truyền thông đa phương

tiện giúp người dùng tiếp cận với thông tin dễ dàng và tiện lợi nhất.

ĐẨY MẠNH LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC, THÔNG TIN CHÍNH THỐNG TỚI MỌI TẦNG LỚP NHÂN DÂN

 Với tinh thần “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, thời gian qua, các bộ,

ngành, địa phương, các cơ quan báo chí đã sử dụng nhiều hình thức, cách thức, phát động nhiều

phong trào, cuộc vận động với những mô hình hay, thiết thực, ý nghĩa nhằm lan tỏa thông tin tốt,

thông tin tích cực góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là:

Thông qua việc thiết lập các chuyên trang, chuyên mục về bảo vệ nền tảng tư tưởng, gương

người tốt việc tốt, sự kiện và bình luận… trên các cơ quan báo chí chính thống của Đảng, Nhà

nước, bộ, ngành, địa phương để tuyên truyền các thông tin tốt, thông tin tích cực. Điển hình như

Báo Nhân dân mở các chuyên mục: “Đảng với sự nghiệp đổi mới”, “Việc cần làm ngay”, “Bình

luận phê phán”…; Báo Công an nhân dân đã mở các chuyên mục: “Chống diễn biến hòa bình”,

“Vấn đề hôm nay”, “Công an trong lòng dân”, “Gương sáng”…; Báo Quân đội nhân dân mở các

chuyên mục: “Đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”, “Tiếp lửa truyền thống”, “Bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng”…; 

Thông qua các chuyên trang, chuyên mục này, các cơ quan báo chí không chỉ đăng tải các thông

tin, bài viết, phóng sự đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn chủ động đăng

tải, lan tỏa các thông tin tốt, thông tin tích cực nhằm định hướng dư luận xã hội. Bên cạnh đó,

một số cơ quan báo chí như Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói

Việt Nam đã chú trọng phát triển các kênh tuyên truyền đối ngoại đến với người Việt ở nước

ngoài và cộng đồng quốc tế, góp phần đưa thông tin khách quan, đúng đắn về tình hình đất nước.

Thiết lập, duy trì hoạt động của các trang thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội (Facebook,

Fanpage, YouTube…) để đăng tải tin, bài, phóng sự, video clip, hình ảnh… có nội dung tích cực,

thông tin tốt, thông tin chính thống. Thông qua đó, tạo dòng thông tin chính thống định hướng dư

luận, tạo đồng thuận trong xã hội ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật

của Nhà nước…

Vận động cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, đoàn viên, thanh niên sử dụng các trang

thông tin điện tử, tài khoản mạng xã hội cá nhân đăng tải, chia sẻ các thông tin chính thống,

thông tin tích cực, đồng thời không đăng tải, chia sẻ tin giả, tin sai sự thật, thông tin chưa được

kiểm chứng trên các trang cá nhân. Điển hình như Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Chí Minh phát động cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp trên

mạng xã hội”…

Có thể thấy rằng, những thông tin tốt, tích cực, chính thống được đăng tải rộng rãi trên báo chí,

Internet, mạng xã hội thời gian qua không chỉ định hướng dư luận xã hội mà còn “lấn át”, “giải

độc” các thông tin xấu, thông tin tiêu cực, phản bác các thông tin xuyên tạc, các quan điểm sai

trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.