Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là tổng thể các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức bầu cử được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, các quy tắc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đặt ra và được Nhà nước thừa nhận để cử tri thực hiện quyền ứng cử, bầu cử những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân tham gia Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được quy định bởi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (sau đây gọi là Luật Bầu cử) năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Thứ nhất, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là, các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Nguyên tắc bầu cử là những quan điểm cơ bản, có tính nền tảng của chế độ bầu cử, được thể hiện ở các quy định của pháp luật về bầu cử, có tính bắt buộc phải tuân thủ trong suốt quá trình tổ chức bầu cử. Các nguyên tắc bầu cử cơ bản bao gồm: Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mỗi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng bảo đảm cho mọi cử tri đều có khả năng như nhau trong việc tác động đến kết quả bầu cử. Đối với quyền bầu cử, công thức chung là “một người, một phiếu, một giá trị”. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện giữa các nhóm dân cư trong xã hội, giữa các đơn vị bầu cử và giữa các ứng cử viên trong cuộc bầu cử. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: Đại biểu là do dân trực tiếp bầu ra mà không qua bất kỳ một khâu trung gian nào, bảo đảm cho cử tri thể hiện trung thực, khách quan ý chí và sự tín nhiệm đối với người được bầu. Theo đó, bảo đảm bản chất dân chủ của bầu cử, tạo mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm giữa đại biểu và cử tri. Nguyên tắc bỏ phiếu kín là nguyên tắc mang tính kỹ thuật, bảo đảm cho cử tri tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình khi bỏ phiếu, ngăn ngừa mọi sự tác động, áp đặt từ bên ngoài.
Mặc dù các nguyên tắc bầu cử vẫn giữ như trước đây, nhưng nội dung và tinh thần các nguyên tắc bầu cử có sự bổ sung thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật và thực tiễn tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nguyên tắc phổ thông được mở rộng, Nhà nước tạo điều kiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử và tham gia các hoạt động bầu cử, phạm vi đối tượng không được bầu cử thu hẹp, việc hạn chế quyền bầu cử phải trên nguyên tắc pháp quyền. Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm tỷ lệ tham gia ứng cử của người dân tộc thiểu số, phụ nữ; bình đẳng trong vận động bầu cử. Quyền tự ứng cử của công dân được pháp luật ghi nhận.
Hai là, quyền bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Bầu cử và ứng cử là quyền chính trị cơ bản của công dân ở nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Bầu cử. Đây là quyền còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền mang tính toàn cầu và khu vực. Liên hợp quốc đã khẳng định: Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia(8); mọi công dân không có bất kỳ sự phân biệt và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và có cơ hội để bầu cử và ứng cử(9). Ở nước ta, việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử rộng rãi đã được thể hiện ngay từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946. Ngày nay, quyền bầu cử ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc phổ thông cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn triển khai. Việc thực thi các quyền bầu cử đã xóa bỏ sự hạn chế do phân biệt về thành phần, giai cấp, thái độ chính trị. Các trường hợp bị tước quyền bầu cử, hạn chế quyền bầu cử được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Bầu cử. Thực hiện Luật Bầu cử năm 2015, những người bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được tham gia bầu cử là điểm mới theo Luật Bầu cử năm 2015.
Ba là, đơn vị bầu cử và hệ thống bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Đơn vị bầu cử là khu vực địa lý có số dân nhất định được bầu một số lượng đại biểu nhất định. Nguyên tắc cơ bản của việc phân chia đơn vị bầu cử là bảo đảm sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện và giá trị phiếu bầu. Sự chênh lệch chỉ cho phép trong phạm vi tỷ lệ dung sai nhất định. Hệ thống bỏ phiếu đa số tuyệt đối hay vòng tiếp tục được kế thừa và áp dụng, nhưng cách thức phân chia, tổ chức đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội có sự thay đổi mạnh mẽ thể hiện sự đổi mới nhằm tăng tính cạnh tranh, khắc phục tính hình thức trong bầu cử. Các đơn vị bầu cử được thu hẹp phạm vi, chỉ bầu ba đại biểu, nhằm đề cao trách nhiệm đại biểu, tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri. Từ 79 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (năm 1976), 93 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII (năm 1981) tăng gần gấp đôi thành 167 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và 158 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX (năm 1992). Luật Bầu cử năm 2015 đã kế thừa và quy định cụ thể hơn về số đại biểu Quốc hội được bầu, số dư người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đã góp phần làm cho bầu cử thực chất hơn (khóa XIV có 870 ứng viên, bầu 500 đại biểu (gấp 1,74 lần).
Bốn là, quy trình thủ tục bầu cử. Quy trình thủ tục bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân là các bước triển khai tổ chức cuộc bầu cử từ khi công bố ngày bầu cử đến khi xác định kết quả bầu cử. Pháp luật về bầu cử ở nước ta quy định quy trình, thủ tục gồm các bước sau:
- Giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân bao gồm các công việc: Dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng người ứng cử và hiệp thương bầu cử. Cơ cấu thành phần và số lượng là vấn đề trọng tâm của bầu cử, nhằm bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân. Về mặt pháp lý, nội dung này được định hướng thông qua công tác dự kiến và được quyết định tại các hội nghị hiệp thương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì.
- Vận động bầu cử: Là giai đoạn quan trọng để các ứng viên quảng bá chương trình hành động của mình đến với công chúng, từ đó xây dựng hình ảnh và uy tín chính trị nhằm nhận được sự ủng hộ của cử tri. Pháp luật bầu cử nước ta quy định hai hình thức vận động bầu cử là gặp gỡ tiếp xúc cử tri và trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Bỏ phiếu, kiểm phiếu và giám sát bầu cử: Quy trình bỏ phiếu, kiểm phiếu được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, giám sát bầu cử có tác dụng phát hiện, hạn chế những tùy tiện, sai sót, vi phạm, gian lận trong bầu cử, bảo đảm tính trung thực, công khai, minh bạch của bầu cử.
- Quản lý bầu cử: Tổ chức bầu cử là công việc nhạy cảm về chính trị và phức tạp về kỹ thuật nên công tác tổ chức và quản lý bầu cử đóng vai trò hết sức quan trọng. Ở nước ta, công tác tổ chức và quản lý bầu cử là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử: Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử có vai trò ngăn ngừa, khắc phục kịp thời các vi phạm, bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra theo đúng các nguyên tắc và tiêu chí dân chủ, phù hợp với Hiến pháp và Luật Bầu cử. Ở nước ta, các tổ chức phụ trách bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử theo cơ chế hành chính. Cơ chế tư pháp (thông qua tòa án nhân dân cấp huyện) chỉ áp dụng đối với khiếu kiện của công dân về việc đăng ký cử tri. Quy trình thủ tục bầu cử đã được cải tiến, đổi mới từng bước qua việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử và cải tiến cách thức tổ chức triển khai bầu cử. Hiệp thương bầu cử được cải tiến theo hướng dân chủ dựa trên quan điểm đề cao vai trò của cử tri tham gia vào bầu cử, tôn trọng ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú. Các quy định cụ thể, các bước hiệp thương bầu cử tiếp tục được quy định cụ thể và thực chất hơn. Về mặt pháp lý, vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hiệp thương bầu cử được đề cao. Nội dung hiệp thương không chỉ giới hạn trong việc giới thiệu nhân sự ứng cử mà còn thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu trên cơ sở số đủ dự kiến và có quyền biểu quyết lựa chọn người để giới thiệu ứng cử. Quy trình hiệp thương 5 bước đã góp phần nâng cao chất lượng người ứng cử. Đồng thời, bảo đảm tỷ lệ người tham gia ứng cử và tỷ lệ thích đáng đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, đại biểu là nữ,...
Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử.
Bầu cử và đảng chính trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở các nước, các đảng chính trị chỉ có thể trở thành đảng cầm quyền khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Do vậy, các đảng chính trị đã chuyển hóa bầu cử, ứng cử thành công cụ để tranh cử và thắng cử đóng vai trò then chốt trong bầu cử. Ở các nước này “Hoạt động tranh cử... về hình thức là cuộc ganh đua giữa các cá nhân, song thực chất là cuộc chạy đua giữa các đảng phái”(10). Ở nước ta, khi chưa giành được chính quyền, Đảng đã tham gia vận động bầu cử, tranh cử trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936 - 1939). Năm 1945, mặc dù tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Đảng vẫn giới thiệu được các đảng viên tham gia tranh cử và lãnh đạo thành công công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sau khi giành được chính quyền, Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vị thế đó được Hiến pháp ghi nhận. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử thể hiện qua việc đề ra chủ trương và lãnh đạo Nhà nước xây dựng, đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử; định ra chủ trương lớn có tính định hướng để tổ chức các cuộc bầu cử; lãnh đạo Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia tổ chức bầu cử; lãnh đạo khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử; xây dựng chính quyền. Đảng tham gia cuộc bầu cử qua việc bồi dưỡng, giới thiệu đảng viên ứng cử; tham gia công tác hiệp thương, tuyên truyền, vận động bầu cử. Giới thiệu đảng viên ứng cử là con đường duy nhất của đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước một cách chính đáng và hợp pháp, hiện thực hóa sự lãnh đạo qua Nhà nước, duy trì, củng cố vị thế lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc bầu cử. Đảng lãnh đạo bầu cử và tham gia bầu cử trên cơ sở pháp luật. Các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch theo các trình tự, thủ tục do luật định về bầu cử là đòi hỏi trước tiên về việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta./.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Bài viết rất hữu ích cho mọi người
Trả lờiXóa