Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`%
dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước.
Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày,
Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1
triệu người; 14 dân tộc dưới 10 nghìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có
mấy trăm người như dân tộc: Ơ đo, Pu
péo, Si la, Brâu, Rơ măm...
Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và
hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã
hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện
nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái,
Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết
sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.
Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt...,
do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn,
vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...
Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh
tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của
chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh
xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân
tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu
tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ
chung.
Bài viết rất hấp dẫn
Trả lờiXóa