Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Nhận diện, ngăn chặn âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trong những năm qua, hệ thống chính trị các cấp từ Trung ương đến cơ sở dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, công tác tuyên truyền, vận động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể và sự tích cực tham gia của chức sắc, tín đồ tôn giáo, đã từng bước đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Về tín ngưỡng có khoảng hơn 8 nghìn lễ hội hàng năm; về tôn giáo có 46 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế trong đó có việc thực hiện nhất quán chính sách đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân nên trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới với nhiều biểu hiện, tính chất khác nhau.

Qua khảo sát ở các tỉnh, thành phố có thể thấy các hiện tượng tôn giáo mới chưa có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi hoàn chỉnh mà chủ yếu vay mượn giáo lý của các tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Tin Lành, Công giáo, tín ngưỡng dân gian.

Các hiện tượng tôn giáo mới tạo ra những áp lực cho một số chính quyền các cấp trong xử lý hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới xảy ra trên địa bàn. Hoạt động của không ít các hiện tượng tôn giáo mới đã ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội, như: truyền bá những tư tưởng phản khoa học về tâm lý và sức khỏe của con người; trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội; xúi giục phá bỏ bàn thờ ông bà, tổ tiên, không hiếu kính với ông bà, cha mẹ, chỉ tin vào đấng siêu nhiên gây ra những mâu thuẫn trong gia đình, dòng họ; tuyên truyền sai trái các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, gây phức tạp về an ninh, trật tự xã hội; trái với hương ước, quy ước của khu dân cư gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của một bộ phận dân cư.

Một số hiện tượng tôn giáo mới tuyên truyền người tin theo không chăm lo đến sản xuất mà tụ tập cầu cúng, lợi dụng niềm tin của người theo để trục lợi bất chính, lợi dụng giáo lý của các tôn giáo truyền thống nhưng khi thuyết giảng lại phủ nhận giáo lý các tôn giáo truyền thống, xúc phạm giáo chủ, chức sắc các tôn giáo truyền thống, gây mất đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Một số hiện tượng tôn giáo mới hoạt động trên phạm vi rộng đưa Bác Hồ thành Đấng Thánh như Đức Phật tái thế nên dễ dẫn đến việc gây mất an ninh chính trị, xã hội, chuẩn mực đạo đức. Trong số các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện và tồn tại ở nước ta hiện nay có một số nhóm, hệ phái cực đoan, còn gọi là tà giáo, tà đạo với các biểu hiện tuyên truyền mê tín dị đoan, chữa bệnh tâm linh, gây phương hại về sức khỏe và tính mạng cho người tin theo. Để lôi kéo được nhiều người tin theo, các nhóm Vàng Chứ, Dương Văn Mình, Amí Sara, Hà Mòn... chú trọng tuyên truyền mê tín dị đoan nhấn mạnh đến ngày tận thế để những người tin theo sẽ được cứu vớt, không phải lao động mà vẫn sung sướng.

Các giáo phái như: Tâm linh Hồ Chí Minh, Long hoa Di Lặc, Amí Sara, Pơ khắp Brâu, Hà Mòn... hứa hẹn với tín đồ và người dân về khả năng chữa bệnh không dùng thuốc. Người đứng đầu các nhóm này luôn khuyên bệnh nhân từ chối các liệu pháp y học để chữa trị bằng pháp thuật và cầu nguyện. Một số hiện tượng tôn giáo mới gây xáo trộn trong đời sống gia đình và cộng đồng như tín đồ theo Thanh Hải Vô thượng sư hằng ngày ngồi thiền 2-3 giờ, sống cách xa họ hàng, không uống nước chung, không ăn chung bát đũa, không ăn đồ cúng lễ... gây bất hòa trong quan hệ gia đình và cộng đồng; kích động chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gây phương hại đến an ninh quốc gia.

Các tà đạo “Cây Thập giá Chúa Giêsu Krits”, “Tin lành Đấng Christ Việt Nam” và “Hà Mòn” ở khu vực Tây Nguyên đều ý thức tạo dựng các giáo phái này trở thành đạo Tin lành mới và Công giáo mới của các tộc người thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên, thể hiện rõ chủ nghĩa ly khai phục vụ mưu đồ chính trị của các thế lực phản động trong nước và ngoài nước. 

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân, từng bước đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước trên các lĩnh vực như:

Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng: Hệ thống chính trị các cấp đã đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị; chức sắc, chức việc, tín đồ trong các tổ chức giáo hội về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo pháp luật; chú trọng tuyên truyền công tác tôn giáo và lợi dụng tôn giáo cho đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào theo tôn giáo; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào.

Bằng công tác tuyên truyền đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, các lực lượng chức năng ở các địa phương đã vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá nước ta, làm cho đồng bào theo các tôn giáo nhận rõ bản chất thâm độc, nham hiểm của chúng.

Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: Chính phủ đã ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng hàng vạn công trình hạ tầng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là hệ thống giao thông, điện, thủy lợi, các công trình nước sạch, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, chợ... Các địa phương đã quan tâm hơn đến việc giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ, chức sắc tôn giáo trong việc giúp đỡ xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, đào tạo chức sắc, in kinh sách, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo tổ chức sinh hoạt tôn giáo…

Tạo điều kiện giúp đỡ các tổ chức tôn giáo thực hiện việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Từ năm 2003 đến nay, cơ quan quản lý nhà nước đã xem xét đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận tổ chức với 25 tổ chức tôn giáo, nâng tổng số các tổ chức tôn giáo được công nhận lên 46 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, góp phần quan trọng trong đấu tranh với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

Trên lĩnh vực đối ngoại: Với phương châm tích cực, chủ động, mềm dẻo trong đấu tranh ngoại giao, các cơ quan chức năng ở Trung ương và các địa phương đã chủ động hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế để tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách, pháp luật và những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân thông qua các hoạt động của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá nhân tôn giáo và liên quan đến tôn giáo ở trong nước và ở nước ngoài; tăng cường trao đổi đoàn, tham dự các diễn đàn, hội thảo, đối thoại về nhân quyền, tôn giáo với các nước EU, Mỹ, Úc, Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế (Mỹ), diễn đàn nhân dân ASEM…; đã tổ chức cho một số đoàn nước ngoài vào tìm hiểu thực tế tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam. Đấu tranh có hiệu quả đối với hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch nhằm cản trở công cuộc hội nhập quốc tế của Việt Nam. Mặt khác, Nhà nước cũng cử một số đoàn cán bộ và đoàn chức sắc tôn giáo ra nước ngoài để làm rõ quan điểm của Việt Nam về chính sách dân tộc, tôn giáo, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch.

Trên lĩnh vực an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Các lực lượng chức năng đã kịp thời phát hiện, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị - xã hội ở các địa bàn. Điển hình là công tác đấu tranh làm thất bại các hoạt động ly khai của tổ chức mạo xưng “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất” do Thích Quảng Độ cầm đầu; “Phật giáo Hoà hảo thuần túy” do Lê Quang Liêm cầm đầu; xử lý vụ việc gây bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004 âm mưu lập “nhà nước Đêga” với “Tin Lành Đêga” làm quốc đạo; đấu tranh trấn áp số cầm đầu FULRO và tà đạo “Hà Mòn” ở Tây Nguyên; xử lý vụ tụ tập đông người “xưng vua”, lập “vương quốc Mông” gây rối an ninh trật tự ở Mường Nhé, Điện Biên năm 2011.

Đấu tranh với các tổ chức “văn phòng Công giáo đối lập”, hoạt động của tổ chức “liên đảng Lạc Hồng”, “khối 8406”, “nhóm xã hội dân sự”, “hội tù nhân lương tâm”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”, “hội đồng liên tôn”, ngăn chặn âm mưu thành lập tổ chức “liên tôn chống cộng” của một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo; đấu tranh ngăn chặn hoạt động của các “đạo lạ”, “tà giáo”, mang nội dung lệch chuẩn văn hoá, đạo đức, trái với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như: “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Giê sùa”, “Bà cô Dợ”, “Pơ khắp Brâu”, “Dương Văn Mình”, “hội thánh của Đức Chúa trời mẹ”; gần đây nhất các cơ quan chức năng đã truy bắt và tòa án đã tuyên những bản án nghiêm khắc xử lý các đối tượng trong tổ chức với cái gọi “hội thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên” do các đối tượng trong và ngoài nước thực hiện bạo động, đột nhập tấn công trụ sở Ủy ban nhân dân xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur (trong đó có khu vực làm việc của Công an xã) thuộc huyện Cư Kuin.

Với phương châm “Lấy việc của tôn giáo để giải quyết vấn đề tôn giáo, dựa vào giáo hội để giải quyết việc nội bộ của giáo hội”, cấp uỷ các cấp đã chỉ đạo chính quyền, các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt công tác dân vận trong vùng đồng bào có đạo, tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo, để tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững an ninh trật tự ở các địa phương.

Tuy nhiên, hiện công tác quản lý nhà nước về tôn giáo hiện vẫn còn những bất cập, có nơi còn chủ quan, buông lỏng quản lý nhưng có nơi lại quá chặt chẽ, khắt khe, thậm chí cản trở, cấm đoán gây bức xúc đối với chức sắc, tín đồ, tạo cớ cho các thế lực xấu, thù địch lợi dụng xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo của hệ thống chính trị ở một số nơi, nhất là ở cơ sở còn bất cập, chưa đúng với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chưa đáp ứng yêu cầu công tác tôn giáo trong tình hình mới; chưa kịp thời nắm bắt và chủ động trong công tác tôn giáo, xử lý kịp thời những “điểm nóng” phức tạp liên quan đến tôn giáo.

Trong khi đó, nhiều hoạt động tôn giáo “lấn lướt” chính quyền, vi phạm các quy định của pháp luật chưa được xử lý nghiêm. Công tác quản lý và sử dụng đất đai tôn giáo còn bất cập, một số vụ việc kéo dài, chậm được giải quyết, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự xã hội. Công tác vận động, tập hợp quần chúng tôn giáo tham gia vào Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở nhiều nơi còn hạn chế. Công tác vận động, tranh thủ chức sắc, chức việc, người có uy tín trong tôn giáo một số nơi còn mang tính hình thức, chưa tạo dựng được mối quan hệ gần gũi, thân thiện và đồng thuận với cấp uỷ, chính quyền và các phong trào chung của đất nước.

Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, câu kết với các đối tượng cực đoan trong các tôn giáo ở trong nước nhằm thực hiện “âm mưu diễn biến hòa bình”; cung cấp kinh phí cho một số nhóm phái lén lút tuyên truyền, phát triển vào Việt Nam, chú trọng địa bàn các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, xây dựng “ngọn cờ” đối trọng với một số chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở địa phương, khi chính quyền xử lý kiên quyết với những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của những người cầm đầu các đạo lạ, tà đạo này thì các đối tượng vu cáo, xuyên tạc, lên án Việt Nam “vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo”; đồng thời kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài, bằng con đường ngoại giao, thông qua các các tổ chức, các diễn đàn quốc tế… để gây sức ép với Chính phủ Việt Nam.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục công khai lợi dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", “tự do tôn giáo” tạo cớ can thiệp vào các công việc nội bộ Việt Nam, trong đó có việc ủng hộ, giúp đỡ cho các đối tượng cực đoan. Điều đó, đòi hỏi các cấp, các ngành không được mất cảnh giác, không buông lỏng đấu tranh với âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng nên phải thường xuyên nâng cao nhận thức về tôn giáo, công tác tôn giáo; phân biệt rõ giữa sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào mục đích chính trị, phi tôn giáo để có những giải pháp kịp thời.

Sưu tầm

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp “Vì một chủ nghĩa đa phương đổi mới” của Hội nghị cấp cao Pháp ngữ lần thứ 19.

 

Trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ, ngày 5-10 (giờ địa phương) tại Paris (Pháp), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tham dự các phiên họp chính thức và có bài phát biểu quan trọng tại phiên họp “Vì một chủ nghĩa đa phương đổi mới” của hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:

"Thưa Ngài Chủ tịch,

Thưa các Quý vị,

Thời gian gần đây, đã có không ít hoài nghi về vai trò của các khuôn khổ đa phương, nhất là khi chúng ta chứng kiến ngày càng thường xuyên những biểu hiện của sự phân tách, chia rẽ, thậm chí đối đầu, đã và đang cản trở hiệu quả hoạt động của nhiều thể chế đa phương.

Tuy vậy, cũng chính trong khó khăn, chủ nghĩa đa phương lại thể hiện rõ vai trò không thể thay thế. Các thể chế đa phương, với nền tảng là luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, tạo khuôn khổ để thúc đẩy hợp tác, phối hợp hành động trong ứng phó với các thách thức chung như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm mạng… Các cơ chế đa phương cũng có thể đi đầu trong việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý, các khung quản trị toàn cầu về các vấn đề mới nổi, giúp các quốc gia tận dụng được những cơ hội lịch sử đang có được từ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Cách đây 10 ngày, tại Hội nghị Thượng đỉnh tương lai, chúng ta đã thông qua những văn kiện quan trọng, mang tính định hướng cho tương lai hợp tác toàn cầu. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho sức mạnh của chủ nghĩa đa phương.

Với niềm tin mạnh mẽ vào chủ nghĩa đa phương, chúng tôi muốn chia sẻ tầm nhìn sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa đa phương cần gắn liền với các tiến trình chuyển đổi lớn, nhất là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Không gian Pháp ngữ cũng cần thích ứng với xu hướng này, hỗ trợ các thành viên nâng cao năng lực về công nghệ, phát triển năng lượng sạch và thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Khoa học, công nghệ là chìa khóa để cộng đồng Pháp ngữ có thể tạo nên những đột phá trong tương lai. 

Thứ hai, đây là thời điểm các thể chế đa phương, trong đó có Pháp ngữ, cần đẩy mạnh cải tổ để có thể ứng phó với những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới và không gian Pháp ngữ. Tôi mong muốn Pháp ngữ sẽ đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, tập trung hơn vào ưu tiên của các thành viên, nhất là về hợp tác kinh tế và phối hợp triển khai các văn kiện của Hội nghị Thượng đỉnh tương lai. 

Thứ ba, chủ nghĩa đa phương chỉ có thể thành công nếu bảo đảm được tính bao trùm, toàn diện, lấy người dân làm trung tâm, đặc biệt là thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi ủng hộ việc Pháp ngữ tiếp tục thúc đẩy các chương trình giao lưu nhân dân, trao đổi văn hóa, giáo dục thông qua tiếng Pháp. Điều này không chỉ giúp chúng ta duy trì được một ngôn ngữ đẹp gắn kết các thành viên Pháp ngữ, mà còn giúp lan tỏa các kết quả hợp tác Pháp ngữ đến với mọi người dân. 

Việt Nam tin rằng một chủ nghĩa đa phương đổi mới phải hướng đến tương lai hòa bình, thịnh vượng và bền vững với mọi quốc gia và người dân. Việt Nam cam kết sẽ đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung nhằm hiện thực hóa những mục tiêu này.

Xin cảm ơn".

Trí tuệ nhân tạo và những nguy cơ, thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Sự ra đời của phần mềm Chat GPT đã tạo nên cơn sốt trên toàn cầu và cả ở Việt Nam. Điều này khẳng định xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là không thể đảo ngược, đang có tác động cả tích cực và tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị thế giới. Đây cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam trước nguy cơ các thế lực thù địch, phản động sử dụng thành tựu này để chống phá, kích động, xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Trí tuệ nhân tạo và những tác động không mong muốn đối với đời sống xã hội

Sự bùng nổ của Chat GPT làm nhiều người bắt đầu chú ý tới trí tuệ nhân tạo (AI), mặc dù các công cụ dò tìm đường, công cụ dịch thuật, công cụ chỉnh sửa ảnh tự động… đã được ứng dụng AI từ rất lâu. Tuy nhiên, người ta mới chỉ nhìn thấy phần nổi của tảng băng chìm và chưa nhận thức rõ những thách thức của AI đối với đời sống xã hội. Thực tế, AI hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… của quốc gia, thậm chí là toàn nhân loại.

Một số khuyến nghị góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những nguy cơ, thách thức từ trí tuệ nhân tạo

Từ những nguy cơ đến từ sự bùng nổ của AI đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần lưu ý một số nội dung sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế về AI. Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế về AI, đồng thời phát huy vai trò và vị thế quốc gia trong việc thúc đẩy sử dụng AI một cách có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam nắm bắt các xu hướng công nghệ mới nhất và học hỏi kinh nghiệm, mà còn đóng góp vào việc xây dựng các quy chuẩn quốc tế về AI. Bằng cách tham gia sâu rộng và tích cực, Việt Nam có thể chia sẻ những kinh nghiệm, đồng thời học hỏi từ các quốc gia tiên tiến khác. Điều này tạo cơ hội để Việt Nam khẳng định vị thế trong cộng đồng quốc tế, thúc đẩy hợp tác và đối thoại nhằm bảo đảm rằng AI được phát triển và sử dụng một cách an toàn, minh bạch và hiệu quả. Hướng tới các quy chuẩn quốc tế về AI cũng giúp Việt Nam bảo đảm công nghệ này mang lại lợi ích toàn diện cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn. Việc này không chỉ là một nhiệm vụ chiến lược, mà còn là cơ hội để Việt Nam tạo dấu ấn trong lĩnh vực công nghệ toàn cầu.

Hai là, bảo đảm sự phát triển và ứng dụng AI một cách có trách nhiệm, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, theo đó cần xây dựng các thiết chế mạnh mẽ và tăng cường quản lý nhà nước đối với các công ty công nghệ, đặc biệt là các công ty nước ngoài. Cần ban hành luật về AI và kịp thời sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành, quy định rõ ràng về trách nhiệm, chế tài và nghĩa vụ của các công ty công nghệ. Các chính sách và pháp luật này nhằm kiểm soát chặt chẽ việc phát triển và ứng dụng AI, bảo đảm rằng các thuật toán được sử dụng để khuyến khích thông tin tích cực, đúng đắn và phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các công ty công nghệ cần rà soát quy trình của mình để tránh tạo ra kẽ hở để các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng hòng phát tán thông tin sai lệch. Việc này không chỉ giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục và nâng cao nhận thức về AI. Việc phổ biến kiến thức về AI sẽ giúp người dùng hiểu rõ hơn về công nghệ này, từ đó họ có thể tránh các “buồng vọng âm” và thông tin sai lệch. Các chương trình giáo dục, công tác tuyên truyền cần tập trung vào việc giải thích cách thức hoạt động của các thuật toán AI, những nguy cơ tiềm ẩn của việc tiếp xúc với thông tin được cá nhân hóa quá mức và cách nhận diện thông tin giả mạo liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, cần khuyến khích người dùng tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng và đáng tin cậy, đồng thời phát triển kỹ năng tư duy phản biện để họ có thể đánh giá thông tin một cách chính xác. Bằng cách này, người dùng sẽ được trang bị đầy đủ kiến thức để bảo vệ bản thân. Việc tuyên truyền, giáo dục nên được tích hợp vào chương trình giáo dục từ sớm, giúp thế hệ trẻ nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng AI một cách có trách nhiệm và an toàn.

Bốn là, khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp, công ty và các startup khởi nghiệp về AI. Làm tốt giải pháp này có thể tăng cường sự tự chủ, tránh sự lệ thuộc, mất kiểm soát đối với các công ty công nghệ nước ngoài. Qua đó, gián tiếp tăng cường sức mạnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt là trên không gian mạng. Chính phủ có thể cung cấp các ưu đãi về thuế, tài chính và hỗ trợ kỹ thuật; đầu tư vào hạ tầng công nghệ, mạng lưới internet tốc độ cao, các cơ sở dữ liệu lớn và hệ thống máy tính mạnh mẽ, để hỗ trợ việc nghiên cứu và triển khai AI cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các startup, nhằm thúc đẩy sáng tạo và ứng dụng AI trong đa dạng các lĩnh vực. Điều này không chỉ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, mà còn khuyến khích họ tự chủ trong việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ AI. Bằng cách này, các doanh nghiệp có thể đóng góp vào việc xây dựng một hệ sinh thái AI đa dạng, hướng tới phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng cách kiểm soát và thúc đẩy việc sử dụng AI một cách có trách nhiệm, an toàn.

Năm là, cần xây dựng các cơ chế giám sát và kiểm tra chặt chẽ đối với các công ty công nghệ, các tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm AI. Bảo đảm rằng các công nghệ này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng và xã hội. Đồng thời, cần thiết kế các cơ chế kiểm tra để bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý dữ liệu và thông tin. Việc này giúp ngăn chặn việc lạm dụng dữ liệu và thông tin để lan truyền các thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng tới nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Sưu tầm

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng - vấn đề then chốt làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân lớn mạnh về mọi mặt, để cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, trước những đòi hỏi về phát triển đất nước và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta xác định “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025 cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Đây là chủ trương đúng đắn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, toàn quân ta. Thế nhưng các thế lực thù địch lại lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá với thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.

Nhằm gây sự chú ý của dư luận, cùng với “ca tụng”, đánh giá cao chủ trương xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại của Đảng, một số cá nhân xưng danh “người yêu nước” đã “kiến nghị”, “đề xuất” với Đảng, Nhà nước về cách thức xây dựng Quân đội hiện đại “phù hợp” điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Theo họ, hòa bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế thời đại, thì vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp hiện đã lỗi thời; rằng, nếu đã xác định lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất thì xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại chỉ cần nhấn mạnh tính nhân dân, tính dân tộc là đủ, đề cập tính đảng, tính giai cấp của Quân đội là không cần thiết, hay ít nhất cũng làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hiện đại hóa Quân đội. Đồng thời, họ còn “mạnh dạn” đề xuất: trong tình hình mới, phải nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả của nhà nước pháp quyền và để làm được điều đó thì mọi hoạt động của Quân đội cần được luật hóa, đặt dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, còn Đảng chỉ cần lãnh đạo Nhà nước là đủ, không nhất thiết phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Bên cạnh đó, để thể hiện rõ “trách nhiệm”, họ kiến nghị mô hình xây dựng Quân đội hiện đại theo hướng “chuyên nghiệp hóa” như quân đội nhà nghề ở một số nước tư bản...

Sự “hiến kế” trên đây nghe qua tưởng như rất “tâm huyết”, đầy “trách nhiệm” với Tổ quốc, song bằng nhãn quan chính trị tỉnh táo, chúng ta dễ dàng thấy rõ mưu đồ thâm hiểm mà chúng hướng đến là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về sâu xa chúng phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, từng bước xóa nhòa ý thức hệ vô sản, chuyển hóa dần bản chất chính trị của Quân đội; làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, bản chất của quân đội cách mạng. Đây cũng chính là đích đến mà các thế lực thù địch đã theo đuổi lâu nay, hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng - một trong những điều kiện tiên quyết phá hoại con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Vấn đề đặt ra là tại sao các đối tượng lại tập trung mũi nhọn, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tấn công quyết liệt, vừa trực diện, vừa lâu dài nhằm làm giảm vai trò, tiến tới vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội và coi đó là một mục tiêu hàng đầu trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”? Câu trả lời từ thực tiễn lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, đó là: sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định sự lớn mạnh, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội; đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng, đã đòi hỏi Đảng phải sớm tổ chức ra lực lượng vũ trang, nuôi dưỡng và lãnh đạo nó trở thành công cụ bạo lực cách mạng phục vụ mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Theo đó, ngay tại Đại hội Đại biểu lần thứ nhất (tháng 3/1935) Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về “Đội tự vệ”. Tiếp đến, ngày 22/12/1944, chấp hành Chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, gồm 34 cán bộ, chiến sĩ. Ngay từ đầu, về tổ chức Đội lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, bên cạnh Đội trưởng Hoàng Sâm (người chỉ huy), có Chính trị viên (đồng chí Xích Thắng). Đây là mốc son đánh dấu cho sự hình thành một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Một quân đội mà mọi hoạt động (tổ chức biên chế, xây dựng lực lượng, trang bị vũ khí, mục tiêu chiến đấu, cách đánh...) đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Một Quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Một quân đội mà Đảng luôn giữ quyền độc tôn lãnh đạo; không chia sẻ, nhường quyền lãnh đạo Quân đội cho bất kỳ đảng phái, tổ chức hoặc cá nhân nào.

Thực tiễn 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội đã minh chứng rằng, ở bất cứ giai đoạn, điều kiện, hoàn cảnh nào, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội luôn được giữ vững và không ngừng tăng cường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, phát triển lớn mạnh. Đặc biệt, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt (ngày 25/12/1944), Nà Ngần (ngày 26/12/1944), mở ra truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng của Quân đội nhân dân. Sau gần một năm, Đội quân ấy là lực lượng vũ trang nòng cốt cùng toàn dân làm nên chiến thắng vĩ đại Cách mạng tháng Tám (năm 1945), giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta đã không ngừng phát triển lớn mạnh từ nhỏ đến lớn, trang bị từ thô sơ đến ngày càng hiện đại; từ những đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển lên quy mô đại đoàn, quân đoàn bộ đội chủ lực. Nghệ thuật tác chiến cũng được Đảng kế thừa phát triển ở tất cả các loại hình: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược; được Quân đội vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến đấu, trở thành những nét nghệ thuật quân sự đặc sắc đem lại những chiến thắng hiển hách trên chiến trường, được cả thế giới khâm phục. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra chiến trường chỉ đạo trong Chiến dịch Biên Giới năm 1950; Thường vụ Trung ương Ðảng thông qua chủ trương tác chiến của Tổng Quân ủy trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954; Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ (ngày 06/12/1953) và sự chủ động, sáng tạo, hành động kiên quyết của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ khi thay đổi phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, góp phần quyết định để Quân đội trực tiếp làm nên chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Hay, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, cùng với lãnh đạo cả nước thực hiện mục tiêu xuyên suốt tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,... Đảng ta đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường trọng điểm, tạo ra xung lực mạnh mẽ để Quân đội ta giành thắng lợi liên tiếp các chiến dịch lớn: Tây nguyên (04/3 đến 03/4/1975), Trị Thiên - Huế (05/3 đến 26/3/1975), Nam Ngãi (10/3 đến 26/3/1975), Đà Nẵng (26/3 đến 29/3/1975)... Điều đó, đã trở thành nguồn cổ vũ lớn cho tinh thần chiến đấu “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; Táo bạo, táo bạo hơn nữa... Quyết chiến và toàn thắng” cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, cùng với nhân dân hình thành sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” đưa Chiến dịch Hồ Chí Minh đến toàn thắng, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đất nước thống nhất, cả nước bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, song do hậu quả chiến tranh và những yếu tố tác động khác nhau, đã làm đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài; đời sống cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước cũng làm cho Quân đội phải căng mình ra chống đỡ. Tuy thách thức đặt ra nặng nề, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội vẫn một lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, chiến đấu kiên cường bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, Quân đội không ngừng được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, cùng toàn dân, các cấp, ngành và cả hệ thống chính trị hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, đưa nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những thành tựu nêu trên của cả nước nói chung, Quân đội nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân; trong đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn giữ vai trò quyết định. Điều đó càng được khẳng định khi Quân đội Liên Xô - một quân đội hùng hậu vào bậc nhất thế giới, nhưng do buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, nên mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và không thể bảo vệ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân trước biến động chính trị năm 1991. Bài học xương máu ấy càng cho thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội.

Như vậy, xét cả lý luận và thực tiễn đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội luôn là vấn đề sống còn của Quân đội, vấn đề then chốt trong phòng chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trước hết cần tăng cường giáo dục giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Điều đó sẽ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan, tiến tới “vô hiệu hóa” luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội, “Quân đội trung lập” của các thế lực thù địch. Thực hiện vấn đề này, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; là quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đồng thời, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải làm cho bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ngày càng thấm sâu, trường tồn và phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chú trọng xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, năng lực, tác phong công tác tốt, lối sống trung thực giản dị; luôn kiên định con đường cách mạng của Đảng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.

Hai là, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Đây là nội dung rất quan trọng, làm cơ sở để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đốỉ, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; gắn việc triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) với thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Ba là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị Quân đội. Hiện nay trước sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và tác động ảnh hưởng lớn của văn hóa xấu độc, các tệ nạn xã hội,… đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng “môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng “Đơn vị văn hoá” với đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng. Trong đó, chú trọng xây dựng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; kết hợp giữa bồi dưỡng nâng cao lập trường chính trị, tư tưởng với xây dựng đời sống văn hoá; xây dựng cảnh quan môi trường với củng cố nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa - tinh thần của bộ đội, góp phần xây dựng ý chí quyết tâm vượt khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Đấu tranh trực diện với địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội có tầm quan trọng đặc biệt và trở thành mặt trận nóng bỏng, gay go, quyết liệt hiện nay. Nhiệm vụ cơ bản trong đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của kẻ thù là bảo vệ và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới; đấu tranh làm rõ luận điệu cho rằng “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp” là vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tiếp tục khẳng định Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, thực hiện mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để tiến hành đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực này, cần chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận và lực lượng nòng cốt (lực lượng 47) toàn quân có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh với địch.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội sẽ luôn là “tấm lá chắn bất khả chiến bại” bảo đảm cho Quân đội có “sức đề kháng mạnh mẽ”, “miễn dịch” hoàn toàn với mọi thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, đó cũng là vũ khí sắc bén để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái xuyên tạc, phủ nhận tính khoa học và thời đại của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Làm cho Quân đội ta luôn trung thành với Đảng, chiến đấu vì lý tưởng, mục tiêu của Đảng, mãi xứng đáng truyền thống quyết chiến, quyết thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Sưu tầm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp làm việc với Thị trưởng thành phố Le Havre của Pháp.

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tới thăm thành phố Le Havre của Pháp và có cuộc gặp làm việc với Thị trưởng thành phố Le Havre, ông Edouard Philippe.

Bày tỏ vui mừng đến thăm thành phố Le Havre giàu lịch sử, văn hóa cùng nền kinh tế biển sôi động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng lãnh đạo và nhân dân thành phố về những thành tựu trong việc xây dựng Le Havre trở thành một trong những cửa ngõ quan trọng đối với hoạt động vận chuyển hàng hóa thương mại đường biển của thế giới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, Le Havre còn là nơi ghi đậm dấu ấn cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là biểu tượng sinh động của tình hữu nghị giữa hai nước, di sản quý báu minh chứng cho mối liên kết chặt chẽ về lịch sử giữa Việt Nam và Pháp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao những đóng góp tích cực của Thị trưởng Edouard Philippe dành cho quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt Việt Nam - Pháp; vui mừng trước những bước phát triển của sự hợp tác giữa thành phố Le Havre với Đà Nẵng, góp phần tăng cường mở rộng hợp tác với các địa phương Việt Nam trong các lĩnh vực như giao lưu nhân dân, phát triển cảng biển, logistics và vận tải biển, bảo vệ môi trường biển, công nghệ hàng hải…

Thay mặt nhân dân thành phố Le Havre, Thị trưởng Edouard Philippe nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm thành phố và giới thiệu về thành phố Le Havre, một thành phố được xây dựng lại từ đống đổ nát sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai và hiện nay đã trở thành trung tâm cảng biển của Pháp và Châu âu.

Thị trưởng Le Havre bày tỏ tình cảm đặc biệt đối với người dân, đất nước con người Việt Nam, sự ngưỡng mộ sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chia sẻ về các chuyến thăm Việt Nam vừa qua, Thị trưởng Le Havre nhắc lại những kỷ niệm tốt đẹp và ấn tượng về sự năng động và tốc độ phát triển vượt bậc của Việt Nam; mong muốn thúc đẩy hợp tác giữa thành phố Le Havre và các địa phương của Việt Nam trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao; khuyến khích doanh nghiệp Pháp đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của thành phố. Với vai trò là Chủ tịch Hội Cảng biển quốc tế cùng các thế mạnh về vận tải đường thủy, đóng tàu, du lịch biển..., Thị trưởng thành phố Le Havre khẳng định sẽ hỗ trợ kết nối cảng Việt Nam với hệ thống cảng thế giới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thị trưởng nhấn mạnh, Biển Đông là huyết mạch vận tải hàng hóa của thế giới và tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

* Thị trưởng Edouard Philippe nguyên là Thủ tướng Pháp trong giai đoạn từ tháng 5-2017 đến tháng 7-2020 và đã nhiều lần thăm Việt Nam, gần nhất là tháng 11-2018 khi còn là Thủ tướng và quay lại vào tháng 2-2023, với tư cách Thị trưởng thành phố Le Havre.

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật

Chống phá Quân đội là âm mưu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Gần đây, mưu đồ này được chúng thực hiện một cách ráo riết, trực diện hơn với nhiều thủ đoạn hết sức thâm độc, xảo quyệt, đặc biệt là tập trung chống phá vào công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Quân đội.

Thủ đoạn chống phá Quân đội về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật   

Thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch, phản động trong công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật thường tập trung vào một số cách thức, như: triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để tán phát các tài liệu, bài viết xuyên tạc về công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của Quân đội ta; khai thác các vụ án nghiêm trọng liên quan đến Quân đội, các vụ việc quân nhân vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; phủ nhận cơ chế lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; móc nối, lôi kéo người trong nội bộ Quân đội tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Đặc biệt, bất cứ vụ việc, vấn đề nhạy cảm gì có liên quan đến Quân đội thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động ngay lập tức có các bài viết, hình ảnh võ đoán, xuyên tạc, bịa đặt, kèm theo những bình luận kích động, với mục đích làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và Quân đội. Nguy hiểm hơn, từ việc Đảng ta xử lý kỷ luật một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao của Quân đội suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống, các thế lực thù địch đã “mượn gió bẻ măng”, “đổi trắng thay đen” cố tình bóp méo, trắng trợn suy diễn rằng, những sai phạm đó xuất phát từ chính bản chất, truyền thống, đặc thù hoạt động quân sự, vì vậy Quân đội không thể sửa chữa các sai phạm, khuyết điểm, thậm chí, chúng còn “xuyên tạc” rằng nội bộ Quân đội đang có vấn đề, biểu hiện mất đoàn kết...

Không khó để nhận ra, đây vẫn là những luận điệu chống phá cũ rích, hòng đánh tráo bản chất, hiện tượng, sự việc, xuyên tạc, bôi nhọ truyền thống, xúc phạm danh dự, uy tín, nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam; phủ nhận sự đóng góp to lớn của Quân đội đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kể từ khi được thành lập đến nay, một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta chính là việc thực hành dân chủ rộng rãi đi liền với chấp hành kỷ luật “tự giác, nghiêm minh”. Việc xây dựng chính quy và rèn luyện kỷ luật trong Quân đội là một chủ trương lớn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, được cụ thể hóa trong nhiều chỉ thị, nghị quyết, nhất là về tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật; phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật và vi phạm kỷ luật nghiêm trọng trong Quân đội. Thực hiện chủ trương lớn đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã thực sự quan tâm chỉ đạo, tập trung tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc với nhiều biện pháp thiết thực để duy trì nghiêm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; tăng cường giáo dục ý thức tự giác chấp hành kỷ luật Quân đội cho quân nhân; khắc phục triệt để khâu yếu, mặt yếu về xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; coi xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là tiêu chí quan trọng trong xem xét, đánh giá cán bộ và bình xét thi đua, khen thưởng, xét đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, đơn vị huấn luyện giỏi hàng năm...

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật

Nhằm đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch về xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, cần kết hợp các giải pháp ngăn chặn có hiệu quả thông tin xấu độc; đồng thời duy trì nghiêm kỷ luật, kỷ cương, kịp thời ngăn chặn, xử lý các vụ việc vi phạm, nhất là các vi phạm nghiêm trọng, tạo chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về tư tưởng, kỷ luật, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, sức mạnh, trình độ và khả năng sắn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi của Quân đội, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong đó tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng, chỉ huy các cấp phải nhận thức đầy đủ và quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chấp hành kỷ luật Quân đội và pháp luật Nhà nước; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; gắn vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy đối với tình hình vi phạm kỷ luật, pháp luật của cơ quan, đơn vị mình. Xây dựng ý thức chủ động, thường xuyên, tích cực tìm hiểu pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật trong công tác và sinh hoạt hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ; xác định rõ quản lý, duy trì nghiêm kỷ luật Quân đội là một nội dung quan trọng trong xây dựng chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Hai là, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp phải gương mẫu trong chấp hành kỷ luật và pháp luật; chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy chế làm việc, phân công, phân nhiệm rõ ràng; thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, nắm vững mọi mặt hoạt động của đơn vị; thường xuyên nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy và quản lý bộ đội; quản lý chắc quân nhân thuộc quyền cả về số lượng và chất lượng mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, qua đó tạo thành ý thức tự giác, thói quen chấp hành kỷ luật, chấp hành nền nếp, chế độ quy định.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật và chấp hành pháp luật để tăng cường sức mạnh chính trị, tinh thần cho bộ đội. Coi trọng xây dựng ý thức tự giác của mỗi quân nhân trong chấp hành nền nếp, chế độ quy định. Phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng và mọi quân nhân trong công tác quản lý tư tưởng; thực hành mở rộng dân chủ, xây dựng mối đoàn kết gắn bó giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sĩ, làm tốt công tác vận động quần chúng; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị, gia đình và địa phương để nắm, quản lý các mối quan hệ, diễn biến tư tưởng, điều kiện hoàn cảnh của quân nhân.

Bốn là, tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vị trí, ý nghĩa của việc chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước; tác hại, hậu quả của các hành vi vi phạm gây ra đối với bản thân, gia đình, đơn vị và xã hội. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải đầy đủ, toàn diện, thiết thực, trong đó, đặc biệt coi trọng giáo dục, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật với nhiều hình thức, phương pháp phong phú, đa dạng, phù hợp, sát thực tế. Thường xuyên nâng cao nhận thức, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá Quân đội của các thế lực thù địch, trên cơ sở đó, xây dựng cho mọi quân nhân có nhận thức, cách tiếp nhận, xử lý thông tin đúng đắn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch.

Năm là, khi có vụ việc vi phạm, kịp thời thanh tra, kiểm tra làm rõ nguyên nhân, kiên quyết đấu tranh, xử lý triệt để, nghiêm minh, đúng quy định; xử lý triể để, tận gốc những nguyên nhân dẫn đến vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Quan tâm chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động phối hợp, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, không để các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu cài cắm, móc nối vào nội bộ và những tiêu cực xã hội xâm nhập vào cơ quan, đơn vị; xây dựng đơn vị an toàn, gắn với địa bàn an toàn.

Kỷ luật là yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật là nguyên tắc trong xây dựng Quân đội và là truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp và mỗi quân nhân phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; thực hiện đúng như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương tại Hội nghị quân chính toàn quân năm 2022: “Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, phải luôn luôn “tự soi, tự sửa” để trong bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn, phức tạp đến đâu thì phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn được giữ vững; phải giữ mình và thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện; đấu tranh có hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, làm cho Quân đội ta ngày càng mạnh hơn, trưởng thành hơn, mãi mãi xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân”.

Sưu tầm

Xây thế trận lòng dân biên giới Quảng Bình.

 

15 năm là hành trình chưa dài nhưng đủ để cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 79, Binh đoàn 15 tạo nên những dấu ấn nổi bật ở địa bàn biên giới Tây Nam tỉnh Quảng Bình. Với sự chung sức của "bộ đội 79", tình hình quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường, bản làng "thay da đổi thịt", đời sống nhân dân ổn định và phát triển.

Bản làng no ấm

Ngôi nhà của gia đình anh Hồ Văn No, sinh năm 1988 ở cạnh bìa rừng cao su xanh ngắt trong khu quy hoạch "Khu dân cư kiểu mẫu" thuộc Đội sản xuất số 2, Đoàn KT-QP 79 quản lý. Trong ngôi nhà nghĩa tình quân dân này, anh No chia sẻ câu chuyện thoát nghèo... Tháng 8-2012, Hồ Văn No được Đoàn KT-QP 79 tuyển dụng làm công nhân và biên chế về Đội sản xuất số 2. Vốn quen với rừng núi, suối khe, nay phải chịu sự quản lý về thời gian làm việc, cách giao tiếp, mang mặc khiến chàng trai người Bru-Vân Kiều cảm thấy không tự do, thoải mái như trước. Dần rồi cũng quen, môi trường làm việc với nhiều trải nghiệm thú vị đã làm Hồ Văn No yêu thích, gắn bó với công việc trồng, chăm sóc cao su mà đơn vị đang triển khai thực hiện.

Năm 2014, Hồ Văn No kết hôn cùng chị Nguyễn Thị Xuân (sinh năm 1989). Hiện, gia đình anh đang được giao khoán chăm sóc, khai thác 7ha cao su; ngoài ra, anh còn trồng thêm 1,5ha sắn, hơn 3ha keo, tràm, nuôi thêm bò, lợn, gà, vịt mang lại thu nhập trung bình hơn 120 triệu đồng/năm. Năm 2022, được sự hỗ trợ của đơn vị, anh Hồ Văn No cùng vợ xây mới ngôi nhà kiên cố với tổng kinh phí hơn 100 triệu đồng. "Nếu không có "bộ đội 79", có lẽ giờ này tôi còn lần tìm kiếm ăn qua ngày trong rừng sâu, khe suối. Đoàn KT-QP 79 cho gia đình tôi sinh kế bền vững, thu nhập ổn định, các con được đến trường ăn học miễn phí. Cuộc sống hơn cả trong mơ đối với một người Bru-Vân Kiều như tôi", Hồ Văn No xúc động chia sẻ.

Theo chân cán bộ Đoàn KT-QP 79 vào cụm Còi, bản Còi Đá, xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (khu vực sinh sống của 12 hộ đồng bào BRu-Vân Kiều), chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự "thay da đổi thịt" của bản làng nằm giữa thung lũng đá vôi. Nếu như trước đây, cụm Còi được xem là nơi heo hút, khá biệt lập bởi giao thông cách trở, đường nhỏ, dốc, nhiều khe suối thì nay đường bê tông đã vào từng hộ gia đình. Để có được cụm Còi khang trang, khởi sắc là thành quả của sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền địa phương, các đơn vị LLVT trong đó có Đoàn KT-QP 79.

Với quyết tâm đưa cụm Còi kết nối với khu vực trung tâm xã, nâng cao đời sống cả về vật chất và tinh thần cho đồng bào, Đoàn KT-QP 79 đã đầu tư kinh phí hơn 12 tỷ đồng, huy động lực lượng, phương tiện, phối hợp xây dựng tuyến đường bê tông dài gần 2km; xây dựng 3 cầu, cống dân sinh; 1 hồ thủy lợi tích nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Già làng Hồ Thăm, 86 tuổi cho biết: "Có đường mới bà con đi lại thuận tiện hơn, trẻ nhỏ được đến trường không phải nghỉ học những ngày mưa lớn; bản làng nhờ thế thêm bình yên, no ấm. Thay mặt bà con cụm Còi, tôi gửi lời cảm ơn chân thành cùng tình cảm yêu mến đến "bộ đội 79" và các đơn vị".  

Được biết, Đoàn KT-QP 79 được thành lập ngày 15-10-2005 tại xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Đến tháng 8-2009, theo yêu cầu nhiệm vụ, Đoàn KT-QP 79 chuyển vị trí đóng quân ra xã Ngân Thủy thực hiện nhiệm vụ xây dựng Khu KT-QP Nam Quảng Bình. Từ vùng đất Tây Nguyên xa xôi, những người lính Đoàn KT-QP 79 hành quân ra khu vực biên giới Tây Nam huyện Lệ Thủy với quyết tâm cùng địa phương, các đơn vị củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, ổn định cuộc sống ở địa bàn chiến lược. Địa bàn thực hiện nhiệm vụ trải dài ở 3 xã: Ngân Thủy, Lâm Thủy, Kim Thủy, giao thông cách trở, đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, văn hóa, phong tục tập quán địa phương, hạn chế trong giao tiếp với người đồng bào... là những thử thách, áp lực với cán bộ, chiến sĩ đơn vị. Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống “Kiên định mục tiêu, vượt mọi gian khó, gắn bó với nhân dân, sáng tạo chuyên cần, đoàn kết quyết thắng” của đơn vị, Đoàn KT-QP 79 nhanh chóng ổn định tổ chức, biên chế, xây dựng doanh trại, ổn định nơi ăn ở, sinh hoạt để bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ.

Trung tá Hoàng Văn Việt, Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 79 cho biết, hằng năm, đơn vị thực hiện song song hai nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng các công trình lưỡng dụng phục vụ quốc phòng, an ninh và phát triển dự án trồng, chăm sóc, khai thác cao su theo kế hoạch đã được cấp trên phê duyệt. Đến nay, đơn vị đã trồng được gần 1.200ha cao su, trong đó có hơn 950ha cao su đã đưa vào khai thác, tạo việc làm ổn định cho 240 lao động, trong đó có 76 lao động người Bru-Vân Kiều với mức thu nhập trung bình hơn 7,5 triệu đồng/người/tháng...

Ưu tiên lao động người dân tộc thiểu số

Hàng loạt dự án, công trình hạ tầng, dân sinh đậm dấu ấn, nghĩa tình quân dân do Đoàn KT-QP 79 đã và đang triển khai thực hiện đã góp phần nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng địa phương, mang lại hiệu quả thiết thực đối với nhân dân trong vùng dự án. Để xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, Đoàn KT-QP 79 đặc biệt chú trọng quan tâm chăm lo đời sống tinh thần, nâng cao dân trí, gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa... Đến nay, đơn vị đã đầu tư xây dựng 7 nhà trẻ với tổng diện tích 1.326m2; lắp đặt nhiều thiết bị, đồ dùng học tập cho các điểm trường; xây dựng 1 bệnh xá quân dân y với tổng diện tích 604m2...

Đặc biệt, Đoàn KT-QP 79 đã nhân rộng mô hình "Gắn kết hộ" với 46 cặp hộ gia đình là công nhân người Kinh với đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đó, hộ người Kinh giúp hộ dân tộc thiểu số trong thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao nhận thức, xóa bỏ hủ tục lạc hậu; hộ đồng bào dân tộc thiểu số giúp hộ người Kinh hiểu thêm về văn hóa bản địa, phong tục tập quán, ngôn ngữ đồng bào... "Đây là mô hình sáng tạo của Binh Đoàn 15 được đơn vị triển khai thực hiện hiệu quả thời gian qua. Thông qua mô hình, các gia đình coi nhau như anh em ruột thịt, không phân biệt dân tộc, điều kiện kinh tế, cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau cả về vật chất và tinh thần, qua đó tạo sự gắn bó mật thiết giữa các dân tộc để hướng tới cuộc sống hạnh phúc, ấm no", Trung tá Trần Văn Hưng, Chính ủy Đoàn KT-QP 79 cho biết.

Để hỗ trợ Đoàn KT-QP 79, vừa qua, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, UBND huyện Lệ Thủy phối hợp triển khai hỗ trợ Đoàn KT-QP 79 đẩy mạnh tuyên truyền, tuyển dụng, đào tạo, bố trí nơi làm việc, cơ sở vật chất, phục vụ ăn, nghỉ, bảo đảm quyền lợi cho người lao động theo kế hoạch tuyển dụng của đơn vị. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Bí thư Đảng ủy xã Ngân Thủy cho biết: Với nhiều chế độ ưu đãi như ký kết hợp đồng lao động, thu nhập ổn định, đóng bảo hiểm xã hội, hỗ trợ nơi ăn, nghỉ, chăm sóc y tế, giáo dục, thăm hỏi, tặng quà... mà con em trên địa bàn xã hiện có cuộc sống ổn định. Đảng ủy xã Ngân Thủy đã đưa nhiệm vụ phối hợp với Đoàn KT-QP 79 tuyển dụng lao động là con em địa phương vào nghị quyết, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Cấp ủy, chính quyền địa phương xác định, đây là nhiệm vụ quan trọng không chỉ góp phần tạo việc làm ổn định cho lao động, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần phát triển kinh tế-xã hội mà còn thể hiện sự đồng hành, tri ân tình cảm sâu nặng, sự giúp đỡ hiệu quả nghĩa tình mà đơn vị đã dành cho địa phương, con em đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua.

Lật tẩy những luận điệu lạc lõng, xuyên tạc về hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ

Vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh tương lai, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 79 và làm việc tại Hoa Kỳ.

Chuyến công tác tại Hoa Kỳ diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm một năm hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện và đang tích cực chuẩn bị cho các hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ vào năm 2025. Đây là dịp quan trọng để hai bên cùng nhìn lại những thành tựu mà quan hệ hợp tác mang lại, đồng thời thảo luận về những định hướng và biện pháp lớn để tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực, ổn định, thực chất trong thời gian tới.

Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã thành công tốt đẹp trên tất cả các phương diện. Tuy nhiên, lợi dụng vào sự kiện này, trước, trong và sau chuyến đi, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc, chống phá chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo

Các trang mạng, blog, website của các tổ chức phản động, các trung tâm truyền thông như VOA, RFI, RFA… tăng tần suất các bài viết có nội dung xuyên tạc mục đích, ý nghĩa chuyến công tác, bôi nhọ hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Họ kích động rằng, nhiều người Việt biểu tình đòi thả “tù nhân lương tâm”, trả tự do cho các “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà báo cải cách”… Một số bài viết đưa tin, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đi Mỹ là chuyến công du “củng cố quyền lực mềm” với nội dung sai sự thật, kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép vấn đề dân chủ, nhân quyền với Việt Nam; cho rằng quan hệ Việt - Mỹ sẽ không phát triển nếu dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam không được cải thiện, nếu không xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 

Các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở nước ngoài cũng liên tục đưa bài kêu gọi người Việttại Hoa Kỳ tham gia biểu tình bên ngoài trụ sở Liên Hiệp quốc ở thành phố New York. Bên cạnh đó, một số gương mặt quen thuộc từng phải chịu án phạt tù về hành vi chống phá Nhà nước, nay đang sống lưu vong ở nước ngoài cũng đã lợi dụng hoạt động trên để tiến hành phô trương thanh thế, đánh bóng tên tuổi như Nguyễn Văn Đài, Đặng Đình Mạnh… Tuy nhiên, dù được các đối tượng kêu gọi và thông tin rầm rộ trên mạng xã hội nhưng thực chất số lượng tham gia biểu tình, phản đối chỉ có một nhóm nhỏ đứng lẻ loi, lạc lõng nơi xứ người. Trái ngược với nhóm nhỏ lẻ loi, lạc lõng đó là rất đông kiều bào Việt Nam đang sinh sống tại Hoa Kỳ đã tiếp đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc gặp thân mật nhóm trí thức các thế hệ người Việt Nam sinh sống tại thành phố Houston, bang Texas, Hoa Kỳ.

Không kêu gọi được đông người tham gia biểu tình, các đối tượng tiếp tục sử dụng mạng xã hội viết các bài tỏ thái độ hậm hực, dùng lời lẽ miệt thị, chế diễu hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, bôi nhọ quan hệ đối ngoại Việt Nam với Hoa Kỳ. Để tăng thêm độ tin cậy, các đối tượng triệt để lợi dụng chiêu bài phỏng vấn người nước ngoài như trang tin VOA phỏng vấn dân biểu Hoa Kỳ Michelle Steel nói bà “rất lo ngại” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Tổ chức HRW ngày 23/9 còn đưa ra thông cáo nhằm kêu gọi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden không tiếp đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Rõ ràng, những ý kiến hay tiếng nói lạc lõng trên không thể đại diện cho tiếng nói, tình cảm của kiều bào ta tại Mỹ và người Mỹ gốc Việt cũng như không thể đại diện cho quan điểm, sự quan tâm của người Mỹ và bè bạn quốc tế về các hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Mỹ cũng như mối quan hệ Việt – Mỹ. 

Những luận điệu sai trái trên là hành động tung hỏa mù, “chọc gậy bánh xe”, vừa cố tình vu cáo, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, vừa phá hoại mối quan hệ Việt – Mỹ, hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc. Lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập, nhiều bài viết dưới mác “phân tích cơ sở khoa học” nhằm phủ định nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; cố tình suy diễn, xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tác động vào niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN.

Thành tựu trong hợp tác Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ góp phần khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta 

Từ khi bình thường hóa quan hệ, nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thăm Hoa Kỳ, đặc biệt là chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7/2015. Đồng thời, tất cả các Tổng thống Hoa Kỳ từ sau khi bình thường hóa quan hệ đều đã thăm Việt Nam, gần đây nhất là chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden tháng 9/2023 và nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Chiến lược toàn diện. Tròn một năm nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Chiến lược toàn diện, hai bên đã tiếp tục cùng nhau triển khai giải quyết những vấn đề quan trọng thông qua các cơ chế đối thoại mới, tập trung thúc đẩy các mục tiêu hợp tác bao gồm: Quan hệ chính trị ngoại giao; hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư; hợp tác chuyển đổi số; hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; hợp tác về giáo dục đào tạo; biến đổi khí hậu, môi trường, y tế, quốc phòng - an ninh...

Qua đó, hai bên tích cực phối hợp tổ chức các sự kiện, hoạt động quốc tế, khu vực quan trọng; triển khai hiệu quả các sáng kiến, cơ chế trong khuôn khổ Liên hợp quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông, Tiểu vùng sông Mê Kông, ứng phó với biến đổi khí hậu; coi trọng phối hợp với Việt Nam trong giải quyết nhiều vấn đề khu vực quan trọng khác... Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khi Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 8 của Hoa Kỳ, đồng thời là đối tác thương mại lớn nhất ở khu vực ASEAN. Hoa Kỳ tiếp tục là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam với 1340 dự án với tổng vốn trên 11,8 tỷ USD tính đến tháng 3/2024. Về phía Việt Nam cũng có 230 dự án đầu tư tại Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký gần 1,3 tỷ USD…

Trong lĩnh vực hợp tác về an ninh - quốc phòng, hai bên tiếp tục duy trì trao đổi thường xuyên để tăng cường hợp tác. Đồng thời, tiếp tục triển khai các cơ chế đối thoại thường niên như Đối thoại Chính trị - An ninh - Quốc phòng 13 (8/2024) và Chương trình Đối tác Thái Bình Dương 24 (8/2024). Hợp tác an ninh, chống tội phạm được mở rộng, hai bên tiếp xúc duy trì, trao đổi các cấp về những vấn đề an ninh chiến lược và chuyên ngành, đồng thời thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác mới.

Trong đối thoại về nhân quyền, hai bên trao đổi về những vấn đề này thông qua các cơ chế đối thoại thẳng thắn, trên tinh thần xây dựng như Đối thoại Nhân quyền, Đối thoại Lao động Việt Nam - Hoa Kỳ, qua đó góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giảm thiểu khác biệt; tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm tất cả người dân được hưởng đầy đủ quyền con người. Đồng thời Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục bám sát những nguyên tắc nền tảng của quan hệ hai nước, bao gồm “tôn trọng hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau”, củng cố hơn nữa tin cậy chính trị và lòng tin chiến lược, đảm bảo nguyện vọng của nhân dân hai bên, đóng góp tích cực hơn nữa cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững tại khu vực cũng như trên thế giới.

Phương châm trong đối ngoại của Việt Nam là: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế (Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng). Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực về các hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ, khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam.

Chuyến công tác, làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ càng có ý nghĩa quan trọng khi diễn ra vào thời điểm tròn một năm Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, cũng như trước thềm kỷ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao. Đây là dịp để hai bên cùng nhìn lại chặng đường đã qua, đúc rút, chia sẻ và lan toả những bài học, kinh nghiệm hay về quan hệ giữa các quốc gia, đồng thời tôn vinh và tri ân những thế hệ bạn bè đã và đang tích cực đóng góp cho quan hệ hai nước. 

Bên cạnh mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực, tự cường nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Như vậy, thực tế sự phát triển mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hay giữa Việt Nam với quốc gia nào trên thế giới đều là tất yếu khách quan, phù hợp xu thế chung của thời đại.

Điều đó chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, thể hiện nét đặc sắc “ngoại giao cây tre” vì lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố tình xuyên tạc, bịa đặt. Đó là minh chứng khách quan, sinh động, phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá, những hành động trơ trẽn và lạc lõng của các thế lực xấu.

Sưu tầm