Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

HỌC TẬP SUỐT ĐỜI LÀ CHÌA KHÓA ĐỂ VIỆT NAM TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, để Việt Nam phát triển bền vững trong thời đại tri thức, toàn dân cần học tập suốt đời và cán bộ phải dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Tổng Bí thư Tô Lâm vừa có bài viết Học tập suốt đời, nhấn mạnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu, nhu cầu, nhiệm vụ, suy nghĩ và hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là cán bộ, đảng viên. "Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng", Tổng Bí thư viết.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, nhu cầu, nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả. Việt Nam đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất.

Những tấm gương tự học tiêu biểu, từ nông dân, người lao động đến cán bộ, giáo viên, đã chứng minh sự sáng tạo và đóng góp không ngừng cho cộng đồng. Nhiều người đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa ra nhiều sáng kiến có giá trị thực tiễn cao. Có người ở tuổi "thất thập cổ lai hy" nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo. Những điều này đã góp phần đưa đất nước "đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới".

Tuy nhiên, Tổng Bí thư chỉ ra việc thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số hạn chế. Việc đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn.

Tổng Bí thư cho rằng còn tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, hoặc chạy theo việc học chỉ để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến. Một bộ phận không có khái niệm học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với "guồng quay" hối hả của nhịp sống "vũ bão" thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Cần cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh

Người đứng đầu Đảng nhấn mạnh đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để "sánh vai" với thế giới. Do đó, cán bộ cần có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt là trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh; hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ông nói cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm. Những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và 65% công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới.

"Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung. Tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại", Tổng Bí thư viết.

Ông cho rằng học tập suốt đời giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại. Đây cũng là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững.

Tổng Bí thư nhấn mạnh chỉ khi thực sự đẩy mạnh học tập suốt đời thì đất nước mới có nhân lực đủ tri thức và bản lĩnh để giải quyết những thách thức cấp bách, những vấn đề mới mẻ; gỡ bỏ những rào cản trong cơ chế, chính sách, loại bỏ sự hình thức trong tự phê bình; chấm dứt tình trạng trì trệ, lúng túng trong công việc. Học tập suốt đời giúp đất nước có đội ngũ cán bộ dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân.

Ban hành quy định sàng lọc cán bộ

Theo Tổng Bí thư, học tập suốt đời giúp người dân nâng cao nhận thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm chủ cuộc sống, phát triển bản thân, gìn giữ văn hóa dân tộc và nuôi dưỡng khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh.

Ông đề nghị mỗi công dân không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp. Mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào "học tập số", phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng.

Tổng Bí thư cho biết Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng "vượt rào" đột phá vì lợi ích chung.

Hệ thống giáo dục cũng tiếp tục được hoàn thiện theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Đảng, Nhà nước sẽ có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Theo Tổng Bí thư, trong thời đại hiện nay, tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững. Đây cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân.

Vì vậy, "chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, thì đất nước mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng".

 

Cảnh giác trước những luận điệu giả danh phản biện xã hội

 

Phản biện xã hội là một hình thức thể hiện tự do ngôn luận, bày tỏ ý kiến

một cách có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ và ý thức trách

nhiệm của công dân. Ở Việt Nam, phản biện xã hội ngày càng được mở rộng

nhằm thúc đẩy việc xây dựng nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hóa đời

sống xã hội, cũng như phát huy trí tuệ cộng đồng. Tuy nhiên một số tổ chức, cá

nhân đã và đang lợi dụng quyền này để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước

gây bức xúc dư luận, đòi hỏi cần phải kịp thời vạch trần và lên án.

THỦ ĐOẠN PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

 Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là nguyên tắc cơ bản, là nguồn gốc quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội trong mọi thời kỳ cách mạng. Đây là vấn đề có tính quy luật khách quan, một trong những nguyên tắc xây dựng quân đội ta hiện nay và đồng thời là bài học kinh nghiệm rút ra từ cách mạng Việt Nam và thế giới.

Hiện nay cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc đang diễn ra hết sức phức tạp. Trước sự diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, vấn đề khủng bố, li khai xung đột vũ trang, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo. Tình hình trong nước kẻ thù đang lợi dụng những vấn đề nhạy cảm để chống phá như gây kích động mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây mâu thuẫn giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.... Đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, mặt trái kinh tế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó là sau khi CNXH ở Liên xô, Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Nhất là âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.

Đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi là trọng điểm chống phá nhằm xóa bỏ chế độ XHCN; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN; với chiêu bài tự do hóa chính trị, tự do hóa kinh tế, đòi đa nguyên, đa Đảng và đặc biệt là nhằm “Phi chính trị hóa Quân đội”.

“Phi chính trị hóa Quân đội” là một trong những thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Thực chất của nó là, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng đối với Quân đội, làm biến chất Quân đội, hay nói cách khác là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, là cơ sở tiền đề để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội.

Thật vậy, mỗi khi Việt Nam diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội Đảng, chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, sửa đổi Hiến pháp, ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và quân đội…, bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau, không ít cá nhân, tổ chức thù địch lại hợp xướng “bài ca muôn thuở” - đồng loạt tung ra những luận điệu cũ rích đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đòi “phi chính trị hóa” quân đội... Các thế lực thù địch xảo biện và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh đạo quân đội là do nhu cầu lịch sử của công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và thống nhất đất nước hơn 50 năm, Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” và không cần sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, hiện nay, quyền lãnh đạo đất nước cần phải chia sẻ cho các lực lượng khác bằng cách thực hiện đa đảng hoặc trao cho cái gọi là “lực lượng dân chủ cấp tiến”; rằng, quân đội phải “trung lập”, quân đội phải “đứng ngoài chính trị”.

Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Không chỉ những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội ta luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới lại càng trở nên bức thiết. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới, cần nắm vững và thực hiện tốt những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ.

Hai là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đủ năng lực lãnh đạo toàn diện, có sức chiến đấu cao.

Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội theo hướng tổng hợp, phù hợp với yêu cầu mới.

Bốn là, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với lực lượng vũ trang, chính sách hậu phương quân đội.

Năm là, tăng cường mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, kiên quyết vạch trần và đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch.

Là người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng quân đội có sức mạnh vô địch là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng về mọi mặt đối Quân đội nhân dân Việt Nam; bảo đảm cho quân đội thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là một nguyên tắc căn bản, là nguồn gốc chủ yếu, quyết định mọi thắng lợi và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, đó là nguyên tắc bất di, bất dịch. Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, Đảng định ra cơ chế lãnh đạo cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Cơ chế lãnh đạo là một bộ phận của phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, có vai trò đặc biệt quan trọng bảo đảm cho Quân độ ta luôn mang bản chất giai cấp; trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Hiện nay chúng ta đang xây dựng quân đội theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, đòi hỏi phải quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản trong cơ chế 51 của Bộ chính trị đã đề ra./.

 

NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN “CHỦ NGHĨA CƠ HỘI” HIỆN NAY

Chủ nghĩa cơ hội thời kỳ nào cũng có, nhưng thường xuất hiện công khai và phát triển vào lúc cách mạng gặp khó khăn; khi các quan hệ xã hội có những biến đổi mang tính bước ngoặt. Gần đây, trong các văn kiện của Đảng nhắc nhiều tới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, tư tưởng cơ hội, các phần tử cơ hội chính trị... Điều đó chứng tỏ đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội ở nước ta hiện nay là nhiệm vụ rất quan trọng. Điều đó đặt ra cho chúng ta cần nhận diện “Chủ nghĩa cơ hội” để có ứng xử cho phù hợp.

Khi con người phân chia giai cấp, sẽ có mộ bộ phận cơ hội để mang lại lợi ích cho cá nhân. “Chủ nghĩa cơ hội” đã xuất hiện từ khi lịch sử loài người phân chia giai cấp. Biểu hiện nổi bật của những người theo chủ nghĩa cơ hội đó là thường có lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu kiên định, bản lĩnh chính trị yếu kém, có tư tưởng chung chung né tránh trước những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra của đất nước. V. I. Lênin cho rằng, chủ nghĩa cơ hội quốc tế được biểu hiện dưới nhiều màu sắc, nhiều dạng, nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc điểm của từng quốc gia dân tộc, nhưng chúng giống hệt nhau về nội dung, bản chất chính trị - xã hội, đó là: tính không kiên quyết, tính vô nguyên tắc, tính không rõ ràng, lờ mờ, quanh co. Sở dĩ có hiện tượng những người mác-xít, những người hoạt động trong đảng công nhân rơi vào chủ nghĩa cơ hội là do họ có sự do dự, thiếu kiên định, dao động và lừng chừng về chính trị. Chính vì vậy, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế” .

Biểu hiện của những kẻ mang chủ nghĩa cơ hội trong những năm qua ở nước ta, đó là:

Thứ nhất, coi trọng lợi ích các nhân, bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân; tìm mọi cách để vun vén và hợp lý hóa lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc.

Thứ hai, say mê quyền lực, địa vị, coi đó như một thứ có thể trao đổi, mua bán để tiến thân. Từ đó mà tì cách để luồn lách, nịnh bợ để lấy lòng cấp trên, để tranh thủ ủng hộ của mọi người mỗi khi cần.

Thứ ba, kéo bè, kết cánh, lôi kéo trên dưới, trong ngoài; tìm mọi cách để hợp lý hóa việc “chạy chức”, “chạy danh”, “chạy chỗ”, “chạy bằng cấp” và khi bị phát hiện thì tìm cách giải thích để không bị xử lý.

Thứ tư, lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người cùng lợi ích vào nắm những chức vụ trong cơ quan, mà không chịu chọn những người có đủ đức, tài. Chủ nghĩa cơ hội để lại nhiều hệ lụy trong quá trình công tác.

Để chống lại chủ nghĩa cơ hội có hiệu quả cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị các cấp cần tiếp tục tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức rõ bản chất, những biểu hiện cụ thể của những người có khuynh hướng “chủ nghĩa cơ hội”.

Hai là, nâng cao phê bình, tự phê bình trong nội bộ các tổ chức đảng, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân để giáo dục, rèn luyện, quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, luôn trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; luôn luôn cảnh giác trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch; bản thân không bị suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động ngăn ngừa để không vi phạm những biểu hiện cơ hội chính trị.

Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tiến hành chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh đối với những người có biểu hiện cơ hội chính trị; không để những người này “chui sâu”, “leo cao” vào trong bộ máy của Đảng, chính quyền các cấp./.

  

BẰNG CHỨNG SINH ĐỘNG PHỦ NHẬN SỰ XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH “ĐẢNG KHÔNG VÌ HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN”

 Sau gần 40 năm đổi mới, các tầng lớp nhân dân tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Điều đó chứng tỏ bản lĩnh, năng lực và uy tín của Đảng đã in sâu vào trái tim, khối óc nhân dân. Mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đó cũng là bằng chứng sinh động phủ nhận mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì hạnh phúc của nhân dân”.

Hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu chung của nhân loại tiến bộ hiện nay. Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc là ước mơ ngàn đời của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cội nguồn hạnh phúc của nhân dân là đất nước được độc lập, tự do, hòa bình, cùng những điều bình dị mà nhân dân cần có, đó là cơm ăn, áo mặc, có nhà để ở, được học hành, được làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải lấy việc xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của Đảng.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa nhân dân ta lên vị thế chủ nhân của đất nước, làm chủ vận mệnh của mình, được hưởng các quyền con người, quyền tự do, công bằng. Hướng tới lợi ích của nhân dân, lấy nguyện vọng và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu lâu dài đã trở thành nhân tố quyết định quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Quá trình đổi mới đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), Đảng ta luôn xác định “lấy nhân dân là chủ thể, trung tâm”, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân; xác định nhân dân chính là nguồn lực, động lực chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, kinh tế-xã hội nước ta có nhiều khởi sắc. Với mức tăng trưởng trung bình gần 7% mỗi năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300USD năm 2023, Việt Nam đang tiến tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Từ năm 1990 đến 2022, giá trị HDI của Việt Nam nâng từ 0,492 lên 0,726, tăng gần 50%. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đã đạt hơn 470 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức 60% năm 1986.

Để công cuộc xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được hiện thực hóa trong đời sống, điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là phải kiên trì thực hiện tốt quan điểm “dân là gốc”, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Các cấp, các ngành, các địa phương cần phải nhận thức sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết được, trong đó có bài học “lấy dân làm gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Mục tiêu cao cả, tối thượng của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì hạnh phúc của nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối trung thành với con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn và hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam” nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2) vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy đảng cần đề cao trách nhiệm nêu gương, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội; đồng thời phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, bảo đảm Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo trung thành với lợi ích của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và trong tương lai, mục tiêu “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân” tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng Đảng, xây dựng CNXH.

 

Văn hoá ứng xử khi va chạm giao thông


 

Va chạm giao thông là điều không ai mong muốn song có thể xảy ra với

bất kỳ ai trên đường. Tuy nhiên, điều đáng nói là cách ứng xử giữa những người

tham gia giao thông với nhau khi xảy ra những tình huống như vậy để không

dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.

VƯƠN MÌNH BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

 Gần đây các phần tử bất mãn, cơ hội, phản động lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn” để xuyên tạc và “định hướng dư luận” là đã đến lúc phải xóa bỏ “điểm nghẽn” của điểm nghẽn đó. Chúng ta cũng cần khẳng lại một sự thật chắc chắn rằng, “điểm nghẽn của điểm nghẽn” ở Việt Nam không phải là Đảng Cộng sản, bởi “mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản” đã được ghi rõ trong Điều lệ Đảng.

KIÊN ĐỊNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Gần 95 năm về trước, ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930), Đảng ta đã khẳng định rõ nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Theo đó cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền (giành độc lập dân tộc; mang lại ruộng đất cho dân cày) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) (xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản). Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH - Ý Đảng và khát vọng của lòng Dân gặp nhau đã bồi tụ nên nguồn sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945).

Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải bằng mệnh lệnh hành chính mà bằng Cương lĩnh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; bằng công tác cán bộ và hoạt động của các tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo đúng tinh thần “các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như Hiến pháp năm 2013 quy định. Cho nên, cũng không có cái gọi là Đảng “tự đặt mình lên trên Hiến pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc để chống phá Đảng và chế độ...

VƯƠN MÌNH TRONG KỶ NGUYÊN MỚI ĐỂ GIỮ VỮNG MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đảng ta vừa khẳng định đi lên CNXH là xu thế không thể đảo ngược (mặc dù tình hình khu vực, thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến hết sức phức tạp) và cơ chế hoạt động chính trị luôn được củng cố, giữ vững là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”, vừa tiến hành đổi mới tư duy trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật từ Đại hội VI (12/1986). Việc đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý của nhà nước; cơ chế nhân dân làm chủ không chỉ giữ vững sự ổn định về chính trị, mà còn góp phần để đất nước đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội và tiếp tục tiến những bước hết sức ngoạn mục.

Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định, Việt Nam tiếp tục đổi mới trong bối cảnh thế giới đang nhiều thay đổi có tính thời đại và đất nước cũng đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng một nước Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc, song đó không phải là “con đường toàn trị”, “tiếp tục chính sách đàn áp các tiếng nói bất đồng” như các thế lực thù địch bôi đen. Mà đó là nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đảm bảo, bảo vệ, thực thi, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam... chứ không chấp nhận dân chủ đa nguyên, đa đảng đối lập, tổ chức xã hội dân sự và càng không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

 

TĂNG CƯỜNG AN NINH CỦA VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

 Bước vào kỷ nguyên mới đòi hỏi phải phát triển nhanh, mạnh, vững chắc, đồng bộ mọi mặt của đời sống xã hội và phải vươn lên trên tất cả các lĩnh vực; trong đó, việc tăng cường an ninh, đối ngoại cần được đặc biệt quan tâm vì là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tăng cường an ninh là làm cho lực lượng an ninh mạnh thêm để bảo đảm sự ổn định, bình an của xã hội, của đất nước. Các nhiệm vụ và nội dung chính của tăng cường an ninh là:

Thứ nhất, tăng cường an ninh về chính trị.

Đây là điều cốt yếu, xuyên suốt của an ninh đất nước, an ninh chế độ. Trọng tâm trong tăng cường an ninh chính trị là bảo vệ vai trò, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; là bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an toàn xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Đấu tranh có hiệu quả và vô hiệu hóa mọi hoạt động thâm nhập, khủng bố, phá hoại của các tổ chức phản động, âm mưu can thiệp lật đổ từ bên ngoài; ngăn chặn không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh xử lý các âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường đấu tranh có hiệu quả đối với các luận điệu sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên các phương tiện truyền thông xã hội. Quản lý một cách hiệu quả các hoạt động văn hóa, tư tưởng, chống các biểu hiện lệch lạc. Tuyên truyền, định hướng cho quần chúng nhân dân về các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngăn chặn và xử lý kịp thời các đối tượng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bảo đảm an sinh, an toàn tuyệt đối các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các mục tiêu trọng tâm, các hoạt động đối ngoại, các sự kiện trọng đại của đất nước, bảo đảm Việt Nam là một điểm đến an toàn cho bạn bè quốc tế, là đất nước thanh bình.

Thứ hai, tăng cường an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh mạng, an ninh con người, ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh phi truyền thống, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Kịp thời phát hiện và xử lý các nguy cơ đe dọa đối với nền kinh tế đất nước; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng và công cuộc đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế; điều tra khám phá kịp thời và xử lý nghiêm minh các tội phạm về tham nhũng, thu hồi tài sản cho Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng. Thể hiện vai trò xung kích trong bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng, bảo đảm an toàn hệ thống thông tin quốc gia. Tăng cường bảo đảm an ninh con người, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của an ninh trong tình hình mới. Chủ động nắm bắt và ứng phó kịp thời với các yếu tố an ninh phi truyền thống, bảo đảm sự bình yên, ổn định của đất nước.

Thứ ba, tăng cường tiềm lực an ninh với việc củng cố vững chắc nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân, xây dựng lực lượng công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao.

Nền an ninh nhân dân được tăng cường, chăm lo, xây dựng trên nền tảng “thế trận lòng dân”, hội tụ lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân, niềm tin chính trị, ý thức trách nhiệm công dân của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Xây dựng nền an ninh nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường xây dựng lực lượng công an nhân dân theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Bộ Công an tiếp tục tiên phong trong việc sắp xếp bộ máy tổ chức tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả với phương châm “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; đẩy mạnh xây dựng lực lượng công an ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, bảo vệ vững chắc nền an ninh đất nước, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, lãnh thổ, an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh con người.

 

CHỐNG “CHỦ NGHĨA THỜ Ơ VỀ CHÍNH TRỊ” TRONG ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO CÁC CÔNG TY, XÍ NGHIỆP


 

Khi nói về mối quan hệ giữa những người cộng sản với toàn thể những người vô sản, C.Mác đã chỉ rõ: “Trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào”. Đó là chân lý hiển nhiên, là lẽ bình thường mà những người cộng sản chân chính cách mạng phải hiểu và vận dụng. Nhưng trên thực tế, ngay từ thời C.Mác đã có những “lý luận gia” và không ít những nhà hoạt động chính trị thờ ơ với các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản. Họ coi các hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản như là một sự vụn vặt, thấp kém, trái với nguyên tắc và mục đích tối cao, cuối cùng của đảng cộng sản. Họ cho rằng mục đích cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ nhà nước, vì vậy “Giai cấp công nhân không cần phải tự tổ chức thành chính đảng; giai công nhân không được viện bất cứ lý do gì để làm chính trị, vì tiến hành đấu tranh chống nhà nước tức là thừa nhận nhà nước và như vậy là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu! Công nhân không nên tiến hành bãi công, vì phí sức mình để giành cho được tăng lương hoặc để ngăn chặn hạ lương có nghĩa là thừa nhận chế độ làm thuê, như thế là trái với những nguyên tắc vĩnh cửu của việc giải phóng giai cấp công nhân...”. C.Mác gọi đó là “chủ nghĩa thờ ơ chính trị”.

TĂNG CƯỜNG ĐỐI NGOẠI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Tăng cường đối ngoại là làm cho toàn hệ thống đối ngoại, ngoại giao được mạnh thêm để tăng cường quan hệ với các nước trên thế giới một cách có hiệu quả, bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tăng cường đối ngoại thể hiện trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, phát huy và tăng cường vai trò tiên phong của đối ngoại, ngoại giao.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định : “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”(2). Tiên phong thể hiện trước hết trong việc không ngừng đổi mới tư duy về đối ngoại, trong nhận thức về thế giới, định vị đất nước, quan hệ đối tác - đối tượng, mạnh dạn tìm ra hướng đi mới, cách làm mới, mở rộng lĩnh vực mới để đáp ứng yêu cầu của đất nước; tiên phong trong công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại. Tiên phong trong những nhiệm vụ quan trọng, như bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; trong việc kiến tạo để thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc; trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, nhất là gắn kết sức mạnh cộng đồng người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài.

Thứ hai, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Trong cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại mang bản sắc “cây tre Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đất nước ta đã xây dựng một nền ngoại giao độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam... Vững ở gốc là nguyên tắc vì lợi ích quốc gia - dân tộc để phục vụ đường lối độc lập, tự chủ, lấy thực lực là gốc, lấy đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng để tạo thế, lập thời, lấy phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng soi đường, chỉ lối... Chắc ở thân là những phương thức tạo nên sức mạnh; trong đó, sức mạnh đại đoàn kết là nhân tố sống còn; đại đoàn kết trong nước là căn bản, đoàn kết quốc tế là nhân tố bổ trợ hết sức quan trọng... Uyển chuyển ở cành là phong cách, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đặc biệt là trong những tình huống khó khăn, phức tạp... Đó là cách ứng xử “biết mình, biết người”, “biết thời, biết thế”, “biết dừng, biết tiến” của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Thứ ba, tăng cường tiềm lực về chính trị.

Đối ngoại, ngoại giao là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị nên phải phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế; trong đó, sức mạnh dân tộc thể hiện ở sức mạnh tập thể cả vật chất và tinh thần. Đối ngoại, ngoại giao dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, sự đoàn kết của cả hệ thống chính trị tạo nên một cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước. Tăng cường tiềm lực đối ngoại, ngoại giao cũng là tăng cường trang - thiết bị tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu mới. Chủ trương xây dựng tổ chức, bộ máy và đào tạo cán bộ cả về trình độ năng lực, nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống; nâng cao trình độ dự báo đúng tình hình và tham mưu xác đáng phục vụ nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh.

Để thực hiện tiếp những nhiệm vụ quan trọng nêu trên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cần có cách làm và bước đi đúng đắn trên cơ sở “biết mình, biết người”, “trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu”, nhận rõ cơ hội và thời cơ, thách thức và nguy cơ; xây dựng và thực hiện các chính sách tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại đúng đắn, bảo đảm cho đất nước ổn định, thích nghi và phát triển trong thế giới đầy biến động hiện nay. Việc đầu tiên là phải biết mình, biết người. Biết mình là nhận rõ vị trí, vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế, tiềm năng và tiềm lực của đất nước, nắm chắc tiềm lực quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước đang ở mức nào và khả năng mọi mặt để tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại cao nhất, trung bình và thấp nhất có thể. Biết người chính là biết các đối tác, đối tượng có quan hệ với ta, vai trò, vị thế của các đối tác, đối tượng và sự tác động tổng hợp các yếu tố thuận và không thuận đối với nước ta.

Vấn đề cơ hội và thời cơ, thách thức và nguy cơ cũng cần nhìn nhận thấu đáo. Cơ hội là những điều kiện thuận lợi, những hoàn cảnh tốt đẹp từ trong nước và nước ngoài. Còn thời cơ được coi như đỉnh điểm của cơ hội, là tình huống đặc biệt thuận lợi, thậm chí có một không hai, tạo điều kiện cho việc hoạch định và thực hiện chính sách nhanh chóng, đạt hiệu quả về mặt thời gian; thời cơ diễn ra rất ngắn, rất nhanh so với cơ hội.

Cặp đôi tương ứng với cơ hội và thời cơ là thách thức và nguy cơ. Thách thức là tình huống gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, trắc trở, gian nan, thử thách bản lĩnh, ý chí của con người. Còn nguy cơ là biểu hiện cao nhất của thách thức, là tình thế đặc biệt nguy hiểm, cực kỳ cấp bách, nếu không biết cách xử lý tốt, ứng phó kịp thời thì sẽ gặp tai họa.

Phương pháp khoa học và kinh nghiệm máu thịt của ông cha ta là bài học quý giá để chúng ta nắm chắc phương pháp và cách thức xử lý để đưa ra các chính sách tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại chính xác, hiệu quả, bảo đảm cho đất nước bình an, hài hòa, vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

 

LÝ TƯỞNG, NIỀM TIN CỦA THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

 Lý tưởng xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bước vào công cuộc đổi mới, trong điều kiện của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, lý tưởng cách mạng của thanh niên là tiếp tục phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong xã hội và trong mỗi người, niềm tin không bỗng nhiên mà có, nó phải được hình thành và vun đắp lâu dài trên nền tảng giá trị và lợi ích, bằng sự chân thành, nhân ái, sẻ chia và minh bạch trong cộng đồng. Nếu không có niềm tin sâu sắc và cháy bỏng: niềm tin vào lý tưởng chân chính của dân tộc, niềm tin vào lý tưởng và sự lãnh đạo của Đảng, niềm tin vào chiến thắng của cách mạng... thì những thế hệ thanh niên Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống đế quốc xâm lược là Pháp và Mỹ, sẽ không thể thực hiện được lý tưởng cao đẹp ấy.

Trải qua những thăng trầm lịch sử, sự hưởng ứng vào niềm tin đó của thanh niên ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc để hình thành nên và thúc đẩy niềm tin của nhân dân với Đảng, của Đảng với nhân dân.

Vì vậy, niềm tin của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, vẫn tiếp nối ngọn lửa từ thế hệ cha anh, là niềm tin cách mạng, niềm tin vào sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Niềm tin cách mạng là sự hòa quyện giữa nhận thức lý tưởng với tình cảm và ý chí, trở thành động lực tinh thần giúp thanh niên vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức phấn đấu theo con đường, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Dưới bất cứ hình thức nào thì lý tưởng, niềm tin của thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay cũng phải xuất phát từ lý tưởng, niềm tin của Đảng. Tuổi trẻ phải ra sức học tập, lao động, rèn luyện để ngày càng tiến bộ, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững các thành quả cách mạng, thực hiện được mục tiêu cao cả: xây dựng Tổ quốc ta ngày càng giàu mạnh, đất nước ta ngày càng hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

 

NHẬN THỨC RÕ VỀ CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở nước ta hiện nay. Các thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện “diễn biến hoà bình”, theo các hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, Dùng hệ thống truyền thông, tin học toàn cầu tác động liên tục, bền bỉ vào các nước xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc hệ tư tưởng, phủ nhận những thành tựu, cường điệu những khuyến điểm, tuyên truyền những giá trị của chủ nghĩa tư bản. Từ đó, đầu độc về tư tưởng, làm đảo lộn nhiều tư duy, khái niệm làm chuyển hoá dần tư tưởng của nhân dân nhất là giới trẻ và cả tư tưởng của một bộ phận lãnh đạo.

Thứ hai, Xây dựng, tiếp tay cho các lực lượng phản động, liên lạc với bọn phản động đội lốt tôn giáo, dân tộc…những phần tử bất mãn, đầu cơ chính trị, cài cắm gián điệp, nội gián…để hình thành lực lượng chống đối từ bên trong.

Thứ ba, Dùng đầu tư, viện trợ kinh tế và sử dụng ưu thế về khoa học và công nghệ tiến hành thay đổi nền kinh tế, gây sức ép đẩy nhanh quá trình tự do hoá, tư nhân hoá kinh tế, thông qua kinh tế để chuyển hoá chính trị. Dùng hệ thống tài chính, tiền tệ mạnh xâm nhập vào trong nước, làm công cụ khống chế, cải tổ hệ thống tài chính tiền tệ theo hướng tư bản chủ nghĩa.

Thứ tư, Tác động trực tiếp vào lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa, ủng hộ những con người cụ thể, có khả năng hợp tác với phương Tây. Trên hướng này, chủ nghĩa đế quốc lợi dụng triệt để những mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo các nước, phân hoá, cô lập những người tốt, khuyến khích, ủng hộ những người có quan điểm hữu khuynh, có xu hướng cấp tiến, theo hướng dân chủ đa nguyên chính trị và kinh tế thị trường dựa trên cơ sở tư nhân hoá.

Tóm lại, chiến lược “diễn biến hoà bình” là sử dụng tổng hợp các biện pháp tư tưởng, tổ chức, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao và hoạt động ngầm để tấn công chủ nghĩa xã hội trong lòng các nước xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp tư tưởng, kinh tế, ngoại giao, được đặc biệt coi trọng như là công cụ để “mở cửa" đi vào trong nước, kích động các nhân tố bên trong nổi dậy thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Đây là những thủ đoạn vô cùng xảo quyệt và hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch hiện nay. Nếu các nước xã hội chủ nghĩa lơ là cảnh giác và không đánh bại âm mưu và hoạt động của chúng thì có khả năng tan rã Đảng Cộng sản, làm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI ĐẢNG

 Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị gia tăng các hoạt động tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá. Đáng lưu ý một số đối tượng mang danh “nhân sĩ, trí thức” đã lợi dụng danh nghĩa “Đóng góp ý kiến cho Đảng, Nhà nước” để đưa ra cái gọi là “Bức tâm thư, góp ý với lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam về việc chuẩn bị Đại hội XIV”. Theo đó, họ hô hào “Kỷ nguyên mới phải là kỷ nguyên dân chủ cho dân tộc Việt Nam vươn mình”, kêu gọi Đảng, Nhà nước Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng… Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm mà chúng ta phải chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh.

Lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIV của Đảng, một trong những nội dung công việc hệ trọng. Do đó, chúng ta không thể để những quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc tác động, chi phối, đặc biệt trong việc tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội. Một trong những yêu cầu đặt ra là cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác để đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái nhằm phá hoại đại hội đảng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị...

Những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc, phản động ấy không chỉ là “lời nói gió bay”, mà còn được họ soạn thảo thành những tài liệu mạo danh, nặc danh dài hàng trăm trang chứa đựng thông tin sai trái, xấu, độc... rồi tán phát trên một số trang mạng. Nội dung mà chúng tập trung là xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành quả cách mạng, thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh... của đất nước, rồi quy kết đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế ấy là do thể chế chính trị, sự yếu kém trong thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng ta... Chúng cho rằng, đại hội lần này là thời cơ để Việt Nam đổi mới thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nhìn vào những bản góp ý được chuẩn bị công phu, lập luận không kém phần logic với những câu từ được trau chuốt bóng bẩy ấy, nếu ai đó non kém về nhận thức chính trị, sẽ rất dễ lầm tưởng và cho đấy là sự góp ý có trách nhiệm và tâm huyết. Nhưng thực chất đó là những luận điệu hết sức sai trái và cực kỳ nguy hiểm.

Mục tiêu của những giọng điệu trên vẫn không gì khác là hòng đánh lừa dư luận, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của chúng, sâu xa hơn là phủ nhận tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang dày công xây dựng. Nhưng mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy đã và đang bị vô hiệu hóa, bởi cùng với phát huy dân chủ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc, luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không mơ hồ, ảo tưởng trước mọi chiêu trò chống phá ấy.

 

“VÙNG CẤM” – GIỮ VỮNG KỶ CƯƠNG, CỦNG CỐ NIỀM TIN

 

Chống tham nhũng là cuộc chiến cam go, thậm chí có cả hy sinh. Tham những làm xói mòn niềm tin quần chúng, kể cả đảng viên “gạo cội” cũng có lúc dao động. Còn với kẻ thù thì đây là cơ hội để chống phá nhưng với bản lĩnh và quyết tâm của Đảng, cuộc chiến này sẽ thắng!

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


           Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị đang ngày càng lợi dung không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch với mục đích nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta, làm mất lòng tin của quần chúng Nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu sai trái thù địch trên không gian mạng vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt với trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhiệm vụ này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta


Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhờ vậy, trí tuệ của Đảng và đảng viên được phát huy, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được giữ vững, bảo đảm cho Đảng ta luôn là một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 

 

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm đảm bảo cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã ra nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Như vậy Đảng ta khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Do đó tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay:

PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO “BA KHÔNG” ĐỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 8 (KHÓA XIII)

 

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) của Đảng xác định phương châm chỉ đạo thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới gồm nhiều nội dung quan trọng; trong đó, nhấn mạnh: không để rơi vào thế cô lập, bị động, lệ thuộc, đối đầu; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch, phản động làm phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc; không để nước ta trở thành chiến trường, địa bàn xung đột lợi ích chiến lược của các nước lớn.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG, SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC GIÀU MẠNH, PHỒN VINH, VĂN MINH, HẠNH PHÚC

 

Đại đoàn kết toàn dân tộc là nội dung quan trọng, xuyên suốt trong đường lối, chiến lược của Đảng, nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm nhất quán đó được Đảng ta tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 về “Tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Trong đó, xác định rõ quan điểm, mục tiêu và những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, cần được quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng, giai tầng xã hội, địa phương và vùng miền.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THỰC HIỆN NGHIÊM KHẮC VỚI CHÍNH MÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 


Với quan niệm, “Cán bộ là tướng của đoàn thể”, “là gốc của mọi công việc”; “là nhịp cầu nối liền giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân”, “là sợi dây chuyền của bộ máy”, “là tiền vốn của đoàn thể”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác. Chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên về ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện bản thân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người phải thực hiện nghiêm khắc với chính mình.