Thứ Tư, 4 tháng 6, 2025
CÂU CHUYỆN CẢNH GIÁC: TỈNH TÁO TRƯỚC TRÒ “HIẾN KẾ ĐỂU”!
CÂU CHUYỆN CẢNH GIÁC: TỰ HÀO NHƯNG PHẢI TỈNH TÁO!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG TRINH VĂN QUYẾT "LỄ TUYÊN THỆ LÀ TIỀN ĐỀ ĐỂ CHIẾN SĨ BƯỚC TIẾP TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG BINH NGHIỆP VẺ VANG"!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG XUÂN CHIẾN LÀM VIỆC VỚI BINH CHỦNG HÓA HỌC!
QUAN NIỆM ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Với nhãn quan chính trị sắc bén, với tinh thần nhân văn cao cả, suốt cả
cuộc đời, Hồ Chí Minh đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện một hệ thống quan
điểm về đại đoàn kết dân tộc, tích cực truyền bá tư tưởng đoàn kết trong toàn
Đảng và các cấp chính quyền, trong các tầng lớp nhân dân, kể cả đồng bào Việt
Nam ở xa Tổ quốc. Hồ Chí Minh đưa ra quan
niệm về đại đoàn kết, đại đoàn kết dân tộc - Đó là;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận quan trọng hợp
thành trong hệ thống tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam. Nghiên cứu toàn bộ di cảo của Người có thể nhận thấy cụm từ “đoàn
kết” được Người nhắc tới hơn hai ngàn lần và cụm từ “đại đoàn kết” được Người
nhắc tới hơn tám mươi lần, điều đó nói lên sự quan tâm đối với vấn đề đoàn kết
ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh của lịch sử, đồng thời tỏ rõ tầm chiến lược tư
tưởng đoàn kết của Người. Đoàn kết có thể hiểu một cách đơn giản là sự tập hợp,
kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó. Còn
đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi tức muốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô,
lực lượng của khối đoàn kết.
Hồ Chí Minh nói nhiều tới đoàn kết, đại đoàn kết, tuy nhiên chỉ một lần duy
nhất Người định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước hết
phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân
và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng
như cái nền của nhà, cái gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải
đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [1].
Tư tưởng về đại đoàn kết tiếp tục được Hồ Chí Minh cụ thể hóa hơn trong các cụm
từ như: “đại đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết toàn dân”, “đoàn kết dân tộc”, “toàn
dân tộc ta đoàn kết”. Tuy cách diễn đạt có thể khác nhau, nhưng nội hàm của các
khái niệm trên đều thống nhất khi khẳng định lực lượng của khối đại đoàn kết là
của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản./.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.244
QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN TRONG TÁC PHẨM "SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Tháng 10 - 1947, trong bộn bề công việc của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc". Đây là một tác phẩm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và là một di sản vô giá đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảy mươi bảy năm trôi qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, Nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đang đòi hỏi Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải tiếp tục sửa đổi lối làm việc.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng,
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận và luôn quan tâm tới việc học
tập lý luận của cán bộ. Những tư tưởng của Người về vai trò của lý luận đối với
hoạt động thực tiễn và về công tác “Huấn luyện lý luận” cho cán bộ là di sản vô
cùng quý giá của Đảng, của dân tộc ta. "Sửa đổi lối làm việc" là một
trong những tác phẩm lớn của Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy rõ điều này.
Trên cơ sở thấm nhuẩn sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lý luận cách mạng đối với Đảng cách mạng và phong trào cách mạng, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá, sáng tạo những vấn đề lý luận, vai trò lý luận với thực tiễn v.v... Người đi sâu chỉ rõ lý luận là gì? Đó là: "Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính"[1]1. Người chỉ rõ vai trò của lý luận như thế nào ? "Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế"[2]2. "Lý luận chân chính" mà Hồ Chí Minh đưa ra thực chất là lý luận khoa học có vai trò to lớn đối với thực tiễn. Người viết: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi"[3]. "Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại"[4].
Bài 9: Nhìn nhận sự thật từ nhiều khía cạnh
Cô Lan đang xem một phóng sự truyền hình nước ngoài về phong tục tập quán của Việt Nam, thấy họ khen đẹp và độc đáo thì rất vui. Cháu gái cô, Mai, ngồi bên cạnh, nói: "Bà ơi, họ có nói đến những mặt trái của một số phong tục không? Ví dụ như việc lãng phí trong đám cưới, đám tang chẳng hạn?"
Cô Lan ngạc nhiên: "Ồ, bà chỉ thấy họ khen đẹp thôi chứ không để ý đến mấy cái đó." Mai giải thích: "Nhiều khi họ chỉ muốn chiếu những điều đẹp đẽ, hoặc những điều gây tò mò để thu hút khán giả. Nhưng thực tế, bất kỳ phong tục nào cũng có hai mặt. Quan trọng là mình nhìn nhận sự thật từ nhiều khía cạnh, không chỉ tập trung vào những lời khen ngợi bên ngoài."
Cô Lan gật gù: "Đúng là bà hơi chủ quan thật. Cứ thấy 'Tây' khen là mừng." Mai cười: "Tự hào về văn hóa dân tộc, nhưng cũng phải tỉnh táo để nhìn nhận những điểm cần điều chỉnh, từ đó gìn giữ và phát huy giá trị tốt đẹp của văn hóa mình bà nhé."
Bài 8: Không dựa vào lời khen để định giá bản thân
Minh hí hửng khoe với Linh: "Tờ báo thể thao danh tiếng của Anh vừa viết về bóng đá Việt Nam, khen đội tuyển mình tiến bộ vượt bậc!" Linh hỏi: "Họ có phân tích sâu về chiến thuật, về những điểm mạnh, điểm yếu của đội không? Hay chỉ là những lời khen chung chung về tinh thần thi đấu?"
Minh đáp: "Thì cứ khen là vui rồi. Chứng tỏ mình có trình độ quốc tế chứ gì!" Linh lắc đầu: "Đội tuyển của mình có tiến bộ thật, đó là nhờ sự nỗ lực của cả tập thể và ban huấn luyện. Nhưng mình không nên dựa hoàn toàn vào lời khen của người khác để đánh giá bản thân. Quan trọng là mình biết mình đang ở đâu, còn những điểm nào cần cải thiện, và không ngừng phấn đấu."
Minh trầm ngâm: "Vậy là không nên quá tự mãn khi được khen đúng không?" Linh gật đầu: "Chính xác! Tự hào về những thành quả, nhưng cũng phải tỉnh táo để nhận ra những điều mình cần làm tốt hơn nữa. Tự hào nhưng phải luôn cầu tiến."
Bài 7: Phân biệt giữa khen ngợi và thao túng tâm lý
Chị Thảo đọc một bài viết trên tạp chí nước ngoài: "Việt Nam là hình mẫu về sự phát triển bền vững trong khu vực!" Chị liền khoe với anh Khoa: "Tuyệt vời quá anh Khoa! Người nước ngoài công nhận mình rồi!" Anh Khoa hỏi: "Thế họ có giải thích cụ thể về tiêu chí bền vững đó không? Hay chỉ là những lời hoa mỹ?"
Chị Thảo ngập ngừng: "Thì... họ nói chung chung thôi, nhưng mà khen mình thì chắc là thật." Anh Khoa giải thích: "Khen ngợi có thể là thật lòng, nhưng cũng có thể là một chiêu trò thao túng tâm lý. Họ có thể dùng những lời khen để mình mất cảnh giác, sau đó cài cắm những thông tin khác, có thể là không chính xác hoặc có mục đích riêng. Quan trọng là mình phải phân tích kỹ lưỡng, không để cảm xúc tự hào làm lu mờ khả năng phán đoán."
Chị Thảo suy nghĩ: "Đúng là dễ bị cuốn theo cảm xúc thật." Anh Khoa nói: "Tự hào nhưng phải tỉnh táo để nhận diện được đâu là lời khen thật lòng, đâu là lời khen có ẩn ý, từ đó đưa ra đánh giá đúng đắn."
Bài 6: Đừng để những lời khen che mắt
Hòa chạy đến khoe với Sơn: "Ê, Sơn! Một kênh truyền hình lớn của Mỹ vừa phát phóng sự về du lịch Việt Nam, khen cảnh đẹp hết lời luôn! Đáng tự hào ghê!" Sơn nhíu mày: "Họ có nói đến vấn đề rác thải du lịch, hay việc quản lý điểm đến chưa chặt chẽ ở một số nơi không?"
Hòa ngớ người: "À... tôi chỉ thấy họ chiếu cảnh đẹp thôi." Sơn nói tiếp: "Đó là vấn đề đó. Nếu họ chỉ khen mà không đề cập đến những thách thức, thì đôi khi sự ngợi ca đó lại khiến chúng ta chủ quan, không nhìn ra những vấn đề cần phải khắc phục. Khen để mình tự hào, nhưng đồng thời cũng phải nhắc nhở mình về những điều cần cải thiện."
Hòa gật gù: "Ờ ha, tôi cứ tưởng khen là tốt hết." Sơn cười: "Tự hào về vẻ đẹp đất nước là đúng, nhưng cũng phải tỉnh táo để nhìn nhận những khía cạnh chưa hoàn thiện, từ đó cùng nhau xây dựng du lịch bền vững hơn."
Bài 5: Góc nhìn đa chiều để đánh giá
Chị Mai hào hứng kể: "Báo quốc tế vừa đăng bài về thành tựu giáo dục của nước mình, xếp hạng cao chót vót luôn!" Anh Phong trầm tư: "Chị có đọc kỹ về tiêu chí xếp hạng không? Họ dựa trên những yếu tố nào? Có những góc nhìn khác về giáo dục của mình mà bài báo đó chưa đề cập đến không?"
Chị Mai bối rối: "Tôi chỉ đọc phần tóm tắt thôi, thấy kết quả cao là vui rồi." Anh Phong chia sẻ: "Một bài báo, dù là của tờ báo lớn, cũng chỉ là một góc nhìn. Để đánh giá đúng bức tranh toàn cảnh, mình cần tìm hiểu từ nhiều nguồn, nhiều quan điểm khác nhau. Đôi khi họ chỉ tập trung vào một vài điểm sáng mà bỏ qua những hạn chế, hoặc ngược lại."
Chị Mai gật gù: "Đúng là mình hơi dễ dãi trong việc tiếp nhận thông tin." Anh Phong kết luận: "Tự hào về những thành tựu là đúng, nhưng cũng phải có cái nhìn đa chiều để đánh giá khách quan, từ đó biết mình cần làm gì để phát triển hơn nữa."
Bài 4: Kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ
Ông Ba đang ngồi đọc báo mạng, bỗng thấy một bài viết được chia sẻ rầm rộ: "Chuyên gia nước ngoài dự đoán Việt Nam sẽ trở thành 'con rồng châu Á' tiếp theo!" Ông liền chia sẻ ngay lên nhóm chat gia đình. Con trai ông, anh Nam, thấy vậy liền gọi điện: "Bố ơi, bố đã kiểm tra nguồn bài báo đó chưa ạ? Có phải báo chính thống không hay lại là một trang tin không rõ nguồn gốc?"
Ông Ba hơi ngập ngừng: "Thì bố thấy nhiều người chia sẻ quá nên nghĩ là thật." Anh Nam ôn tồn giải thích: "Bố ạ, trên mạng bây giờ thông tin thật giả lẫn lộn lắm. Nhiều khi những lời khen 'có cánh' lại xuất phát từ những trang tin lá cải, hoặc có mục đích câu view. Hoặc có khi là những nhận định cá nhân không có căn cứ. Mình phải thật tỉnh táo, tìm kiếm thông tin từ những nguồn đáng tin cậy trước khi tin và chia sẻ bố nhé."
Ông Ba ngộ ra: "Ờ ha, đúng là bố hơi chủ quan. Cứ thấy 'Tây' khen là mừng quá." Anh Nam cười: "Tự hào thì tốt, nhưng phải tỉnh táo kiểm chứng thông tin để không bị dẫn dắt bởi những điều không chính xác bố nhé."
Bài 3: Đừng để cảm xúc lấn át lý trí
Lan reo lên: "Trời ơi, báo chí nước ngoài ca ngợi văn hóa truyền thống của mình đẹp quá, độc đáo quá! Đúng là niềm tự hào dân tộc!" Hùng, bạn cùng lớp, hỏi: "Bài báo đó có đề cập đến những thách thức trong việc bảo tồn và phát huy không? Hay chỉ tập trung vào những điều lung linh thôi?"
Lan đáp: "Có vẻ là họ chỉ nói những điều tích cực thôi. Nhưng mà khen thì mình cứ vui chứ sao!" Hùng lắc đầu: "Vui thì đúng rồi, nhưng nếu họ chỉ khen mà không đề cập đến những vấn đề tồn tại, những khó khăn thực tế, thì đôi khi sự ngợi ca đó lại khiến mình chủ quan. Mình cứ nghĩ mọi thứ đều hoàn hảo, rồi quên đi những điều cần phải làm để giữ gìn và phát triển."
Lan suy nghĩ: "Đúng là có lý. Cứ được khen là dễ ngủ quên trên chiến thắng thật." Hùng nói: "Phải biết cách nhìn nhận khách quan, cả ưu điểm lẫn hạn chế. Tự hào về văn hóa, nhưng cũng phải ý thức được trách nhiệm của mình trong việc gìn giữ và làm cho nó phát triển hơn nữa."
Bài 2: Cảnh giác với những "ngợi ca" giả dối
"Ông thấy vụ này chưa? Một tổ chức quốc tế vừa công bố báo cáo nói kinh tế nước mình tăng trưởng thần kỳ, vượt xa dự báo!" An hào hứng khoe với Bình. Bình nhíu mày: "Tôi có đọc qua rồi. Đúng là có khen ngợi, nhưng ông có để ý đến những dòng chữ nhỏ, những con số họ đưa ra về nợ công hay tỉ lệ thất nghiệp ở một số ngành không?"
An giật mình: "Ủa, tôi chỉ chú ý phần khen thôi. Mấy cái kia tôi lướt qua." Bình giải thích: "Đó là chiêu của họ đấy. Khen để mình tự mãn, rồi cài cắm những thông tin tiêu cực, đôi khi là sai lệch để gây hoang mang hoặc làm giảm niềm tin. Nếu mình không tỉnh táo, dễ bị dắt mũi lắm."
An trầm ngâm: "Thì ra là vậy. Cứ tưởng được khen là tốt, ai ngờ..." Bình vỗ vai An: "Tự hào về những thành tựu của đất nước là điều đương nhiên, nhưng phải luôn giữ cái đầu lạnh và tư duy phản biện trước mọi luồng thông tin."
Bài 1: Sự thật qua lăng kính thông tin
Vân, vừa lướt mạng xã hội vừa xuýt xoa: "Sếp ơi, hay quá sếp! Báo nước ngoài viết về thành phố mình đẹp như tranh, lại còn khen môi trường đầu tư hấp dẫn nữa chứ!" Anh Long, trưởng phòng, điềm tĩnh trả lời: "Em đọc bản gốc chưa, hay lại tin ngay mấy cái ảnh chụp màn hình lan truyền trên mạng?"
Vân ngập ngừng: "À... em thấy mọi người chia sẻ rần rần nên cũng tin ạ." Anh Long thở dài: "Nhiều bài báo nước ngoài đôi khi chỉ tập trung vào những góc cạnh đẹp đẽ, hoặc đôi khi họ có ẩn ý riêng. Quan trọng là mình phải xem xét kỹ lưỡng nguồn tin, đối chiếu thông tin từ nhiều phía chứ không nên vội vàng tin tưởng."
Vân gật gù: "Vậy là mình cần đọc thật kỹ và suy nghĩ nhiều hơn chứ không phải cứ thấy 'tây' khen là mừng rơn hả sếp?" Anh Long cười: "Chính xác! Tự hào là tốt, nhưng phải tỉnh táo để nhận diện được những thông tin có thể gây hiểu lầm hoặc có mục đích khác."
Tự hào nhưng phải tỉnh táo
Trước cuộc họp cơ quan, Vũ chìa điện thoại ra và hào hứng bảo Dũng: - Ông xem cái này chưa? Trên mạng đang chia sẻ rần rần đấy! Một tờ báo lớn của nước ngoài mới đăng bài về Việt Nam. Đại ý khen lãnh đạo nước mình, mà không phải khen suông, có nêu vấn đề để Việt Nam khắc phục và bứt phá. Như vậy là “Tây” đã phục “Ta”!
Dũng nhíu mày đáp:
- Thế ông đọc bản gốc chưa hay lại xem mấy cái trang trên “phây” dịch lại?
- Ờ thì... tôi đọc bản rút gọn thôi. Mà báo lớn như vậy chắc họ khách quan, đáng tin chứ!
- Tôi đọc bài đó rồi. Đúng là nội dung có nói đến vai trò của các bác lãnh đạo nước mình, đề cập đến vị trí chiến lược của Việt Nam. Nhưng cậu phải cảnh giác...- Họ nói ta xử lý tham nhũng mạnh, rồi đặt vấn đề doanh nghiệp Việt mình còn kém phát triển vì cần có thể chế tốt. Đúng quá đi chứ! - Vũ tranh luận.
- Đấy là cách họ thường làm, ca ngợi rồi nêu vấn đề có vẻ khách quan khiến chúng ta dễ mất cảnh giác. Nhiều người dùng mạng xã hội chia sẻ bài viết với thái độ hồ hởi, thậm chí tự hào, coi đây là “sự ghi nhận từ nước ngoài”, là bằng chứng Việt Nam đã “vươn tầm quốc tế”. Đáng tiếc là phần đông chỉ tiếp nhận những bản dịch rút gọn, cắt xén nên không biết bài viết có nội dung xuyên tạc nhằm tác động, tạo chuyển hóa tư tưởng.
- Ông nói rõ cho tôi hiểu xem nào? - Vũ đề nghị.
- Trong bài cài cắm nhiều thông tin sai lệch về thể chế Việt Nam, như nói ta lấy việc chống tham nhũng như công cụ củng cố quyền lực; cố tình hạ thấp các doanh nghiệp lớn của nước ta, rồi nghi ngờ tính minh bạch của thể chế... Đây không phải lần đầu đâu! Nhiều bài viết của báo chí nước ngoài nói về nước ta một cách phiến diện, định kiến. Họ không nhìn nhận vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị của Việt Nam để hiểu, mà chỉ áp tiêu chuẩn của họ vào rồi đánh giá lệch lạc.
Vũ trầm ngâm:
- Nhưng thực tế có nhiều người cũng hiểu sai và chia sẻ bài viết như tôi...
- Đáng buồn là ở chỗ đó. Bây giờ, mạng xã hội là nơi lý tưởng để những thông tin kiểu này lan truyền chóng mặt. Người ta không cần hiểu, không cần kiểm chứng, chỉ cần thấy tên tờ báo lớn là tin, rồi chia sẻ, xong tự hào vì được khen. Mà đâu phải khen. Đấy là kiểu mồi nhử cảm xúc. Mình càng chia sẻ nhiều họ càng đạt được mục đích gieo nghi ngờ, gây chia rẽ lòng tin của người dân vào lãnh đạo.
- Tôi hiểu rồi. Đúng là thời này đọc báo không phải chỉ để nạp kiến thức, biết thông tin, mà cũng phải có kiến thức khi đọc báo. Không có tư duy phản biện là dễ bị dắt mũi lắm!
Dũng cười đáp:
- Những năm qua, giữa tình hình bất ổn của thế giới, đất nước ta vẫn phát triển vững chắc và có chiến lược đàng hoàng. Người dân, nhất là những người trẻ như anh em mình phải tin vào điều đó, tin vào những gì trông thấy hằng ngày, chứ không phải đợi kẻ khác khen rồi mới tự hào.
- Tôi hiểu rồi, tự hào nhưng phải thật tỉnh táo, ông nhỉ!
Thứ Ba, 3 tháng 6, 2025
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KIỂM TRA ĐỂ NÂNG CAO CHẤT
LƯƠNG CÁN BỘ THỜI KỲ MỚI
Bàn về hoạt động kiểm
tra, quản lý, đánh giá cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định:
" Phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương phải kiên quyết thực hành những
nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chống lại cái thói nghị quyết một đường, thi
hành một nẻo"[1]. Để
người tài phát huy được hết khả năng, sở trường của mình, nước hết phụ thuộc
vào chế độ sử dụng, chế độ quản lý. Chế độ quản lý với cơ chế cũ, cứng nhắc, hình
thức không những chế độ phát huy được nhân tài mà còn kìm hãm sự đóng góp của
nhân tài, làm thui chột nhân tài. Chế độ kiểm tra không chỉ dừng ở mục đích
đánh giá đúng về sự đóng góp của nhân tài để khen thưởng hay kỳ luật đúng đắn,
kịp thời, phát huy được tính tích cực ở người tài mà còn hướng vào việc giám
sát các tổ chức những người lãnh đạo sử dụng nhân tài như thế nào, tránh được
những yếu tố tiêu cực trong công tác cán bộ. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều hình
thức kỷ luật như kỷ luật của Đảng, xử lý kỷ luật của chính quyền, xử lý pháp luật.
Thực hiện chế độ kiểm tra nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác
cán bộ, đặc biệt là hướng vào mục tiêu mà Chủ tịch Hồ Chí Mình đã chỉ rõ: Thường xuyên phát
huy cái hay của người, hạn chế cái dở của người.
Nhiều năm trôi qua,
nhìn lại những hạn chế, khuyết điểm của 40 năm đổi mới về nội dung cán bộ trong
hệ thống chính trị của Nhà nước ta cho thấy lới dạy của Bác vẫn luôn luôn đúng
đắn./.
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KẾ CẬN TRONG
QUÁ TRÌNH XÂY DƯNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN THỜI KỲ MỚI
Thực tiễn sau 40 năm đổi
mới đã khẳng định: Trong sử dụng cán bộ phải biết phát huy khả năng của các thế
hệ, lứa tuổi, thâm niên công tác chuyên môn khác nhau. Cán bộ ở các lứa tuổi
khác nhau có trình độ năng lực, hoàn cảnh, tâm sinh lý, quá trình cống hiến
không giống nhau. Sử dụng kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ là một khía cạnh
quan trọng của nguyên tắc cơ cấu trong nghệ thuật dùng người, nhưng đây cũng là
một công việc hết sức nhạy cảm. Đối với cán bộ nhiều tuổi thì sự hạn chế của tuổi
tác dần xuất hiện, năng lực tiếp thu có hạn, thiếu năng động; thậm chí ở một số
người xuất hiện sự ghen tị, trách móc cán bộ, xuất hiện tâm lý lo sợ chuyển
sang công việc mà quyền lợi ít, lãnh đạo không coi trọng họ trong công việc...
Tuy nhiên, ở lớp người nhiều tuổi họ lại là người có nhiều kinh nghiệm trong cuộc
sống, công tác mà có thể sách vở chưa tổng kết được. Họ có sự tự trọng cao. Vì
vậy, người sử dụng cán bộ cần có biện pháp tác động phù hợp: không nên ngại giao
việc, tỏ cho họ thấy một số công việc phải có họ thì mới thực hiện tốt được;
ngay đối với người cao tuổi tỏ ra thờ ơ, cầu thả... thì cũng không nên giáo dục
họ, nhất là trước đông người, nên gặp riêng động viên để họ nêu kiến nghị, trên
cơ sở đó tìm cách giải quyết tối ưu.
Cán bộ trẻ tuy kinh
nghiệm công tác còn thiếu, nhưng họ có kiến thức tiên tiến, không bị chi phối bởi
hoàn cảnh quen thuộc, dễ nắm bắt với cái mới, lại đang sung sức, phần lớn họ đều
có tính tích cực, hăng hái, họ đều mong muốn làm cái gì đó trong hoàn cảnh mới,
cương vị mới, nên họ dễ phát hiện ra vấn đề mà người cũ không nhìn thấy, do đó
họ dám thử nghiệm những giải pháp mới, táo bạo. Cán bộ trẻ chính là lớp người
tiếp tục đưa cơ quan, đơn vị tiến lên.. Ngay từ đầu cần cho họ hiểu về cung
cách, nguyên tắc làm việc, tạo mọi điều kiện giao việc để họ thể hiện (tránh chỉ
giao việc vặt hoặc để họ ngồi nhìn người khác làm). Quản lý và giáo dục họ để
có thái độ tôn trọng mọi người, nhất là lớp người đi trước. Kết hợp cán bộ lớn
tuổi với cán bộ trẻ một cách hợp lý thì sẽ bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa
trong cơ quan, đơn vị nói riêng và toàn ngành, một đoàn thể, một địa phương nói
chung. Việc kết hợp cán bộ lớn tuổi với cán bộ trẻ, việc thay thế cả một lớp
cán bộ lớn tuổi nào đó ở từng cơ quan, đơn vị đều phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm
vụ của từng hoạt động; nhưng phần chủ động phải là từ phía những cán bộ lớn tuổi
và những lãnh đạo chủ chốt của đơn vị đó….
Ngày nay, thế giới, khu
vực có nhiều biến động, mọi lĩnh vực đều phải áp dụng công nghệ mới để điều
hành hoạt động, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Do vậy, trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý nhà nước cần thiết phải xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý
nhà nước có các thế hệ kế tiếp nhau./.
Sáng ngời chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Trải qua 81 ngày đêm chiến đấu (thời gian kéo dài gấp tám lần dự kiến ban đầu của Mỹ - ngụy), phải chịu đựng hàng trăm ngàn tấn bom đạn các loại, nhưng với ý chí “bộ đội còn, Quảng Trị còn”, nhiều trận đánh giáp lá cà để giành giật từng căn hầm, đoạn hào, điểm chốt với địch, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận Quảng Trị đã thực sự trở thành một tập thể anh hùng. Tinh thần, nghị lực, ý chí chiến đấu trong 81 ngày đêm dưới mưa bom, bão đạn khốc liệt của kẻ thù, các đơn vị bộ đội của ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường bám trụ, chốt giữ và giành giật với địch từng mét chiến hào, từng đống đổ nát; mưu trí, linh hoạt, phát hiện và tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thậm chí tiêu diệt cả những bộ phận nhỏ, lẻ, bí mật lẻn vào bằng đường hầm nhằm cắm cờ trên Thành cổ. Qua gần 3 tháng chiến đấu anh dũng, kiên cường, các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ chiến lược được giao, làm thất bại ý đồ nhanh chóng “tái chiếm Thành Cổ” của Mỹ - ngụy, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ đấu tranh chính trị, ngoại giao.
Hơn 4.000 anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu và nằm lại nơi Thành cổ, tinh thần kiên cường chiến đấu và niềm tin quyết thắng của những người lính khi tuổi còn đôi mươi đã khẳng định ý chí sắt đá của con người trước bom đạn và điều kiện sống khắc nghiệt nhất của chiến tranh. Sự hy sinh của họ là câu trả lời ngắn gọn, rõ ràng nhất, cảm động nhất, thức tỉnh lương tri nhân loại về khát vọng cháy bỏng “độc lập, tự do, thống nhất” cho cả dân tộc. Sự hy sinh ấy đã làm sáng ngời chân lý: cái chết không làm chùn bước những người con yêu nước, vũ khí của kẻ thù dù có tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí thép gang và lòng quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì độc tập, tự do là khát vọng của cả dân tộc và để có độc lập, tự do thì họ sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình, chấp nhận và khắc phục mọi khó khăn, trở ngại về điều kiện sống, như lời của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong lần về thăm Thành cổ đã viết: “Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thật sự - những con người Việt Nam, với truyền thống 4.000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”. Chính tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất và một cuộc sống hoà bình, với ý thức về cội nguồn dân tộc đã khiến sức mạnh con người chiến thắng sự tàn phá của vũ khí, bom đạn ác liệt của kẻ thù.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm oanh liệt đã góp phần quan trọng đánh bại những cố gắng cao nhất của Mỹ - ngụy, tác động trực tiếp đến Hội nghị Pari. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari được ký kết, những hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm ấy, cùng với những chiến công khác trong năm 1972 đã phần nào được hiện thực hoá trong Hiệp định. Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn phải tiếp tục đấu tranh hai năm gian khổ, mất mát, hy sinh mới tới ngày toàn thắng năm 1975 và được sống trong nền độc lập, tự do mà cả dân tộc cùng đoàn kết đồng lòng, đánh đổi bằng rất nhiều máu xương để giành lại.
Ý chí, khát vọng độc lập tự do của dân tộc được hiện thực hóa bằng sự hy sinh của quân và dân ta trong 81 ngày đêm kiên cường bám trụ bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Đó cũng là ý chí chung của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ 21 năm. Sau ngày toàn thắng 30-4-1975, non sông thu về một mối, đất nước ta bắt tay vào khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
81 ngày đêm “hoa lửa” bảo vệ Thành cổ Quảng Trị đã trở thành huyền thoại. Sự hy sinh, mất mát của quân dân cả nước nói chung, quân dân Quảng Trị nói riêng làm sáng ngời chân lý “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Từ trong bom đạn ấy, hàng nghìn tấm gương anh hùng liệt sĩ đã trở thành những bài học thực tiễn sinh động về lòng quả cảm, về chủ nghĩa yêu nước, về truyền thống anh hùng cách mạng. Trên cơ sở đó, chúng ta tiếp tục “giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”… để thế hệ trẻ hôm nay thêm tự hào, kính trọng, biết ơn lớp lớp cha anh đi trước, nguyện tiếp nối truyền thống quý báu ấy của dân tộc; đồng thời, thấm nhuần tư tưởng “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam” để đóng góp sức mình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển giàu mạnh, tự lực, tự cường
Kiên cường bám trụ, bảo vệ từng tấc đất Thành cổ
Với mục tiêu trước ngày 10-7-1972 cắm cờ lên Thành cổ để phục vụ ý đồ ép ta ở Hội nghị Pari, dự định họp lại vào ngày 13-7-1972 sau nhiều lần trì hoãn, địch điên cuồng đánh phá. Đây là cuộc hành binh đẫm máu, cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại, từ bom phá, bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade đến các loại pháo chơm, pháo khoan, chất độc hoá học và hơi ngạt… Nhằm mục đích hỗ trợ cho tinh thần quân ngụy, ngoài máy bay chiến thuật, chiến lược oanh tạc theo yêu cầu của bộ binh ở tiền duyên, Mỹ còn cho pháo hạm, pháo mặt đất tầm xa bắn tới hai vạn viên đạn suốt một ngày. Với chiến thuật “chậm chắc” mỗi khi gặp quân ta, quân địch dừng lại, đội bom, pháo vào rồi mới tổ chức tiến công tiếp.
Suốt 81 ngày đêm, ngày nào địch cũng tiến hành rất nhiều trận đánh bằng bom pháo, bằng bộ binh có xe tăng, xe thiết giáp, xe phun lửa yểm trợ cho lính dù, lính thuỷ đánh bộ, lính biệt động tiến công, chỉ xoay quanh một tòa thành không đầy 300.000m2, trong một thị xã với diện tích gần 4km2, nhà cửa đổ nát, không một bóng người… Trong khi đó, quân ta, trừ mấy tiểu đoàn của Tỉnh đội Quảng Trị, đại bộ phận đều chưa thông thạo địa hình, phải vừa đánh vừa quan sát hiệp đồng nhưng đã phát huy trí thông minh của từng cấp mà tạo ra cách đánh phù hợp, không chịu phòng thủ thụ động mà liên tục cải thiện thế phòng thủ, vừa giữ chốt vừa xuất kích phản kích, tập kích tìm địch mà đánh. Chính cách đánh sáng tạo của ta đã tạo ra “cái tốc độ rùa bò” 81 ngày đêm từ sông Mỹ Chánh tới Thành cổ của những lực lượng cơ động chiến lược hàng đầu của địch.
Trước sức mạnh tàn phá, huỷ diệt điên cuồng của địch, có ngày “địch đã trút vào mảnh đất nhỏ hẹp này 13.000 đạn pháo, hàng ngàn tấn bom… Tính bình quân, mỗi người dân phải chịu 250 quả đạn pháo”. Tuy nhiên, quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị về ý nghĩa cuộc chiến đấu ở Quảng Trị là “trận quyết chiến có tầm quan trọng lớn về chính trị và về chiến lược”, chúng ta đã kiên cường bám trụ, nhiều trận phản kích đẫm máu của bộ đội ta diễn ra dưới chân Thành cổ. Ngay từ những ngày đầu chiến dịch phòng ngự Thành cổ Quảng Trị, có thời điểm “các chiến sĩ Trung đoàn 48 đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm “1 chọi 100” đánh quỵ Lữ đoàn 2 dù”. Trong trận địa đang nghiêng ngả, chao đảo vì bom đạn của địch, bộ đội ta vẫn kiên cường đánh trả. Trong đó, “có ngày Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 3 đánh lui 13 đợt tiến công của địch. Chiến sĩ Phan Văn Ba (Tiểu đoàn 3) bị thương nát một bàn tay vẫn kiên quyết xin ở lại chiến đấu”. Tình trạng thiếu thốn, khó khăn do tiếp tế vũ khí đạn dược, hậu cần gặp khó khăn như giai đoạn “đầu tháng 8, chiến sĩ ta phải sống bằng lương khô, nước lã, bắn dè xẻn từng viên đạn trong vòng vây địch” cũng không làm nhụt ý chí, quyết tâm của bộ đội ta.
Tuy nhiên, do hỏa lực của địch quá mạnh, phòng tuyến vòng ngoài của ta bị vỡ dần. Từ đầu tháng 9-1972, cuộc chiến đấu đã diễn ra vô cùng ác liệt trong lòng thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Ta và địch giành nhau từng căn nhà, góc phố, từng mảng tường Thành cổ. Thời tiết lúc này không thuận lợi, áp thấp nhiệt đới liên tục xảy ra, nước sông Thạch Hãn dâng cao, cả thị xã chìm trong biển nước. Lợi dụng tình hình đó địch tăng cường bắn phá vào công sự của ta. Các chiến sĩ của ta vừa thay nhau tát nước chống ngập công sự, vừa chống trả địch, suốt ngày ngâm mình trong nước, ăn lương khô, uống nước lã nên sức khoẻ giảm sút, thương vong rất lớn. Trước tình thế đó, quân ta được lệnh rút lui sang sông Thạch Hãn vào 18 giờ, ngày 16-9-1972.
Từ một thị xã nhỏ ít ai biết đến, Quảng Trị trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và thế giới bởi sự hung bạo của kẻ thù và tinh thần anh dũng vô song của đồng bào, chiến sĩ ta. Địch đã huy động vào đây những sư đoàn thiện chiến nhất, những đơn vị binh chủng được trang bị tối tân, hiện đại nhất, được chi viện tối đa hỏa lực với khối lượng bom đạn tương đương “7 quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima”. Nhưng quân ta đã làm chủ thị xã trong một thời gian dài, “diệt hơn 24.000 tên địch, phần lớn là quân dù và thuỷ quân lục chiến, bắn rơi 180 máy bay, phá huỷ 140 xe quân sự trong đó có 90 xe tăng, xe bọc thép, 20 khẩu pháo cùng nhiều đồ dùng quân sự khác. Riêng lực lượng vũ trang tỉnh từ 28-6-1972 đến 16-9-1972 đã đánh 642 trận…”. Không có sự so sánh nào nói lên hết sự khốc liệt của chiến tranh nhưng “nếu đem so với tất cả các trận đánh phòng ngự đô thị đã diễn ra trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam thì đây là đợt tác chiến dài ngày nhất và cũng là quyết liệt nhất”(15). Tất cả sự hy sinh ấy đều vì độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam




