Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.
Trên thế giới, việc quy định về
đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của
Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 1 điều; Hiến pháp của Thổ Nhĩ
Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 2 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 3 điều,… quy định về
đảng chính trị(6).
Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 1 điều quy định: “Đảng Cộng
sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(7), là phù hợp với xu
hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.
Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng
Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam”(8).
Điều lệ Đảng quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo
hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy”.
Như vậy, vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ
thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức
có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng “đơn phương” quy định. Đây
là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến
pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội
nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét